2022-12-31

Một công dân thế giới trong quán cà phê - O. Henry

2022-12-31

Một công dân thế giới trong quán cà phê
A person with a mustache

Description automatically generated with medium confidence

O. Henry

 

Người dịch: NGUYỄN MẠNH CHƯƠNG

~

. Thiệp chúc mừng năm mới của “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” gửi đến cộng đồng BelUnion do phần mềm trí tuệ nhân tạo DALL·E vẽ

. Một công dân thế giới trong quán cà phê (Người dịch: NGUYỄN MẠNH CHƯƠNG)

. A COSMOPOLITE IN A CAFÉ (Bản gốc tiếng Anh của tác giả O. Henry. Nguồn: https://www.gutenberg.org/)

~

Trước thềm năm mới 2023, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” trân trọng gửi đến tất cả các thành viên của BelUnion, đến gia đình, người thân, bạn hữu gần xa của anh/chị: Chúc mừng năm mới! Bonne année! Happy New Year!

2022-12-31 Happy New Year Belgium and Vietnam

Bức tranh trên mô tả một cách siêu thực quang cảnh năm mới 2023 lồng ghép hai nước Bỉ và Việt Nam.

(Credit: DALL·E; Craiyon)

-

Thế còn nơi mà chúng ta tu nghiệp thì năm mới 2023 sẽ như thế nào? Mời anh/chị thưởng ngoạn các bức tranh năm mới 2023 do phần mềm trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence) vẽ thông qua công cụ trực tuyến Craiyon theo phong cách của các họa sỹ, nghệ sỹ của Bỉ.

2023 New Year at Charleroi Universite de Travail by Rene Magritte

Quang cảnh trường Université du Travail Paul Pastur đầu năm 2023 phác họa theo phong cách của René Magritte. René Magritte (1898 –1967) là một nghệ sĩ theo trường phái siêu thực người Bỉ, nổi tiếng với việc tạo ra một số hình ảnh dí dỏm và kích thích tư duy.

-

Graphical user interface

Description automatically generated

2023 New Year at Institut Superieur Industriel de Tournai by Fernand Khnopff

Trường Institut Supérieur Industriel de Tournai ngày 1/1/2023 vẽ theo phong cách của Fernand Khnopff. Fernand Khnopff (1858 –1921) là một họa sĩ trường phái tượng trưng người Bỉ.

-

A picture containing text, window, indoor

Description automatically generated

2023 New Year at Polytechnique de Mons by Felicien Rops

Quang cảnh trường và khu học xá Polytechnique de Mons phác họa theo phong cách của Félicien Rops. Félicien Rops (1833 – 1898) là một nghệ sĩ người Bỉ gắn liền với Chủ nghĩa tượng trưng. Ông vừa là một họa sĩ, người vẽ tranh minh họa, người vẽ tranh biếm họa và là một nhà sản xuất tranh theo kỹ thuật intaglio (in khắc chìm).

-

2023 New Year at Universite catholique de Louvain by Panamarenko

Trường Université catholique de Louvain trong tuyết lạnh đầu năm 2023 được vẽ theo phong cách của Panamarenko. Henri Van Herwegen (1940 –2019), được biết đến với bút danh Panamarenko, là một nhà điêu khắc, nhà lắp ghép nổi tiếng người Bỉ.

-

A picture containing diagram

Description automatically generated

2023 New Year at Universite de Liege by Paul Delvaux

Trường Université de Liège đầu năm 2023 nhưng được mô phỏng bởi quang cảnh cổ đại mộng mơ theo phong cách của Paul Delvaux. Paul Delvaux (1897 –1994) là một họa sĩ người Bỉ nổi tiếng với những cảnh đẹp như mơ của phụ nữ, kiến trúc cổ điển, xe lửa và nhà ga, và những bộ xương, thường kết hợp với nhau. Ông thường được coi là một người theo chủ nghĩa siêu thực, mặc dù chỉ gắn với phong trào Siêu thực trong một thời gian ngắn.

-

A person sitting in a room

Description automatically generated with low confidence

2023 New Year at Universite Libre de Bruxelles by Luc Tuymans

Trường Université Libre de Bruxelles đầu năm 2023 nhưng được phác họa tượng trưng bởi Luc Tuymans. Luc Tuymans (sinh ngày 14 tháng 6 năm 1958) là một nghệ sĩ thị giác người Bỉ nổi tiếng với những bức tranh khám phá mối quan hệ của con người với lịch sử.

~

Cuối cùng, trong lúc chờ đến giao thừa, vừa đọc tác phẩm của O. Henry vừa để nhạc nền, mời anh/chị thưởng thức bộ sưu tập nhạc Jazz cổ điển có tên là Dixieland: https://www.youtube.com/watch?v=vghw4y019so. Hy vọng là nhạc Jazz sẽ làm cho không gian của anh/chị trở nên yên bình, thư thả, dịu êm để đón chào năm mới với nhiều điều tốt đẹp đang đợi chờ ở phía trước.

-:-

➖➖➖

 


 

Một công dân thế giới trong quán cà phê

Người dịch: NGUYỄN MẠNH CHƯƠNG

Đã nửa đêm, quán cà phê đông nghịt người. Cũng may cái bàn nhỏ nơi tôi ngồi lại khuất mắt người ra vào, còn hai ghế trống như mời mọc mua chuộc khách hàng đang đổ vào quán.

Thế rồi một công dân thế giới ngồi vào một chiếc, còn tôi thì vui vì tôi quan niệm rằng kể từ khi có Adam đến nay, trên thế giới chưa có một công dân thật sự nào tồn tại cả. Chúng ta có nghe nói đến họ, chúng ta có nhìn thấy những mác nhãn hiệu nước ngoài trên vô vàn những gói hành lý, nhưng chúng ta chỉ thấy du khách, chứ chưa thấy những công dân thế giới.

Tôi xin mô tả cảnh nơi đây để các vị chú ý – đó là những chiếc bàn mặt lát đá cẩm thạch, một loạt những hàng ghế bọc da kê sát tường, đám đông vui vẻ huyên náo, các cô các bà trang điểm nửa quê nửa tỉnh, đồng thanh bàn đến những chuyện rõ ràng là tế nhị về sở thích, kinh tế, sự giàu có hoặc nghệ thuật, những anh chàng kỹ tính và ưa hào phóng, nhạc xập xình khôn khéo chiều đủ mọi người, tấn công vào tất cả các nhà soạn nhạc; tiếng cười nói pha trộn vào nhau và nếu bạn thích thì những cốc rượu cao chứa đầy rượu Wurzburger sẽ làm mềm môi bạn như quả anh đào chín mọng đung đưa trên cành như mời chào con chim giẻ cùi muốn ăn trộm. Có một nhà điêu khắc vùng Mauch Chunk nói với tôi rằng cảnh này y hệt cảnh Paris.

Người công dân thế giới của tôi có tên là E. Rushmore Coglan và mùa hè năm sau mọi người sẽ nghe đến tên anh ta ở trên Đảo Coney [1]. Anh ta chuẩn bị thành lập ‘một khu nghỉ mát’ mới ở đó. Anh ta thông báo với tôi như vậy mà, chẳng qua chỉ để đánh lạc hướng tỏ ra ta đây là con nhà quyền quý. Thế rồi cuộc đối thoại của anh ta vang lên những câu chữ nói đến kinh tuyến, vĩ tuyến. Có thể nói như vậy là anh ta đã nắm cả thế giới trong lòng bàn tay của mình rồi còn gì, nắm một cách quen thuộc và khinh thường, cứ như nó không to hơn cái hạt quả anh đào xứ Maraschino trong chùm quả bày trong bữa ăn theo suất. Anh ta nói về quỹ đạo một cách khinh thị, luyên thuyên hết đại lục này đến đại lục khác, chế nhạo các vùng miền, nói về biển mà cứ như chỉ vẩy chiếc khăn ăn một cái là có thể chùi sạch tất cả biển khơi ấy. Anh ta vung tay chân nói về một cái chợ ở Hyderabad [2]. Vù một cái! Anh ta đã đưa ta trên bàn xe trượt tuyết đến Lapland [3]. Vèo một cái! Ta đã cưỡi trên những chiếc xe phá băng cùng với người Kanaka [4] ở Kealaikahiki. Vụt một cái! Anh ta đã lôi bạn xềnh xệch qua vùng đầm lầy Arkansas toàn gỗ sồi, rồi để bạn phơi mình cho khô ráo một chút trên bình nguyên có chất kiềm nằm trên trang trại Idaho của anh ta, rồi anh ta lại cuỗm bạn bay vụt đi đến gặp giới thượng lưu gồm toàn những công hầu bá tước chủ chốt của thành Viên. Ngay lập tức sau đó anh ta lại kể cho ta nghe về chứng cảm lạnh mà anh ta mắc phải trong một cơn gió nhẹ trên hồ Chicago và làm thế nào ông già Escamila có thể chữa khỏi chứng cảm lạnh đó ở Buenos Ayres bằng việc ngâm dược thảo Chuchula trong nước nóng. Chắc có lẽ ta phải đề thư là gửi cho ‘Ngài E. Rushmore Coglan, Trái Đất, Thái Dương Hệ, Vũ Trụ’ và gửi đi, trong lòng cảm thấy tin tưởng rằng lá thư đó sẽ đến được tay anh ta.

Tôi chắc mẩm là cuối cùng mình đã tìm thấy một công dân thế giới thật sự kể từ thời có Adam, và tôi ngồi lắng nghe cuộc diễn ngôn về năm châu bốn biển của anh ta mà cứ lo là mình có thể phát hiện ra trong cuộc nói chuyện đó một giọng bản xứ của một anh chàng thuần túy là kẻ lang thang khắp đó đây mà thôi. Nhưng những ý nghĩ của anh ta không bao giờ xao xuyến hoặc tỏ ra chán nản cả; anh ta nói chuyện về những thành phố, những quốc gia và những đại lục cũng vô tư như nói chuyện về gió hoặc về lực hấp dẫn, chẳng một chút bận tâm.

Khi nghe ngài E. Rushmore Coglan huyên thuyên về hành tinh nhỏ bé thì tôi sung sướng nghĩ về một người gần như là công dân thế giới vĩ đại, người đã viết cho toàn thế giới và đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho thành phố Bombay. Trong một bài thơ, ông ta đã phải phát biểu rằng giữa các thành phố và trái đất có niềm tự hào và sự cạnh tranh và rằng ‘con người được nuôi dưỡng từ những nơi đó, đi lại tấp nập, bám riết vào rìa những thành phố của mình như đứa trẻ bám lấy váy của mẹ chúng’. Rồi cứ khi nào họ đi ‘trong những đường phố không quen biết, ầm ầm’, họ đều nhớ đến thành phố quê hương của mình ‘một cách thủy chung, điên rồ, đáng yêu nhất; làm cho cái tên thuần tuý tự nhiên như hơi thở ấy trở nên ràng buộc thân thiết biết bao’. Rồi niềm vui sướng của tôi được khơi dậy bởi vì tôi đã bắt gặp thấy ông Kipling ngủ trưa. Tại đây tôi đã phát hiện ra một người không phải sinh ra từ tro bụi; một người không hẹp gì lời tán dương về nơi ngụ cư hoặc về đất nước, một người mà dù cho có huênh hoang đi nữa thì cũng là huênh hoang về quả địa cầu của mình để chống lại những người trên Sao Hỏa hoặc những người dân sống trên Mặt Trăng.

Những chủ đề mà E. Rushmore Coglan đang diễn đạt bị ngưng đọng lại bởi cái góc thứ ba bên cái bàn chỗ chúng tôi ngồi. Trong lúc Coglan đang mô tả cho tôi nghe về địa hình dọc theo con Đường sắt Siberi thì ban nhạc trôi vào loạn xạ. Bản nhạc jazz ‘Dixie’ với những nốt nhạc reo vui phấn chấn nổi lên như để kết thúc thì chúng liền bị hàng tràng pháo tay vỗ râm ran vang lên từ mọi bàn trong phòng nhấn chìm.

Cảnh tượng tuyệt vời đó được chứng kiến hàng tối ở vô vàn các quán cà phê của Thành phố New York, cho nên có tốn đến hàng đoạn văn để mô tả thì cũng đáng lắm. Hàng tấn bia đã được sử dụng hết trong lúc ngồi tán gẫu về những lý lẽ nhằm biện minh cho điều đó. Có người vội vã đoán rằng người Phương Nam trong thành phố nhanh chân đi đến quán cà phê vào lúc trời chạng vạng. Kiểu tán dương về bầu không khí ‘nổi loạn’ ở một thành phố Phương Bắc cũng gây bối rối đôi chút; nhưng như thế không thể là không giải quyết được. Cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha, nhà máy đúc tiền hào phóng và mùa thu hoạch dưa hấu trong bao năm, một vài người trúng thưởng bằng bất cứ phương cách nào trên đường đua ngựa và những bữa tiệc tuyệt vời do những công dân bang Indiana và Kansas chiêu đãi, những người đã sáng lập ra Hội Bắc Carolina, tất cả đã làm cho Phương Nam tương đối ‘thời thượng’ ở Manhattan. Cô thợ sửa cắt móng tay chân của bạn sẽ xì xào cho rằng ngón tay trái của bạn khiến cho cô ta lại nhớ đến ngón tay của một vị quý phái nào ở Richmond, bang Virginia. Ôi, rõ ràng là thế rồi; nhưng ngày nay nhiều phụ nữ đã phải làm việc, vì các bạn biết đấy, có chiến tranh mà.

Khi bản nhạc jazz ‘Dixie’ đang vang lên thì không biết từ đâu, một anh thanh niên tóc đen bỗng nhổm phắt dậy, thét lên tiếng của người du kích thuộc đơn vị của đại tá Mosby [5] và vung chiếc mũ rộng vành như điên như dại. Rồi anh ta loạng choạng bước trong khói thuốc và thả mình xuống chiếc ghế trống không bên bàn chỗ chúng tôi ngồi và rút thuốc lá ra hút.

Buổi tối đó là thời gian khi mà sự dè dặt không còn nữa. Một người trong chúng tôi gọi hầu bàn mang lại ba cốc rượu Wurzburger; anh thanh niên tóc đen nhận ra là mình cũng có phần trong đó nên nở nụ cười, gật đầu tán thưởng. Tôi vội hỏi anh ta một câu vì tôi muốn thử lý lẽ đã có sẵn của mình.

- Anh làm ơn nói cho tôi biết là anh từ đâu tới…

Nắm tay của E. Rushmore Coglan đấm mạnh xuống bàn khiến tôi phải câm miệng ngay.

- Xin lỗi, nhưng đó là câu hỏi mà tôi không bao giờ muốn nghe cả. Việc một người từ đâu tới có gì là hệ trọng cơ chứ? Liệu đánh giá một con người qua địa chỉ thư tín như vậy có công bằng không? Này, tôi đã gặp những người bang Kentucky rất ghét rượu whisky đấy, người bang Virginia không phải là hậu duệ của công chúa Pocahontas [6] , người bang Indiana đâu có viết tiểu thuyết, người bang Mexico không mặc quần nhung có đính đồng đô la dọc theo đường mối khâu, người Anh hài hước, người Yankee hoang toàng, người Phương Nam khát máu, người Phương Tây hẹp hòi và người New York thì quá bận rộn nên chẳng có thì giờ để dừng chân trên đường phố lấy một tiếng đồng hồ ngắm nhìn anh nhân viên bán rau xanh cụt một tay đang nhét những quả nham lê đỏ vào những túi giấy. Hãy mặc thây họ, là ai cũng được, chứ đừng có dán cho anh ta cái nhãn hiệu để ấn định anh ta là người ở đâu, khiến cho anh ta bị đẩy vào tình thế bất lợi.

- Tôi xin lỗi – Tôi nói – nhưng sự tò mò của tôi đâu có hoàn toàn là tò mò vô căn cứ. Tôi biết Phương Nam nên khi ban nhạc chơi bài ‘Dixie’, tôi đã thích được quan sát. Tôi đã hình thành nên một niềm tin rằng ai mà đi ca ngợi cái bầu không khí đó một cách vô cùng dữ dội và tỏ ra trung thành một cách lộ liễu địa phương mình thì rõ ràng anh ta là người địa phương hoặc ở Secaucus, bang New Jersey hoặc ở quận nằm giữa Tổ chức giảng văn học Murray Hill và dòng sông Harlem tại thành phố này. Tôi phải thừa nhận rằng tôi còn đang định mang ý nghĩ của mình ra thử xem bằng cách đặt câu hỏi về anh chàng quý phái nọ thì anh đi nói chen vào bằng việc đưa ra lý luận của riêng anh, nghe quan trọng hơn.

Lúc này anh chàng tóc đen nói với tôi. Rõ ràng đầu óc anh ta cũng chuyển động theo mạch của riêng nó đấy chứ.

- Tôi rất muốn mình là một cây dừa cạn – Anh ta nói một cách huyền bí – nằm trên đỉnh một thung lũng và líu ríu câu too-ralloo-ralloo.

Rõ ràng là khó hiểu quá nên tôi quay lại Coglan.

- Tôi đã chu du vòng quanh trái đất này đến mười hai lần. Tôi biết có một người Esquimau ở Upernavik đã đặt mua những chiếc cà vạt ở tận Cincinnati, và tôi đã nhìn thấy một người chăn dê ở Uruguay đã giành giải thưởng trong một cuộc thi đố trò chơi trắc nghiệm kiến thức về thức ăn sáng mang tên Battle Creek. Tôi đã trả tiền thuê phòng ở Cairo, Ai Cập và một phòng ở Yokohama cho quanh năm. Những đôi dép đi trong nhà đã được đặt sẵn cho tôi trong quán trà ở Thượng Hải và tôi không cần phải bảo họ cách nấu những quả trứng ở Rio de Janeiro hoặc ở Seattle. Thật đúng là một thế giới cổ xưa nhỏ bé vô cùng. Vậy nên khi ta huênh hoang là từ Phương Bắc, hay từ Phương Nam, hoặc từ trong một ngôi biệt thự trong thung lũng hoặc ở trên Đại lộ Euclid, bang Cleveland, hoặc ở Pike’s Peak [7] hoặc Quận Fairfax, bang Virginia, hoặc những căn hộ của những kẻ côn đồ hoặc ở bất cứ nơi nào, phỏng có ích gì? Sẽ là một thế giới tốt đẹp hơn nếu như ta thôi không loăng quăng ở cái thành phố bị nhiễm mốc sương nào đó hoặc ở vùng đầm lầy rộng hàng chục mẫu chỉ vì ta tình cờ sinh ra ở đó.

- Anh đúng là một công dân thế giới thực sự rồi – Tôi nói một cách thán phục – Nhưng dường như là anh cũng thường hay chê bai lòng yêu nước thì phải.

- Một di tích của thời kỳ đồ đá – Coglan tuyên bố một cách hùng hồn – Tất cả chúng ta đều là anh em, dù là người Trung Hoa, người Anh quốc, người Zulu, người Patagonia [8] và người ở khúc quanh của dòng sông Kaw. Đến một ngày nào đó tất cả những niềm tự hào đẹp đẽ này về thành phố, bang hoặc miền hoặc đất nước của ai đó sẽ bị xóa sạch và tất cả chúng ta trở thành những công dân trên thế giới như bổn phận phải thế.

- Nhưng trong lúc anh đi lang thang ở những nước xa lạ, thế chẳng phải những suy nghĩ của anh không hướng về một nơi nào đó… một nơi thân yêu và… sao? – Tôi khăng khăng hỏi.

- Không mảy may một nơi nào cả – E. R. Coglan ngắt lời một cách khiếm nhã – cái khối vật chất gọi là quả đất, địa cầu hay hành tinh, hơi dẹt ở hai cực và được biết đến như là Trái Đất, chính là nơi tôi cư ngụ đấy. Tôi đã gặp gỡ không biết bao nhiêu công dân chạy theo vật chất của đất nước này ở nước ngoài. Tôi đã nhìn thấy những người dân bang Chicago ngồi trên chiếc thuyền gondola ở thành phố Venice vào một đêm trăng và ba hoa về con kênh thoát nước của họ. Tôi đã chứng kiến một người dân Phương Nam được dẫn đến bái kiến nhà vua nước Anh và anh ta thản nhiên trao cho vị hoàng đế thông tin là bà họ ngoại của anh ta có dây mơ rễ má về mặt hôn nhân với gia tộc Perkins của Charleston. Tôi có quen một người New York bị bọn thổ phỉ Afghanistan bắt cóc đòi tiền chuộc. Người của anh ta gửi tiền đến và anh ta trở về Kabul cùng với người đại diện. “Những người Afghanistan ư?” – những người bản xứ nói với anh ta qua phiên dịch. “Thôi được, cũng không đến nỗi chậm đấy chứ?” “Hừm, tôi không biết”, anh ta nói và bắt đầu kể lại cho bọn họ nghe về người lái xe tắc-xi trên Đại lộ Sáu và Đại lộ Broadway. Những ý nghĩ đó không hợp với tôi. Tôi đâu có bị trói buộc vào bất cứ điều gì không có đường kính là 8.000 dặm. Hãy cứ ghi tên tôi là E. Rushmore Coglan, người công dân của quả địa cầu.

Người công dân thế giới của tôi huênh hoang chào từ biệt tôi và bỏ đi vì anh ta nghĩ rằng anh ta đã gặp một ai đó qua cuộc đối thoại và qua hơi khói thuốc lá mà anh ta quen biết. Thế là tôi trơ khấc ngồi lại với cây dừa cạn tương lai, người đã say mềm rượu Wurzburger đến nỗi không còn khả năng nói lên khát vọng của mình là được đứng chót vót trên đỉnh một thung lũng, du dương trong gió.

Tôi ngồi suy tưởng về người công dân thế giới hiển nhiên của tôi và thắc mắc là làm cách nào nhà thơ lại có thể để mất anh ta được. Anh ta là sự khám phá của tôi và tôi tin anh ta. Làm thế nào nhỉ? ‘Con người được nuôi dưỡng từ đó, đi lại tấp nập, bám riết vào rìa những thành phố của mình như đứa trẻ bám lấy váy của mẹ chúng.’

Đối với E. Rushmore Coglan thì không phải vậy. Với việc toàn thế giới dành cho anh ta…

Tôi còn đang trầm tư mặc tưởng thì có một tiếng ồn thật to vang lên làm ngắt mất dòng suy tư và cuộc đụng độ xảy ra ở bên phần kia của quán cà phê. Tôi nhìn vượt lên trên những cái đầu của những ông bầu đang ngồi trên ghế thì thấy E. Rushmore Coglan đang đánh nhau ác liệt với một người lạ mặt. Họ đánh nhau giữa những cái bàn trông như những Titan [9], và thế là cốc chén kêu loảng xoảng. Hai người vồ lấy mũ của nhau và quật ngã nhau xuống đất, có tiếng thét của một cô gái có bộ tóc đen, trong khi đó cô gái có bộ tóc sáng lại cất tiếng hát bài ‘Teasing’.

Người công dân của thế giới còn đang bênh vực lòng kiêu hãnh và danh tiếng của Trái Đất thì những người hầu bàn xiết chặt lấy vòng vây hai người theo đội hình tam giác nổi tiếng và đẩy họ lui ra ngoài, thế mà họ vẫn còn nện nhau.

Tôi gọi McCathy, một anh chàng người Pháp, và hỏi nguyên nhân cuộc ẩu đả.

- Người có chiếc cà vạt đỏ (đó là người công dân thế giới của tôi đấy) nói rằng anh ta thấy nóng rực người lên khi nghe anh chàng kia nói đến những vỉa hè xấu xí và việc cung cấp nước tồi tệ ở cái nơi mà anh ta xuất thân.

- Trời, anh ta là công dân thế giới cơ mà, vậy… – Tôi kêu lên ngỡ ngàng.

- Anh chàng kia cứ lải nhải là anh ta bắt nguồn từ Mattawamkeag, xứ Maine – McCathy nói tiếp – và thế là anh này không chịu nổi sự lăng mạ nơi mình ở.

--------------------------------

Chú thích của dịch giả:

[1]       Một hòn đảo nằm ngoài khơi bờ nam Long Island (những chú thích không có ghi chú gì thêm đều là của dịch giả).

[2]       Một bang trước đây ở miền nam Ấn Độ, nay thuộc bang Andhra Pradesh.

[3]       Một vùng ở Bắc Na Uy, Bắc Thuỵ Điển, Bắc Phần Lan, có người Lapp cư ngụ.

[4]       Người dân Nam Thái Bình Dương.

[5]       John Singleton Mosby, 1833-1916, đại tá liên bang trong cuộc nội chiến ở Mĩ.

[6]       Công chúa Pocahontas, 1595-1617, con tù trưởng da đỏ Wahun Sosasook của một liên hiệp bộ tộc da đỏ, người đã kết hôn với một thực dân Anh. Người ta cho rằng nàng đã cứu thuyền trưởng John Smith.

[7]       Một ngọn núi ở trung tâm bang Colorado, thuộc dãy Rockies.

[8]       Vùng cao nguyên khô cằn ở cực nam của Argentina.

[9]       Theo thần thoại Hy Lạp, đó là tên gọi những người con của Thần Uranus – Thần Bầu Trời – và Thần Gaea – Thần Đất.

➖➖➖


 

A COSMOPOLITE IN A CAFÉ

Bản gốc tiếng Anh của tác giả O. Henry.

Nguồn: https://www.gutenberg.org/

~

At midnight the café was crowded. By some chance the little table at which I sat had escaped the eye of incomers, and two vacant chairs at it extended their arms with venal hospitality to the influx of patrons.

And then a cosmopolite sat in one of them, and I was glad, for I held a theory that since Adam no true citizen of the world has existed. We hear of them, and we see foreign labels on much luggage, but we find travellers instead of cosmopolites.

I invoke your consideration of the scene—the marble-topped tables, the range of leather-upholstered wall seats, the gay company, the ladies dressed in demi-state toilets, speaking in an exquisite visible chorus of taste, economy, opulence or art; the sedulous and largess-loving garçons, the music wisely catering to all with its raids upon the composers; the mélange of talk and laughter—and, if you will, the Würzburger in the tall glass cones that bend to your lips as a ripe cherry sways on its branch to the beak of a robber jay. I was told by a sculptor from Mauch Chunk that the scene was truly Parisian.

My cosmopolite was named E. Rushmore Coglan, and he will be heard from next summer at Coney Island. He is to establish a new “attraction” there, he informed me, offering kingly diversion. And then his conversation rang along parallels of latitude and longitude. He took the great, round world in his hand, so to speak, familiarly, contemptuously, and it seemed no larger than the seed of a Maraschino cherry in a table d’hôte grape fruit. He spoke disrespectfully of the equator, he skipped from continent to continent, he derided the zones, he mopped up the high seas with his napkin. With a wave of his hand he would speak of a certain bazaar in Hyderabad. Whiff! He would have you on skis in Lapland. Zip! Now you rode the breakers with the Kanakas at Kealaikahiki. Presto! He dragged you through an Arkansas post-oak swamp, let you dry for a moment on the alkali plains of his Idaho ranch, then whirled you into the society of Viennese archdukes. Anon he would be telling you of a cold he acquired in a Chicago lake breeze and how old Escamila cured it in Buenos Ayres with a hot infusion of the chuchula weed. You would have addressed a letter to “E. Rushmore Coglan, Esq., the Earth, Solar System, the Universe,” and have mailed it, feeling confident that it would be delivered to him.

I was sure that I had found at last the one true cosmopolite since Adam, and I listened to his worldwide discourse fearful lest I should discover in it the local note of the mere globe-trotter. But his opinions never fluttered or drooped; he was as impartial to cities, countries and continents as the winds or gravitation.

And as E. Rushmore Coglan prattled of this little planet I thought with glee of a great almost-cosmopolite who wrote for the whole world and dedicated himself to Bombay. In a poem he has to say that there is pride and rivalry between the cities of the earth, and that “the men that breed from them, they traffic up and down, but cling to their cities’ hem as a child to the mother’s gown.” And whenever they walk “by roaring streets unknown” they remember their native city “most faithful, foolish, fond; making her mere-breathed name their bond upon their bond.” And my glee was roused because I had caught Mr. Kipling napping. Here I had found a man not made from dust; one who had no narrow boasts of birthplace or country, one who, if he bragged at all, would brag of his whole round globe against the Martians and the inhabitants of the Moon.

Expression on these subjects was precipitated from E. Rushmore Coglan by the third corner to our table. While Coglan was describing to me the topography along the Siberian Railway the orchestra glided into a medley. The concluding air was “Dixie,” and as the exhilarating notes tumbled forth they were almost overpowered by a great clapping of hands from almost every table.

It is worth a paragraph to say that this remarkable scene can be witnessed every evening in numerous cafés in the City of New York. Tons of brew have been consumed over theories to account for it. Some have conjectured hastily that all Southerners in town hie themselves to cafés at nightfall. This applause of the “rebel” air in a Northern city does puzzle a little; but it is not insolvable. The war with Spain, many years’ generous mint and watermelon crops, a few long-shot winners at the New Orleans race-track, and the brilliant banquets given by the Indiana and Kansas citizens who compose the North Carolina Society have made the South rather a “fad” in Manhattan. Your manicure will lisp softly that your left forefinger reminds her so much of a gentleman’s in Richmond, Va. Oh, certainly; but many a lady has to work now—the war, you know.

When “Dixie” was being played a dark-haired young man sprang up from somewhere with a Mosby guerrilla yell and waved frantically his soft-brimmed hat. Then he strayed through the smoke, dropped into the vacant chair at our table and pulled out cigarettes.

The evening was at the period when reserve is thawed. One of us mentioned three Würzburgers to the waiter; the dark-haired young man acknowledged his inclusion in the order by a smile and a nod. I hastened to ask him a question because I wanted to try out a theory I had.

“Would you mind telling me,” I began, “whether you are from—”

The fist of E. Rushmore Coglan banged the table and I was jarred into silence.

“Excuse me,” said he, “but that’s a question I never like to hear asked. What does it matter where a man is from? Is it fair to judge a man by his post-office address? Why, I’ve seen Kentuckians who hated whiskey, Virginians who weren’t descended from Pocahontas, Indianians who hadn’t written a novel, Mexicans who didn’t wear velvet trousers with silver dollars sewed along the seams, funny Englishmen, spendthrift Yankees, cold-blooded Southerners, narrow-minded Westerners, and New Yorkers who were too busy to stop for an hour on the street to watch a one-armed grocer’s clerk do up cranberries in paper bags. Let a man be a man and don’t handicap him with the label of any section.”

“Pardon me,” I said, “but my curiosity was not altogether an idle one. I know the South, and when the band plays ‘Dixie’ I like to observe. I have formed the belief that the man who applauds that air with special violence and ostensible sectional loyalty is invariably a native of either Secaucus, N.J., or the district between Murray Hill Lyceum and the Harlem River, this city. I was about to put my opinion to the test by inquiring of this gentleman when you interrupted with your own—larger theory, I must confess.”

And now the dark-haired young man spoke to me, and it became evident that his mind also moved along its own set of grooves.

“I should like to be a periwinkle,” said he, mysteriously, “on the top of a valley, and sing tooralloo-ralloo.”

This was clearly too obscure, so I turned again to Coglan.

“I’ve been around the world twelve times,” said he. “I know an Esquimau in Upernavik who sends to Cincinnati for his neckties, and I saw a goat-herder in Uruguay who won a prize in a Battle Creek breakfast food puzzle competition. I pay rent on a room in Cairo, Egypt, and another in Yokohama all the year around. I’ve got slippers waiting for me in a tea-house in Shanghai, and I don’t have to tell ’em how to cook my eggs in Rio de Janeiro or Seattle. It’s a mighty little old world. What’s the use of bragging about being from the North, or the South, or the old manor house in the dale, or Euclid avenue, Cleveland, or Pike’s Peak, or Fairfax County, Va., or Hooligan’s Flats or any place? It’ll be a better world when we quit being fools about some mildewed town or ten acres of swampland just because we happened to be born there.”

“You seem to be a genuine cosmopolite,” I said admiringly. “But it also seems that you would decry patriotism.”

“A relic of the stone age,” declared Coglan, warmly. “We are all brothers—Chinamen, Englishmen, Zulus, Patagonians and the people in the bend of the Kaw River. Some day all this petty pride in one’s city or State or section or country will be wiped out, and we’ll all be citizens of the world, as we ought to be.”

“But while you are wandering in foreign lands,” I persisted, “do not your thoughts revert to some spot—some dear and—”

“Nary a spot,” interrupted E. R. Coglan, flippantly. “The terrestrial, globular, planetary hunk of matter, slightly flattened at the poles, and known as the Earth, is my abode. I’ve met a good many object-bound citizens of this country abroad. I’ve seen men from Chicago sit in a gondola in Venice on a moonlight night and brag about their drainage canal. I’ve seen a Southerner on being introduced to the King of England hand that monarch, without batting his eyes, the information that his grand-aunt on his mother’s side was related by marriage to the Perkinses, of Charleston. I knew a New Yorker who was kidnapped for ransom by some Afghanistan bandits. His people sent over the money and he came back to Kabul with the agent. ‘Afghanistan?’ the natives said to him through an interpreter. ‘Well, not so slow, do you think?’ ‘Oh, I don’t know,’ says he, and he begins to tell them about a cab driver at Sixth avenue and Broadway. Those ideas don’t suit me. I’m not tied down to anything that isn’t 8,000 miles in diameter. Just put me down as E. Rushmore Coglan, citizen of the terrestrial sphere.”

My cosmopolite made a large adieu and left me, for he thought he saw some one through the chatter and smoke whom he knew. So I was left with the would-be periwinkle, who was reduced to Würzburger without further ability to voice his aspirations to perch, melodious, upon the summit of a valley.

I sat reflecting upon my evident cosmopolite and wondering how the poet had managed to miss him. He was my discovery and I believed in him. How was it? “The men that breed from them they traffic up and down, but cling to their cities’ hem as a child to the mother’s gown.”

Not so E. Rushmore Coglan. With the whole world for his—

My meditations were interrupted by a tremendous noise and conflict in another part of the café. I saw above the heads of the seated patrons E. Rushmore Coglan and a stranger to me engaged in terrific battle. They fought between the tables like Titans, and glasses crashed, and men caught their hats up and were knocked down, and a brunette screamed, and a blonde began to sing “Teasing.”

My cosmopolite was sustaining the pride and reputation of the Earth when the waiters closed in on both combatants with their famous flying wedge formation and bore them outside, still resisting.

I called McCarthy, one of the French garçons, and asked him the cause of the conflict.

“The man with the red tie” (that was my cosmopolite), said he, “got hot on account of things said about the bum sidewalks and water supply of the place he come from by the other guy.”

“Why,” said I, bewildered, “that man is a citizen of the world—a cosmopolite. He—”

“Originally from Mattawamkeag, Maine, he said,” continued McCarthy, “and he wouldn’t stand for no knockin’ the place.”

➖➖➖

 

 

2022-12-24

Lều Chõng (21 – Hết) - Ngô Tất Tố

2022-12-24

Lều Chõng (21 – Hết)

Ngô Tất Tố


 

Trước khi đọc chương cuối của “Lều Chõng”, nhân dịp Giáng sinh, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” trân trọng gửi đến tất cả các thành viên của BelUnion, đến gia đình, người thân, bạn hữu gần xa của anh/ chị lời chúc Giáng sinh An lành!

2022-12-24 craiyon Merry Christmas Belgium alumni

Theo truyền thống, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” mạo muội thiết kế một thiệp Giáng sinh, thân thương gửi đến cộng đồng BelUnion.

Thưa anh/chị, thiệp này được vẽ bằng phần mềm trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence). Phần mềm này có tên là DALL·E (của công ty OpenAI). Xin trân trọng cảm ơn nhóm dự án DALL·E và công cụ trực tuyến Craiyon.

Nhìn vào bức họa, hẳn nhiên anh/chị dễ dàng nhận ra cây thông Noël – một chi tiết không thể thiếu trong đêm Giáng sinh. Ngoài ra, anh/chị cũng dường như nhận ra phảng phất khung cảnh của Grand Place ở Bruxelles với các họa tiết cách điệu. Và đứng dưới quảng trường, quây quần bên cây thông, họ là ai? Nếu anh/chị nhìn kỹ sẽ nhận ra họ là cựu sinh viên học tại Bỉ! Dĩ nhiên, anh/chị là một trong số đó. Thế giới hiện đại kết nối, gần như không còn khoảng cách, chúng ta cùng quây quần bên nhau trong những thời khắc lễ hội, gửi cho nhau những lời chúc ân tình, nồng ấm, cùng chúc cho cộng đồng BelUnion có cuộc sống bình yên, an lành, hạnh phúc êm đềm.

-:-


 

Chương 21

Một lần nữa, cụ bảng Tiên Kiều lại đứng làm ông tơ hồng xe duyên cho con gái út ông đồ Vân Trình. Chẳng bao lâu nữa, cô gái ngoan ngoãn và ngây thơ đó sẽ thành ra bà nội tướng của ông cử Cung.

Nhưng lần này không phải do ở cụ bảng chủ trương như mối nhân duyên cô Ngọc. Đây là tự ý cụ Mền Trúc Lâm. Từ khi Đốc Cung mới có tin đỗ cử nhân, ở Hà Nội và Sơn Tây cũng có nhiều người gọi gả con gái cho chàng. Trong số đó, có người hiện đương làm quan, có người nổi tiếng cự phú, không ai là nhà tầm thường.

Nhưng theo ý cụ Mền, thì việc kén chọn nàng dâu chỉ cốt ở người và nết, rồi ở phúc đức của cha mẹ, chứ sự phú quý thì không cần lắm. Vì là bạn thân của ông đồ Vân Trình, trước kia cụ vẫn thường thường đến chơi, đã có biết mặt cô Bích cho nên cụ mới từ chối các đám, rồi cụ cậy cụ Bảng làm mối cô này cho Đốc Cung.

Với Đốc Cung, ông đồ, bà đồ đều không lạ gì. Nếu chàng hỏi cô Bích từ khi chưa đỗ, ông bà cũng vui lòng gả, huống chi bây giờ chàng lại mới đỗ cử nhân. Cố nhiên ông bà không hề từ chối nửa lời.

Hôm nay là ngày ăn hỏi, ông đồ nghĩ mình hiếm hoi lại đã tuổi già, ít khi có dịp được gặp anh em cố giao, cho nên khi mới nhận nhời nhà trai, ông có cho mời mấy ông bạn già gần đó đến chơi với mình.

Từ lúc nửa buổi, cụ nghè Quỳnh Lâm, cụ cử Liên Trì, cụ cử Mai Đình, thày nào tớ nấy, đã cùng đến cả.

Họ nội, họ ngoại cũng đương lục tục kéo vào. Trong nhà rất là tấp nập.

Chỉ có cô Ngọc sắc mặt vẫn buồn rười rượi, nhiều lúc nước mắt chạy quanh, có khi lén vào trong buồng, lăn đùng trên giường bưng mặt khóc thầm.

Là vì trước đây bảy ngày, người đầy tớ của cô thuê đi theo hầu Vân Hạc vào kinh, vừa về báo cho cô biết tin chồng bị bắt vào ngục.

Thật là sét đánh bên tai cũng không sợ bằng. Lúc ấy mặt mũi cô không còn sắc máu, chân tay cô run cầm cập, trống ngực cô đánh thình thình, luống cuống cô vội hỏi hắn vì cớ gì mà chàng bị bắt.

Nhưng mà ai biết? Chính chàng cũng còn chưa biết, huống chi đầy tớ của chàng. Ông đồ bà đồ cuống quít lo sợ, lập tức cho người sang làng Đào Nguyên nói với bà cống và anh em Hải Âu. Bên ấy được tin, cả nhà đều kinh khủng. Bà Cống kêu khóc như mưa như gió.

Ngay sáng hôm sau, Tiêm Hồng liền phải thuê người cùng đi với mình vào kinh để xem tình đầu ra sao.

Thày trò Tiêm Hồng đi được một lát, cô Ngọc cũng tới Đào Nguyên, mọi người trông thấy đều phải giật mình. Vì không biết rằng cô bắt đầu đi bao giờ, mà bây giờ đã sang đến đó. Thì ra đêm ấy, cô những nóng lòng nóng ruột chỉ muốn biết ngay tin tức của chồng, cho nên mới đầu canh tư cô đã cắp nón ra đi, cốt về nhà chồng để xin phép mẹ và anh cho mình vào Huế thăm chồng. Nhưng bà Cống và Hải Âu, Đoàn Bằng đều không bằng lòng cho đi. Sợ rằng thân gái dặm trường có thể xảy ra nhiều sự nguy hiểm. Vả chăng đã có Tiêm Hồng đi rồi, công việc thế nào sẽ có tin về không cần phải thêm người đi nữa.

Cô cũng biết thế là phải. Nhưng nghĩ đến chồng bị giam, không biết tội lệ ra sao, thì gan ruột cô tự nhiên thấy như lửa chất, cô cứ khóc rũ, khóc rợi, khóc không dứt tiếng. Hải Âu, Đoàn Bằng tuy đã hết sức khuyên giải, nhưng cũng không ngăn được nỗi thương tâm của em dâu. Quá trưa cơn khóc của cô đã không còn tiếng, thì có người nhà ở bên Vân Trình sang hỏi cô có đấy không. Là vì lúc đi cô không kịp nói với ông đồ, bà đồ, ông bà không biết rằng con đi đâu, nên phải cho người sang tìm. Hải Âu, Đoàn Bằng tức thì giục cô phải về Vân Trình, kẻo nữa ông bà lo ngại.

Từ đấy, suốt ngày suốt đêm không mấy khi cô ráo nước mắt... chỉ muốn mọc ngay đôi cánh để bay vào kinh xem chồng thế nào.

Trước cái tai nạn của rể và sự thê thảm của con, cố nhiên ông đồ, bà đồ cũng đều đau xót vô hạn. Bởi vì ông bà bây giờ đã đều mình già sức yếu, chỉ có vợ chồng Vân Hạc làm vui cho cảnh nắng quá chiều hôm. Nếu chàng bị tội, tất nhiên gia đình sẽ phải tan nát, mà rồi công việc trăm năm của mình cũng khó có người khả dĩ trông cậy. Cho nên từ hôm được tin Vân Hạc bị bắt, ông đồ cũng như bà đồ, lúc nào cũng ủ rầu rầu, có bữa bỏ cả ăn uống.

Đáng lẽ lễ hỏi cô Bích, ông bà cũng không bầy biện lình đình làm gì. Trong nhà đương có vết thương, ai còn bụng dạ nào mà nghĩ đến chuyện vui mừng?

Nhưng vì trót mời khách khứa từ trước, hoãn lại, sợ có ngáng trở cho việc tốt lành của đôi trẻ sau này. Vì thế, ông bà cũng phải miễn cưỡng giữ đúng hẹn cũ. Nhưng việc cỗ bàn, thì chỉ sửa soạn một cách lạo thảo, không có hoa hòe gì hết.

Các cụ bè bạn của ông đồ, lúc trước, đều chưa biết tin Vân Hạc bị nạn, khi thấy ông đồ nói chuyện, ai cũng có vẻ ái ngại. Nhất là cụ bảng Tiên Kiều lại càng lo thay cho học trò mình. Vì cụ biết chàng chưa hết cái tính tự phụ của tuổi trẻ, nếu như trong bài đình đối mà có chỗ nào nói ngông, làm cho phật ý triều đình, thì không khéo sẽ bị tội nặng. Rồi các cụ lần lượt phỏng đoán cái cớ Vân Hạc bị bắt. Cụ này bảo phạm húy, cụ kia bảo chàng làm văn trái ý nhà vua, có cụ lại đồ là chàng đã đi vào chỗ cấm địa. Rút lại, chẳng ai đám chắc lời của cụ nào là đúng.

Gần trưa, ngoài sân lù lù tiến vào một dãy mâm thau phủ khăn đỏ đi theo một lũ quả tròn sơn son. Cụ Mền Trúc Lâm, và họ nhà trai đã dẫn lễ vật sang cho nhà gái, ông cử Bùi Đốc Cung cũng phải có mặt trong đám. Bấy giờ cỗ bàn vừa xong.

Sau khi nhà trai đã ngồi yên chỗ, ông đồ liền khăn áo lên nhà thờ cúng, để cho chàng rể làm lễ.

Với nhà này, Đốc Cung tuy không phải là người xa lạ, nhưng khi đóng vai chú rể, chàng cũng không khỏi có vẻ bẽn lẽn ngượng nghịu.

Thoáng nhìn Đốc Cung, cô Ngọc nhớ ngay đến chồng, máu uất lại hừng hực như sắp bốc lên. Vì sợ lỡ có sự gì, sẽ thành gàn quải công việc vui mừng của em, cô phải uống mãi nước lã cho ngực đỡ nóng.

Nghe tin Vân Hạc bị bắt, Đốc Cung rụng rời chân tay, sắc mặt tự nhiên xám lại, như người vừa qua một trận khủng khiếp.

Cả nhà xúm lại hỏi chàng về chuyện Vân Hạc ở kinh. Nhưng chàng cũng không biết lắm. Vì xong kỳ đệ nhị, chàng đã lên đường về Bắc rồi, còn biết chuyện trò trong ấy ra sao.

Tàn ba tuần chè, khách khứa họ mạc bắt đầu uống rượu.

Câu chuyện Vân Hạc thành một đầu đề của cả bữa tiệc. Hầu hết các mâm, mâm nào cũng nói đến chàng làm cho ông đồ càng thêm lo phiền, tuy ngồi tiếp khách nhưng ngoài tiếng mời chào, ông không nói thêm một câu nào khác.

Cụ bảng Tiên Kiều, cụ nghè Quỳnh Lâm và cụ cả Liên Trì tuy đã thi nhau pha trò, để cho quang cảnh vui thêm, song mà trên tiệc vẫn có một vẻ bẽ bàng.

Rượu đến nửa chừng, ngoài cổng nghe có tiếng người léo séo:

- A cậu thủ khoa đã về!

Tiếp luôn đến tiếng bà đồ:

- Ấy kìa! Anh thủ về thật kia kìa! Lại cả các bác cũng sang chơi nữa. Quý hóa chửa kìa!

Cả nhà đổ xô ra sân. Cô Ngọc đương nằm lăn lóc trong buồng, không kịp nghĩ đến lễ phép, cô vội nhảy phắt xuống đất, ôm bộ đầu rũ rợi ra thềm. Quả đúng là Vân Hạc và Hải Âu, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng nghênh ngang ôm võng và các đòn cáng đưa lên đầu cổng.

Đố ai tả được tâm trạng cô Ngọc lúc ấy. Nếu không có đông khách họ hàng ở trước mặt có khi cô sẽ nghĩ là mình nằm chiêm bao thấy chồng.

Sau khi vái chào cụ bảng, ông đồ và các cụ nghè cụ cử, anh em Vân Hạc ngồi vào chiếc ghế bỏ không gian cạnh. Khách khứa họ mạc ai về chỗ nấy. Tiệc rượu phải hoãn một lúc, để cho các cụ hỏi chuyện Vân Hạc.

Thì ra chàng về vừa khỏi Nam Định thì gặp Tiêm Hồng. Anh em cùng đến Đào Nguyên từ tối hôm qua.

Bên ấy cũng biết hôm nay ăn hỏi cô Bích, cho nên sáng nay Hải Âu phải sai thuê mấy chiếc cáng để Vân Hạc sang ngay bên này cho ông đồ, bà đồ yên lòng và bảo Đoàn Bằng, Tiêm Hồng đi chơi với mình để mừng nhà trai, nhà gái luôn thể.

Ông đồ bấy giờ rất là vui vẻ. Sốt sắng, ông giục bưng mâm để anh em Vân Hạc uống rượu. Ngôi thứ trong tiệc lại phải đổi lại. Hải Âu tiếp các cụ. Đốc Cung, Vân Hạc ngồi với Đoàn Bằng, Tiêm Hồng.

Cụ bảng vừa nâng chén rượu vừa nhìn Vân Hạc:

- Thế anh được tha từ bao giờ?

Vân Hạc lễ phép:

- Bẩm thày, con chỉ bị giam hai ngày đến ngày thứ ba thì được tha ra.

Đến lượt cụ nghè Quỳnh Lâm:

- Vậy thì cậu đỗ hay hỏng?

Vân Hạc tươi cười:

- Bẩm cụ, con hỏng tuột, và bị cách cả thủ khoa.

Ông đồ tỏ vẻ ngạc nhiên:

- Anh bị tội gì?

Vân Hạc vẫn tươi như hoa:

- Thưa thày, vì đoạn trả lời câu hỏi “trí ngôn dưỡng khí”, con... đã dùng lầm bốn chữ... chẳng may câu đó bị quan Đối Độc tìm ra, ngài liền tâu với hoàng thượng, xin giao đình nghị. Vì vậy con mới bị bắt.

Ông đồ phàn nàn:

- Đã vào thi đình mà không biết những cái đó.

Cụ bảng hỏi tắt:

- Vậy anh có được thi hương nữa không?

Vân Hạc thưa:

- Bẩm thày có ạ.

Ngoài cổng bỗng có tiếng hỏi rất tơi tả:

- Anh thủ khoa đã về đây chưa?

Theo sau tiếng nói, Nguyễn Khắc Mẫn với chiếc nón dứa quai lụa bạch lù khù tiến vào trong cổng.

Vân Hạc vội vàng chạy ra đón mời.

Sau khi Khắc Mẫn vái chào tất cả các cụ, ông đồ liền bảo người nhà lấy thêm đũa bát mời thầy ngồi với bọn Vân Hạc, Đốc Cung.

Vừa nâng chén rượu, Khắc Mẫn vừa trông Vân Hạc:

- Sáng hôm qua, tôi được tin anh bị bắt ở Huế, đã định sáng nay thì sang Đào Nguyên hỏi thăm. May sao đến chiều hôm qua lại thấy nói anh đã về, tôi đoán chắc rằng ngày nay thế nào anh cũng có mặt ở đây. Thế mà đúng thật. Vậy anh vào đình ra sao? Có phải thật anh bị bắt hay là người ta đồn nhảm?

- Tôi bị bắt thật đấy.

Vân Hạc vừa nói vừa rót thêm rượu vào chén Đoàn Bằng, rồi một lần nữa chàng đem đầu đuôi câu chuyện mình ở kinh kể với Khắc Mẫn. Khắc Mẫn ra giọng vui mừng:

- Chẳng qua cũng tại số anh chưa được hết nợ trưởng ốc, cho nên mới gàn quải ra thế. Nhưng cứ như tài học của anh, thì thi lúc nào có thể đỗ ngay lúc ấy. Miễn là anh còn được đi thi. Chẳng làm gì mà phải chán nản.

Vân Hạc chỉ cười không đáp. Khắc Mẫn tiếp:

- Khốn nạn! Thân anh nghè Long bây giờ mới đáng thương chứ!

Vân Hạc, Đốc Cung đều tỏ ra vẻ kinh ngạc:

- Anh ta làm sao?

Khắc Mẫn đáp:

- Vừa mới có chỉ phải đi tiền quân hiệu lực.

Cụ nghè Quỳnh Lâm thoáng nghe câu đó liền hỏi:

- Ông tú Nguyễn nói ai phải đi tiền quân hiệu lực?

Khắc Mẫn khiêm tốn:

- Bẩm cụ, anh nghè Văn Khoa chúng tôi.

Ông đồ, vội đặt chén rượu xuống mâm:

- Tôi mới nghe nói ông ấy đã đi tri phủ Thuận Thành kia mà?

Khắc Mẫn thưa:

- Bẩm vâng. Năm ngoái anh ấy được bổ tri phủ Thuận Thành, hồi đầu tháng tư đổi ra tri phủ Hải Ninh. Bấy giờ đương có giặc khách quấy nhiễu ở vùng duyên hải, triều đình có phái đại binh ra tiễu, anh ấy cũng phải cầm quân đi đánh một mặt. Chẳng ngờ gặp phảì toán giặc rất kiệt hiệt, giao chiến một trận, bao nhiêu lính tráng chết gần hết. Anh ấy chỉ còn một thày một trò trốn về. Việc đó tâu vào trong triều, triều đình chiếu luật “ngộ thất quân cơ” đã định trị tội đúng như quân pháp. Sau nhờ hoàng thượng có lòng nhân từ mới giảm xuống tồi “tiền quân hiệu lực”.

Cụ cử Liên Trì cũng hỏi:

- Có thật thế không?

Khắc Mẫn đáp:

- Bẩm thật thế ạ. Tôi vừa chơi ở Văn Khoa sang đây. Cứ như cụ cố nói lại, thì trước đây mười ngày, anh nghè Long đã phải giải vào Quảng Nam để xung đội tiên phong đánh mọi Thạch Bích.

Vân Hạc phàn nàn:

- Nghè Long cũng là một bậc thông mình có tài, nếu được từng trải việc đời, chắc sẽ thành ra một người đại dụng, có thể giúp dân giúp nước được nhiều việc. Nhưng mà bây giờ vừa mới thi đỗ, còn là một anh thiếu niên thư sinh, gần nửa đời người chỉ được nghiền ngẫm kinh nghĩa thơ phú, chưa nghe tiếng súng lần nào. Thế mà nhất đán phải đi cầm quân đánh giặc.

Cả đám nghe tin, ai cũng ngại cho Trần Đằng Long. Mặt trời tà tà, tiệc vừa tan. Ông đồ vì mừng Vân Hạc được về, muốn lưu tất cả khách khứa ở lại đến mai. Nhưng mà các cụ sợ rằng Vân Hạc đi xa mới về, chắc trong mình còn mệt nhọc, nếu lại thức thêm đêm nữa, không khéo có khi bị bệnh, cho nên ai nấy đều khất đến ngày cho cưới cô Bích sẽ lại đến chơi.

Rồi đó các cụ và họ nhà trai lũ lượt ra về. Hải Âu, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng, Khắc Mẫn cũng bị cụ bảng Tiên Kiều bắt phải sang chơi bên ấy. Quang cảnh trong nhà lúc ấy lại bình tĩnh như mọi khi.

Người nhà dọn dẹp vừa xong, thì trời vừa tối.

Ông đồ, bà đồ vì mấy đêm trước thức luôn, cho nên đêm ấy, sau khi hỏi han Vân Hạc ít câu, cả hai đều đi ngủ trước. Ở nhà học chỉ có cô Ngọc với chàng.

Dưới ánh sáng rực rỡ của ngọn đèn đầy dầu, cô trông mặt chồng tuy vẫn tươi trẻ như xưa, nhưng vì mấy tháng ăn gió nằm sương, da thịt cũng có xanh xao gầy sút hơn lúc ở nhà, bụng cô rất băn khoăn thương hại. Khi nghe chàng kể lại những nỗi nguy hiểm ở dọc đường, thì cô thương xót không biết chừng nào, có lúc hai hàng nước mắt chảy ra chan chứa. Rồi cô vỗ vào vai chàng và nói bằng giọng âu yếm: - Chỉ vì tôi muốn được làm bà thám, bà bảng, xuýt nữa làm cho chồng tôi chết oan. Mình có giận tôi hay không?

Vân Hạc mỉm cười:

- Giận lắm chứ. Làm khổ người ta như thế, ai mà không giận?

Cô cũng đáp lại bằng nụ cười bông đùa:

- Thôi từ giờ trở đi, tôi không bắt mình thi cử nữa, xin mình vuốt giận làm lành.

Rồi cô lảng sang chuyện khác:

- Lúc nãy tôi nghe như bác tú Mẫn nói ông nghè Long phải đi “tiền quân hiệu lực” phải không?

Vân Hạc đáp:

- Phải. Tội nghiệp! Tôi thương anh ấy quá chừng.

Cô phàn nàn:

- Chết chửa, ông ấy lưng sức học trò, mà phải đi vào những chỗ mọi rợ ma thiêng nước độc thì chịu sao nổi?

Thình lình nghĩ đến câu Kiều của mình bói được ngày trước, cô liền đọc cho chồng nghe. Vân Hạc lại cười và hỏi:

- Mình có nhớ cái bài “nhàn ngâm” của cụ Nguyễn Công Trứ không?

Cô ngơ ngẩn:

- Bài ấy thế nào? Tôi chưa được nghe bao giờ.

Vân Hạc gật gù đáp:

- Bài ấy như vầy:

“Ngồi rồi mà trách ông xanh,

Cơn vui muốn khóc, buồn tênh lại cười,”

Cô cướp nhời:

- Thế thì tôi biết. Còn bốn câu nữa thế này.

Và cô thỏ thẻ đọc tiếp:

“Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

Giữa trời vách đá cheo leo,

Ai mà chịu rét thì trèo với thông.”

Bấy giờ đêm đã canh ba, bốn bề không còn tiếng động. Vầng trăng vằng vặc nhòm vào cửa sổ, như cũng thèm sự tương đắc của cặp vợ chồng chung một tâm hồn.

HẾT

➖➖➖

Trong lúc chờ đón Giáng sinh, thân gửi đến anh/chị “Điệu Van sông Danube xanh” (The Blue Danube Waltz) của nhạc sỹ thiên tài người Áo Johann Strauss II.

 

Việt Điện U Linh Tập - Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) - Lý Tế Xuyên

2026-06-20 Việt Điện U Linh Tập Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) ...