2022-11-12
Lều
Chõng (9, 10)
Ngô
Tất Tố
Chương
9
Ánh
nắng đã luồn qua khe cửa sổ chiếu vào sàn gác. Hạt bụi thi nhau đùa giỡn trong
những luồng sáng tím xanh.
Con
Nhài sẽ sàng đưa ngọn chổi lùa quét qua mặt gác, rồi nó rón rén nhấc chiếc điếu
ngô thổi hết bã thuốc tàn đốm và đem bàn chè mẫu ra lau.
Vân
Hạc vẫn ôm cô Phượng nằm trong tấm chăn nhiễu đỏ.
Cạnh
chàng, một tấm chăn nữa cũng đương phủ kín hai người: Bùi Đốc Cung và cô Cúc.
Gian
gác tĩnh mịch như tòa miếu cổ ở giữa cánh đồng không, người ta có thể đếm được
những dịp đều đều của bốn hơi thở.
Thế
là trong mười ngày chờ đợi xem bảng của kỳ đệ nhất, Vân Hạc cũng như Đốc Cung
đã vắng nhà trọ đến sáu đêm liền. Khi bị anh em lôi kéo, khi thì tự chàng lôi
kéo anh em, trong sáu đêm đó, đêm nào chàng cũng ở phố hàng Lờ, cái nơi đã được
thiên hạ đặt tên là “rừng son phấn”.
Tuy
nó chỉ là chuyện “phùng trường tác hỉ”, chàng không chung tình với một người
nào, nhưng trước những cuộc rượu nồng, dê béo, chàng vẫn được phần đông chị em
để vào mắt xanh. Họ trọng chàng là hạng học trò có tiếng, họ thích chàng ăn nói
có duyên, nhất là họ yêu ngón chầu của chàng nhiều tiếng tài tình trác lạc.
Lân
la hết nhà này đến nhà khác, cái nợ phong hoa đã làm cho chàng thành người bê
tha.
Đào
Phượng là người gặp chàng sau cùng, song lại là người mến chàng thứ nhất. Mối
duyên hội ngộ giữa chàng với nàng mới bắt đầu trong ba bữa nay, nhưng nàng đã
dùng hết cách khôn khéo của nhà nghề để giữ chàng ở luôn nhà mình.
Khăng
khít với chàng để làm gì? Nàng đã thừa biết chàng mới cưới vợ, hơn nữa, nàng
còn nghe rằng, vợ chàng vừa nhan sắc, vừa nết na, với chàng rất tương đắc không
có khi nào nàng lại dại dột mà hòng mong chàng sẽ chút ân tình cho mình.
Chỉ
vì ở bên tai nàng, chàng là một tay danh sĩ, người ta bảo rằng khoa này nhất định
là chàng phải đỗ không thủ khoa thì cũng á nguyên. Vả lại, từ khi chàng đến nhà
nàng, mắt nàng đã trông thấy chàng bói kiệu và đánh tổ tôm. Không cuộc tổ tôm
nào mà chàng không ù chi chi, không cuộc bói kiệu nào chàng không kiệu độ một,
hai ván, có khi chàng được cả “tứ mỹ” hoặc “tam từng” nữa. Với những điều ấy,
nàng càng chắc rằng mười phần chàng đỗ cả mười. Theo sự kinh nghiệm của các cụ
nói lại thì nhà cô đào cũng giống như nhà chứa trọ, khoa nào được có ông khách
thi đỗ, tức là trong nhà làm ăn phát tài. Và từ khoa sau trở đi, học trò sẽ đua
nhau tìm đến nhà mình mà trọ hay hát. Bởi vì người ta cho là cái nhà có lợi cho
sự thi cử. Trái lại, nhà nào không có ai đỗ, người ta sẽ bảo cái nhà không hay,
khoa sau dù có nhử thính cũng không ai thèm đến cửa.
Cái
sự thi đậu của chàng quan hệ với nàng như vậy, cho nên nàng phải cố kiết mà níu
lấy chàng.
Trước
sự ân cần chiều đãi của nàng, cố nhiên chàng không có thể dứt tình mà đi. Luôn
trong ba ngày trước đây, chàng không hề về đến nhà trọ. Hai đêm trước, đêm nào,
chàng và Đốc Cung cũng thức cho đến sáng bạch với tiếng đàn, tiếng hát và những
cuộc rượu quay thìa. Nhưng đêm vừa rồi, vì đã giáp ngày ra bảng, sợ rằng thức
quá, khi vào trường sẽ hại cho sự viết văn, cho nên chàng phải giục Đốc Cung đi
ngủ từ lúc nửa đêm. Giấc ngủ báo thù vẫn khác với giấc ngủ thường, từ nửa đêm
cho đến bây giờ, hai người đều kéo một mạch không ai cựa quậy.
Con
Nhài lau xong ấm chén, nó lại rón rén đi xuống nhà dưới, mặc hai cô chủ ngủ tiếp
hai ông quý khách.
Chị
hàng xôi cháo lù lù tiến đến trước cửa và quai mồm rao mấy tiếng chua lòm, làm
cho Đốc Cung giật mình đánh thót. Chàng liền tung chăn ngồi dậy, dụi mắt trông
ra ngoài cửa rồi nói một cánh sửng sốt:
-
Chết chửa? Bây giờ là bao giờ rồi?
Cô
Cúc oằn oại vặn mình mấy cái và đáp:
-
Hãy còn sớm chán! Ngủ thêm lúc nữa. Vội gì anh!
Đốc
Cung ngáp một tiếng dài, rồi tiếp:
-
Mặt trời đã xỏ vào mắt mà còn là sớm. Thế thì không còn bao giờ là trưa!
Tức
thì Đốc Cung lật tót chăn của Vân Hạc và gọi:
-
Dậy đi mày! Trưa lắm rồi?
Vân
Hạc mở choàng hai mắt và gắt:
-
Mày làm cái gì mà nhắng lên thế! Trưa thì mặc trưa, tao cần gì.
Đốc
Cung nói bằng giọng ỡm ờ:
-
Đi lên nhà trọ sắp sửa khăn gói mà về với vợ! Chứ làm gì!
-
Tao hỏng à?
-
Cái bộ học hành như mày chả hỏng thì “vào” với ai?
-
Nếu tao mà hỏng kỳ này, thì cả trường không còn thằng nào “vào” nổi.
Rồi
đó, Vân Hạc cũng rút cái cánh tay phải đương bị cô Phượng gối đầu và ngồi nhỏm
dậy.
Cô
Phượng cũng dậy và gọi con Nhài lấy nước rửa mặt.
Tan
cuộc trà sớm, Vân Hạc, Đốc Cung sắm sửa khăn áo toan đi, cô Phượng, cô Cúc nhất
định níu lại và noi:
-
Các anh ở đây ăn cháo cái đã.
Hai
người cùng một mực từ chối:
-
Thôi để cho chúng tôi đi, kẻo trưa. Hôm nay là ngày ra bảng, bây giờ hãy còn ở
đây, cũng là liều lĩnh lắm rồi...!
Hai
ả vẫn kèo nèo:
-
Trưa với sớm thì làm gì? Đến chiều xem bảng cũng được. Bảng vẫn còn đấy, chứ ai
đã cất đi đâu mất. Các anh chẳng đỗ thì ai đỗ, em chắc như vậy. Không cần phải
xem bảng nữa.
Rồi
ả nắm lấy một chàng. Họ thi nhau lật khăn, cởi áo hai chàng và kéo vào phản.
Con
Nhài vừa xách lên đó một nai rượu lớn. Nó cất hai bức chăn nhiễu vào phòng và
ngả chiếc mâm chân quỳ ra phản. Kế đến thằng bếp lễ mễ bưng lên và đặt vào mâm
một con gà luộc đựng trong một chiếc đĩa sứ rất lớn. Rồi thì chúng nó sắp sửa
vào đó tất cả các thứ bát, đũa thìa, chén và nhiều những món ăn khác.
-
Nào! Mời hai anh vào đi. Mọi ngày chúng em không dám uống rượu, nhưng hôm nay
nhất định tiếp với các anh một bữa thật say.
Đào
Phượng vừa nói vừa kéo Vân Hạc, Đốc Cung vào cạnh chiếu rượu và giục đào Cúc:
-
Chị rót rượu ra. Sao cứ lóng ngóng mãi thế!
Vân
Hạc vừa cười vừa nói:
-
Uống thì uống, cần gì!
Rồi
chàng ngoảnh nhìn Đốc Cung:
-
Nếu như ngày nào các chị cũng có hảo tâm thế này, thì chúng mình chẳng phải thi
cử làm chi cho nhọc.
Hai
chàng liền ngồi lên phản. Cô Cúc nhanh nhảu, lau tay nhắc đĩa thịt gà ra gỡ. Cô
Phượng cầm nai rượu đổ ra cái bát giữa mâm, rồi vớ chiếc thìa múc một thìa đầy,
và hỏi cô Cúc:
-
Tôi muốn chuốc anh ấy nhà chị một thìa, có được không đấy?
Cô
Cúc xua tay:
-
Không được. Không được. Chị muốn cướp chồng của tôi hay sao?
Cô
Phượng vừa cầm thìa rượu vừa cười:
-
Chị đã nói thế, thì tôi cướp cho mà xem. Sướng chưa, phen này lấy luôn hai chồng
một lúc.
Rồi
nàng đưa thìa rượu lên miệng Đốc Cung:
-
Mời chồng xơi rượu!
Đốc
Cung gạt thìa rượu ra và nói:
-
Đây tôi không làm chồng lẽ, nghe không?
Cô
Phượng vẫn cười:
-
À, anh còn giữ trinh tiết với chị ấy nhà anh? Thôi thế thì em trở về với chồng
cũ vậy.
Rồi
nàng đổ thìa rượu ấy vào bát, lại múc thìa khác và chìa tận miệng Vân Hạc:
-
Nào anh xơi rượu với em.
Vân
Hạc vừa cười vừa nói:
-
Ai mặt mũi nào uống rượu với một người vợ đã đi ve trai?
Cô
Phượng lại cười:
-
Ông Dương Lễ cho vợ đi với bạn luôn trong ba năm còn được, huống chi tôi mới ve
bạn của anh một câu. Thôi anh nuốt giận làm lành.
Vân
hạc chưa kịp nói gì, dưới thang gác bỗng có tiếng chạy huỳnh huỵch. Con Nhài hốt
hoảng đến trước cô Phượng:
-
Thưa cô, dưới cửa sổ có hai ông nào đương hỏi ông Hạc.
Vân
Hạc vội hỏi:
-
Người như thế nào?
-
Hai người ấy cùng mặc áo the, nước da trắng trẻo, một ông độ ba tư, ba nhăm, một
ông độ hai bảy, hai tám.
Đốc
Cung nhằm mặt Vân Hạc:
-
Mày thì chết, muốn sống đi trốn cho mau. Để tao ngồi đây chịu tội thay mày.
Vân
Hạc vội vàng chạy thụt vào buồng, khép luôn cửa lại.
Cô
Phượng bảo Nhài:
-
Mày xuống nói với hai ông ấy, ở trên này không có ai là ông Hạc nhé!
Con
Nhài vâng rồi đi xuống mới hết thang gác thì đã có tiếng chân người thình thịch
đi lên.
Ai
thế? Đào Tiêm Hồng và Đào Đoàn Bằng, anh thứ hai, và anh thứ ba của Vân Hạc.
Với
bộ mặt giận dữ, hai người xăm xăm bước đến trước chiếu rượu giữa khi Đốc Cung,
đào Phượng, đào Cúc bỏ thìa rượu đứng dậy.
Đốc
Cung tươi cười vờ hỏi:
-
Hôm nay trở trời, trái gió làm sao mà cả hai bác lại cùng đi tìm cái thú yên
hoa? Chắc là các bác đều được vào cả.
Đoàn
Bằng đổi ra dáng bộ vui vẻ đáp:
-
Gớm chửa! Dễ một mình anh biết chơi, còn chúng tôi là gỗ cả đấy.
Đốc
Cung cũng cười, nhưng không nói gì. Đào Phượng, đào Cúc đon đả mời hai người
vào ghế và cung kính rót hai chén nước bưng lại.
-
Xin mời hai ngài xơi nước.
Tiêm
Hồng vẫn nhìn Đốc Cung bằng một bộ mặt hằm hằm.
-
Thằng Hạc nhà tôi trốn đi đâu rồi?
Đốc
Cung giả cách ngơ ngác:
-
Anh Hạc đã ra đấy ư? Hôm qua tôi nghe nói anh ấy về quê đến chiều hôm nay mới
ra kia mà!
Đoàn
Bằng phì cười:
-
Thôi anh đừng khéo vờ vẫn. Tôi chắc nó lại núp đâu quanh đây.
Rồi
thày chỉ vào mâm rượu và tiếp:
-
Đũa bát kia của nó, có phải không? Nếu không, sao ba người lại có đến bốn đôi
đũa và bốn cái bát?
Đốc
Cung vẫn nói bằng cách thản nhiên:
-
Chúng tôi cũng đương bàn tán với nhau, không hiểu vì sao tự nhiên thằng bếp lại
dọn thừa đũa thừa bát. Hoặc giả nó là cái điềm hai bác đến chơi. Vậy xin hai
bác vào đây uống rượu với tôi luôn thể.
Đào
Phượng, đào Cúc cũng đều làm bộ chèo kéo:
-
Chẳng mấy khi hai ngài quá bộ đến đây. Vậy xin hai ngài hãy tạm ngồi lại xơi rượu
với ông Cung để chúng em được hầu tiếp.
Tiêm
Hồng càng cáu:
-
Chúng tôi cũng muốn uống lắm. Mép rượu còn có khi nào chê rượu? Huống chi lại
được uống với các chị thì còn thú hứng nào bằng. Nhưng còn e rằng: chúng tôi ngồi
đây lúc nữa, thì trong gầm phản, tất nhiên có đứa chết ngạt. Và đứa chết ngạt ấy
cố nhiên phải là thằng Hạc.
Đoàn
Bằng nói xen:
-
Hôm nay lại còn dắt nhau đến đây, tôi cũng chịu cho cái đức bê tha của các anh!
Tiên
Hồng cướp lời:
-
Chúng tôi nhờ anh bảo thằng Hạc rằng: đời còn dài, muốn chơi chẳng thiếu gì
lúc. Hôm nay hãy tạm đi ra cửa trường nhòm qua cái bảng xem sao.
Rồi
hai người từ biệt đứng dậy và xuống thang gác. Đốc Cung, đào Phượng, đào Cúc
theo chân tiễn ra đến cửa.
Đoàn
Bằng quay lại nói với hai ả:
-
Tôi xin hai chị nể lời chúng tôi, hôm nay hãy tạm tha cho thằng này và thằng Hạc.
Có muốn giam hãm chúng nó, các chị cũng nên chờ đến đêm mai.
Hai
ả vẫn khăng khăng một mực:
-
Ông nói oan chúng em, thật quả, từ xưa đến giờ, nhà em không có ông khách nào
tên là Hạc cả.
Đoàn
Bằng mỉa cười:
-
Nào tôi có ăn vạ đâu? Sao chị cứ phải chối mãi?
Rồi
thày theo sau Tiêm Hồng lủi thủi cùng đi về phía cửa Nam. Đốc Cung và đào Phượng,
đào Cúc chờ cho hai người đi một quãng xa, mới cùng lên gác. Ba người đều cười
rũ rượi.
Vân
Hạc cũng vừa mở cửa ở trong buồng ra.
Chàng
bảo đào Phượng:
-
Gớm? Cái buồng nhà chị sao mà lắm muỗi thế. Nếu chậm lúc nữa, có lẽ tôi sẽ bị
nó đốt chết. Hai ông ấy đi đến đâu rồi?
Đào
Phượng dún dẩy trả lời:
-
Đi xa lắm rồi. Mời các anh cứ vào xơi rượu, không ngại gì nữa.
Đào
Cúc nói xen:
-
Các ông anh kể cũng rộng lượng đấy chứ, lúc mà cái ông nét mặt hằm hằm nói gắt
anh Cung, em cứ tưởng hai ngài sẽ phá cửa buồng để bắt anh Hạc.
Đốc
Cung nhìn mặt Vân Hạc:
-
Ừ nếu lúc ấy thằng Hồng, thằng Bằng cố cậy cửa buồng mà vào, chúng nó bắt được
mày đương nằm ở dưới gầm giường, thì mày xử trí ra sao?
Vân
Hạc bật cười:
-
Tao tát vào cái miệng mày bây giờ. Đừng nói láo. Chốc nữa lại sắp ra cửa trường
mà kháo như thế!... Người ta nằm ở trên giường, chớ ai chui gầm giường bao giờ!
Rồi
chàng ghé ngồi vào phản và tiếp:
-
Giả sử bấy giờ tao bị bắt quả tang, thì cũng đến ỳ ra đó, chứ làm thế nào.
Chúng mình kể cũng vô phúc thật đấy. Các ông ấy mắng không oan. Ai lại đến ngày
ra bảng vẫn kéo lì ở nhà cô đào.
Đốc
Cung như không hề để ý đến lời Vân Hạc. Chàng mủm mỉm cười và ra bộ nghĩ ngợi.
Đào
Phượng múc một thìa rượu, chuốc cho Vân Hạc và nói:
-
Cái sự hôm nay là lỗi tại em tất cả. Vậy xin tạ lỗi với anh một thìa.
Vân
Hạc đón lấy thìa rượu và nói:
-
Chị để tôi uống tự nhiên, không cần phải thế. Chúng tôi rất ghét cái kiểu kề miệng
húp thìa rượu ở tay người khác.
Vân
Hạc đương đưa thìa rượu lên miệng sắp uống. Đốc Cung bỗng nhìn đào Phượng và cười
ngặt nghẹo:
-
Tôi nhờ chị hãm cho ông Hạc một câu.
Đào
Phượng vui vẻ:
-
Vâng? Xin anh nghĩ câu hãm cho em.
Đốc
Cung liền đọc:
“Trời
cao con Hạc vẫy vùng”.
Vân
Hạc ra bộ thích ý:
-
Được đấy! Thằng khá đấy... Đọc nốt xem sao?
Đốc
Cung rung đùi đọc tiếp:
“Ai
xui Hạc trắng vào trong gầm giường?
Nghĩ
đến mà thương”.
Vân
Hạc nuốt vội hớp rượu trong miệng và chỉ vào mặt đốc Cung:
-
Thằng đểu! Những đứa báo oán ở đâu, sao hôm nọ nó không quật chết mày ở trong
trường thi?
Đốc
Cung cười bảo đào Phượng:
-
Nhưng mà thôi, chị đừng hãm nữa. Để tôi chữa làm bốn câu nữa. Rồi tôi cho nó một
bài hát nói.
Vân
Hạc cũng cười:
-
Muốn gì thì gì! Hễ mà bịa chuyện nói láo, thì mày đừng chết.
Đào
Phượng nói chêm:
-
Cứ để cho anh ấy làm.
-
Nhưng mà nó cứ nói không làm có. Rồi chốc nữa lên cửa trường, gặp ai nó cũng đọc
ra cho nghe. Người ta tưởng là chuyện thật.
Đốc
Cung vẫn cười:
-
Ừ thì tôi cũng đại xá cho nó. Để nó còn vác mặt về quê thăm vợ. Nếu tôi cho nó
một bài hát nói thì không khéo nó phải tự tử.
Câu
chuyện bông đùa kéo dài đến khi gần hết một bát rượu lớn. Hai chàng bắt đầu ăn
cháo.
Tan
cuộc rượu, hai chàng lại đội khăn mặc áo để đi xem bảng.
Đào
Phượng, đào Cúc đòi đi theo. Nhưng mà Vân Hạc không nghe, chàng nói:
-
Nếu tôi đi với hai chị, lỡ gặp anh hai và anh tú tôi, thì tôi trốn đi đường
nào?
Hai
ả cùng nói cố kiết:
-
Các anh cứ cho chúng em đi với. Lên gần cửa trường, chúng em sẽ trụt lại sau,
không đi gần với các anh nữa, thì thôi chứ gì.
Đốc
Cung cũng ngăn hai ả:
-
Thôi các chị cũng nên thương nó, đừng theo nó nữa. Nếu như các chị cố đi với
nó, thì rồi mai kia vợ nó xé xác nó ra.
Rồi
hai chàng từ biệt hai ả cùng đi lên phía trường thi.
Lúc
ấy bảng đã kéo rồi. Học trò đứng ở dưới bảng đông như đám hội. Đốc Cung bảo với
Vân Hạc:
-
Hãy đến xem bảng con đã.
-
Mày bị phạm húy hay sao mà muốn xem bảng con trước?
-
Tao không phạm húy, nhưng hình như trong bài “Nam sơn hữu đài”, tao viết chữ thọ
thiếu mất một nét.
-
Mày viết mười mấy nét?
Đốc
Cung vừa đi, vừa lấy ngón tay ngoạch ngang, ngoạch dọc, rồi đáp:
-
Tao viết có mười bốn nét.
-
Thế thì đúng rồi, còn thiếu gì nữa, chữ “thọ” chỉ có mười bốn nét thôi. Vừa tới
bên ngoài bảng con. Cái bảng treo chừng ngang đầu người, phía trước đương bị
đám người che kín. Vân Hạc bảo Đốc Cung:
-
Mày thử lách vào, trông xem có tên thằng Nguyễn Khắc Mẫn ở đó hay không. Hôm ấy
nó viết vội lắm. Tao sợ nó phạm trường qui, nếu không thì cũng phạm húy, hay là
có chữ thừa nét thiếu nét, chứ khó mà được trọn vẹn.
Đốc
Công ưng lời. Rồi để Vân Hạc đứng đợi ở ngoài, chàng cố lách qua đám người vào
tận cạnh bảng nhẩm suốt một lượt từ đầu đến cuối. Tất cả trong bảng, có độ hai
chục tên người.
Người
thì viết không đủ quyển, người thì viết phải chữ “hồng” mà không “kính khuyết
nhất bút”, có người đồ, di, câu, cải quá số mười chữ, mỗi người mỗi tội khác
nhau. Nhưng không có tên Khắc Mẫn.
Đốc
Cung lại cố lách ra tìm đến chỗ Vân Hạc:
-
Không biết nó có được vào hay không, chứ ở bảng con thì không thấy có tên nó.
Hai chàng liền cùng tiến lại trước bảng vi giáp.
Vừa
thoạt nhìn trên bảng, đã thấy tên Đào Tiêm Hồng.
Vân
Hạc mừng reo:
-
Anh Hai tao được “vào” rồi.
Đọc
nốt cho đến cuối bảng, hai chàng đều không thấy tên mình, họ bèn dắt nhau sang
cửa vi ất. Ở đây chỉ thấy tên Nguyễn Khắc Mẫn và Đào Đoàn Bằng, không có tên
hai chàng. Đốc Cung chỉ bảo Vân Hạc:
-
Thằng Mẫn và anh Tú mày được “vào” rồi kia kìa không có lẽ tao với mày bay kinh
nghĩa cả.
Rồi
thẳng đường, hai chàng lại đến coi bảng vi hữu. Đến đây mới thấy có tên Đốc
Cung, nhưng vẫn không thấy có tên Vân Hạc. Đốc Cung lại trêu Vân Hạc:
-
Chắc là mày hỏng.
Vân
Hạc vẫn vững dạ:
-
Mày và thằng Mẫn còn “vào” khi nào tao lại bị hỏng.
Vừa
nói, hai chàng vừa lật đật trở lại đến cửa vi tả, trông gần bảng, vẫn không thấy
tên Vân Hạc ở đâu, lúc ấy chàng mới hơi núng, liền bảo Đốc Cung:
-
Có lẽ quan trường không mắt mày ạ.
Đốc
Cung chỉ tay vào phía cuối bảng:
-
Có họa mày mù, chẳng tên mày thì tên thằng đểu kia à.
Vân
Hạc nhìn theo chỗ tay Đốc Cung đã chỉ, quả nhiên thấy có chữ Đào Vân Hạc đứng
trên hai dòng chữ con “Sơn tây - Đào nguyên”. Chàng điềm nhiên nói:
-
Ừ, có thế chứ. Nếu tao mà hỏng thì còn trời đất nào nữa.
Vân
Hạc, Đốc Cung vui vẻ quay ra cùng vơ vẩn trong đám đông để tìm những người quen
biết. Nhưng mà không gặp người nào, hai chàng bèn lững thững đi về nhà trọ. Vân
Hạc vừa đi vừa phàn nàn:
-
Tao về bây giờ chắc ông anh sẽ mắng tàn nhục.
Đốc
Cung an ủi:
-
Không sợ. Tao xem hai thằng anh mày cũng còn biết điều. Chúng nó có giận mày đi
nữa, cũng chỉ nhiếc móc qua loa, chứ không làm tàn nhẫn như người khác đâu. Vả
lại, còn phải nể mặt tao chứ. Nếu như chúng nó tàn nhẫn với mày, thì có khác gì
tàn nhẫn với tao?
Vân
Hạc lẩm bẩm:
-
Không biết đứa nào thóc mách mà các ông ấy lại biết chúng mình nằm ở nhà ấy?
Tao đồ rằng chỉ có thằng Mẫn. Bởi vì cái thằng đểu ấy xưa nay vẫn có cái tính
tâng công như thế.
-
Có lẽ. Tao cũng ngờ nó. Để rồi hỏi xem, nếu quả phải nó, thì chúng mình cũng
nên trừng trị cho nó chừa cái thói ấy.
Đốc
Cung đương sắp nói tiếp, thình lình một bọn độ năm, sáu người nghênh ngang tiến
đến trước mặt.
Khi
đã gần giáp Vân Hạc, Đốc Cung, họ vẫn dắt tay nhau, như định ngăn cản đường đi.
Một người trong bọn trừng mắt và thét:
-
Các anh có mắt hay không? Làm sao thấy người ta thế này vẫn cố sầm sập đâm vào?
Hơi
rượu theo với tiếng thét bay ra sặc sụa, làm cho Vân Hạc, Đốc Công biết ngay đó
là những vị anh hùng không có tên ở trên bảng, chỉ chực gây sự với bất kỳ người
nào. Hai chàng lễ phép xin lỗi, rồi lánh ra hai vệ đường để cho bọn đó đi lên.
Đi
một quãng dài, vừa gặp Khắc Mẫn lủi thủi bên đường, với bộ mặt thìu thịu. Vân Hạc
liền hỏi:
-
Thằng này đi đâu?
Khắc
Mẫn không trả lời và cũng không thèm trông lên. Đốc Cung không hiểu là vì cớ
gì, chàng hỏi tiếp:
-
Cái thằng làm sao mà lại mặt sưng mày sỉa lên thế? Không về sắp sửa đồ đạc để
mai vào trường, lại còn dẫn xác đi đâu?
Khắc
Mẫn dừng lại với bộ điệu hằm hằm tức giận:
-
Đi đâu mày hỏi làm gì? Ông bảo đừng xỏ. Vừa mới được vào một kỳ đã chực lên mặt
với ông phải không?
Hai
chàng không biết ý tứ Khắc Mẫn ra sao, Vân Hạc nói bằng giọng ngạc nhiên:
-
Mày điên đấy à, thằng Mẫn? Cớ sao tự nhiên vô cớ lại chực cà riềng cà tỏi với
chúng tao?
Khắc
Mẫn đổi giọng mát mẻ:
-
Thôi tôi cũng cảm ơn anh. Anh có lòng tốt đã giúp cho tôi một đoạn “hậu cổ” quý
hóa. Nhưng mà tôi chưa phạm húy, chưa bị tù tội anh ạ.
Rồi
thày lại vùng vằng đi không quay cổ lại.
Vân
Hạc phì cười và giục Đốc Cung:
-
Thôi đi! Mặc kệ nó. Hễ nó tự tử thì chúng mình chôn, cần gì.
Đi
vài chục bước ngoảnh lại trông thấy Khắc mẫn đã đi hơi xa. Vân Hạc hỏi Đốc
Cung:
-
Mày có biết làm sao không?
-
Nó tưởng nó hỏng, nên nó oán mày phản nó chứ gì! Tao cũng đoán thế, nhưng hãy cứ
im không bảo vội... Để nó khổ cực từ giờ đến chiều, cho nó chừa cái tội tâng
công đi đã.
Đốc
Cung đồng một ý ấy:
-
Tao cũng định thế.
Hai
chàng cùng quay đầu lại, vừa thấy Khắc Mẫn đi rẽ ra lối bờ sông. Đốc Cung hoảng
hốt:
-
Có lẽ nó tự tử thật mày ạ!
Vân
Hạc quả quyết:
-
Thằng ấy khi nào lại dám tự tử. Nó không phải đứa có gan như thế. Hãy cứ thây
nó.
-
Nhưng sợ nó yên chí bị hỏng và phát phẫn mà đi lang thang đâu mất, chúng mình
không biết đường nào mà tìm.
-
Ừ phải! Nếu không báo cho nó biết, lỡ nó kéo đi, không kịp vào trường ngày mai,
thì ra chúng mình ác quá.
Hai
chàng liền lật đật trở lại, đuổi theo Khắc Mẫn và gọi:
-
Mày không hỏng đâu, Mẫn ạ! Đừng đi tự tử mà mất mạng oan!
Khắc
Mẫn cũng quay mặt lại và nói bằng giọng căm tức:
-
Ông có tự tử cái con... ? Đừng trêu tiết ông mà không ra gì bây giờ. Hai thằng
xỏ lá!
Hai
chàng cùng cười sằng sặc.
-
Thằng chó! Cáu gì chúng ông! Hãy lại cửa trường mà xem. Chẳng tên thằng Nguyễn
Khắc Mẫn thì tên con chó ở bảng đấy à?
Khắc
Mẫn càng bước rảo cẳng và nói thật lớn:
-
Ừ! Tên con chó đấy! Hai con chó chứ không phải một. Con chó lớn ở làng Đào
Nguyên và con chó con ở làng Trúc Lâm.
Hai
chàng đều thấy bực mình, nhưng cố đuổi cho kịp Khắc Mẫn, rồi nói bằng giọng
nghiêm trang:
-
Sao anh lại tưởng anh hỏng?
Khắc
Mẫn vẫn cắm đầu đi không đáp. Vân Hạc, Đốc Cung hỏi với:
-
Thế thì mắt anh đã coi bảng chưa, hay là mới nghe thấy người ta nói?
Bấy
giờ Khắc Mẫn mới dừng chân lại:
-
Tao coi đã ba lần rồi?
-
Anh coi những bảng vi nào?
-
Tất cả bốn vi.
-
Vậy mà không thấy tên anh?
Khắc
Mẫn không nói vùng vằng toan đi. Hai chàng cũng cười:
-
Thế thì anh mù mất rồi? Ba chữ Nguyễn Khắc Mẫn lớn bằng cái mẹt ở bảng vi ất mà
không trông thấy có khổ không?
Khắc
Mẫn có ý nghi ngờ:
-
Các anh nói thật hay nói xỏ tao?
-
Nói thật chứ ai nói đùa làm gì? Anh hãy trở lại mà coi.
Khắc
Mẫn vẫn nhất định không tin.
-
Trở lại để chúng bay phỉ nhổ ông thêm một mẻ nữa, phải không? Đừng xỏ? Đây ông
ngần này tuổi đầu, khi nào phải lừa hai thằng ranh con!
Vân
Hạc không thể nhịn cười và không biết nói thế nào cho Khắc Mẫn tin. Đốc Cung cố
giữ nét mặt đứng đắn và ôn tồn:
-
Không? Chúng tôi không thèm lừa anh làm gì. Bảng có tên anh thật đấy. Trở lại
mà xem, rồi cùng trở về nhà trọ sắp sửa đồ đạc...
Khắc
Mẫn không để cho nói hết câu, liền gặng:
-
Nếu như không có tên tao, chúng bay làm sao?
Vân
Hạc vội thề:
-
Không có tên anh, chúng tôi sẽ xin cắp tráp cho anh suốt đời.
Khắc
Mẫn ngần ngừ nói gượng:
-
Ừ, ông bay kinh nghĩa mà được hai thằng này bưng tráp, đi hầu, thì cũng đáng đời.
Rồi
thày bèn theo Vân Hạc, Đốc Cung lại nẻo trường thi. Bấy giờ học trò đâu về đấy
cả, cửa trường chỉ còn lơ thơ ít người. Hai chàng dắt Khắc Mẫn đến cửa vi ất,
chỉ tay lên bảng và hỏi:
-
Tên mày hay tên con chó ở kia hở Mẫn?
Khắc
Mẫn sung sướng như người chết rồi lại được sống lại, thày ứa nước mắt vừa cười
vừa nói:
-
Quái lạ! Thế mà làm sao lúc nãy tôi trông đến ba bốn lượt đều không thấy cả?
Hay có đứa nào che mắt?
Lúc
ấy Vân Hạc mới cáu:
-
Chó nó che mắt mày à? Chẳng qua vì mày đã quá hoạn đắc hoạn thất, cho nên hoa cả
hai mắt không thấy gì nữa. Quân đê tiện! Làm bạn với mày nhục cả chúng tao!
Đốc
Cung mắng thêm:
-
Thảo nào ngày xưa có đứa cướp vàng giữa chợ mà không trông thấy người nào. Thằng
này nếu được thấy vàng, có lẽ nó cũng tối mắt như thế. Thôi hết kỳ này thì tống
nó đi trọ nhà khác! Không để cho nó ở chung, bẩn cả chúng mình.
Khắc
Mẫn nhăn răng cười khì.
-
Bây giờ các anh nói sao tao cũng phải chịu, chứ tao cãi sao cho kịp hai cái miệng
ấy?
Ba
người liền cùng quay về.
Mặt
trời vừa đến đỉnh đầu. Khí trời đã không lạnh lắm. Trong phố, hàng quà đã rao ấm
ơ.
Vân
Hạc, Đốc Cung vẫn chưa tan cơn tức cười Khắc Mẫn, hai chàng lại trêu:
-
Bây giờ chúng tao mới hỏi tội thằng Mẫn?
Khắc
Mẫn bẽn lẽn:
-
Ừ, tao còn tội gì nữa, thì nói nốt đi.
-
Sao mày dám hót với anh Hồng anh Bằng rằng chúng tao hát ở nhà con Phượng để
các anh ấy đi bắt chúng tao?
-
Ai bảo chúng bay như thế?
-
Chúng tao biết, chứ phải ai bảo. Không mày hót thì còn thằng nào vào đấy?
-
Thế thì làm sao đến ngày ra bảng chúng bay vẫn còn bê tha?
-
Bê tha mặc kệ chúng tao, việc gì đến mày? Lần này tha cho; lần sau, còn mách lẻo
nữa, chúng ông rút lưỡi.
Ba
người về đến nhà trọ. Vân Hạc, Đốc Cung vừa nhô vào cửa, Đoàn Bằng liền nói bằng
giọng thẽ thọt:
-
Thưa hai ngài đã về!
Vân
Hạc nín thít không dám nói gì. Đốc Cung pha trò:
-
Chả dám! Bẩm ngài! Ngài làm gì mà nghiêm khắc vậy!
Tiêm
Hồng cau mày:
-
Ngài dạy quá lời. Chúng tôi đâu dám nghiêm khắc với các ngài? Nhưng không biết
ngày mai các ngài có định thi nữa, hay là hoãn đến khoa sau?
Đốc
Cung kết thúc câu chuyện bằng một cuộc cười xòa. Vân Hạc giả vờ lảng xuống nhà
dưới, rồi chàng sẽ bảo thằng nhỏ nhà trọ sắp sửa đồ đạc và dặn chủ trọ mua các
thức ăn, làm sẵn, để ngày mai cho cả bọn vào trường.
➖➖➖
Chương
10
Con
gà của nhà hàng xóm bắt đầu gáy tiếng thứ nhất, ông chủ nhà trọ đã lên nhà trên
đánh thức những ông khách trọ.
Anh
em Vân Hạc và Đốc Cung, Khắc Mẫn hoảng hốt tung chăn ngồi dậy. Trước ánh lửa
đùng đùng của ngọn đóm nỏ trong tay ông chủ, mọi người áy ó dụi mắt trông ra
ngoài sân. Trời vẫn còn tối mù mù. Mấy tàu lá chuối sau nhà đương phì phạch
đánh nhau với ngọn gió bấc. Hơi rét thấu đến tận xương.
Lần
lượt châm lửa vào mấy đọi đèn trên những chiếc quang treo lủng lẳng ở dưới sàn
nhà, ông chủ vui vẻ đi xuống nhà dưới.
Thằng
nhỏ nhanh nhẩu đệ lên dãy phản của các ông khách hai cái hỏa lò than đỏ rừng rực.
Rồi một thằng khác đem tiếp vào đó tất cả một bộ khay chén và một ấm siêu nước
sôi.
Vân
Hạc dịch ra giữa phản vừa pha nước, vừa khoác cái chăn sù sù.
Ngoài
sân vẫn gió to, thỉnh thoảng lại có giọt mưa lách tách rỏ xuống tàu chuối.
Gà
gáy giục, cuộc trà vừa tan. Một nai rượu và một mâm đồ ăn lù lù tiến lên thay
chỗ cho bộ ấm chén.
Ông
chủ vui cười nói với bọn khách:
-
Thưa các ngài, hôm nay là ngày vào kỳ đệ nhị các ngài tuy không dặn làm, nhưng
tôi thành tâm sửa thêm nai rượu, xin mời các ngài xơi tạm để giúp thêm cho khiếu
văn.
Tiêm
Hồng lễ phép cám ơn và bảo ông ấy vào ngồi uống rượu. Nhưng mà ông ta từ chối
không dám, rồi xuống nhà chơi.
Vân
Hạc, Đốc Cung quay vào rót rượu, so đũa.
Tuy
rằng ai nấy vẫn chưa hết cơn dở ngủ, uể oải không muốn ăn uống, nhưng cuộc rượu
vẫn cử hành trong một cảnh tượng vui vẻ. Riêng có Khắc Mẫn chỉ nhắp vài hớp, rồi
gọi thằng nhỏ lấy cơm. Thày kéo một mạch hết bốn, năm bát, rồi đứng phắt dậy, rửa
miệng, uống nước và đi sắp sửa đồ đạc của mình.
Gió
vẫn thổi dữ. Mưa càng nặng hột hơn trước.
Trời
càng tối đen như mực. Khắc Mẫn rối rít giục bọn Vân Hạc uống rượu phiên phiến để
đi ra trường. Nhưng bọn này vẫn cứ kề cà chén thù, chén tạc. Nóng ruột. Khắc Mẫn
liền bảo thằng nhỏ châm đuốc cho mình. Rồi thày giở một chiếc áo tơi khoác vào
lưng và lấy lều, chiếu, yên lọ, đeo hết lên cổ. Với dáng bộ lật đật, thày nhìn
vào bọn Vân Hạc.
-
Các anh ra sau nhé! Tôi phải đi trước, vì tôi phải vào trước các anh.
Đốc
Cung mỉm cười:
-
Sao mày tự làm khổ cái thân mày như vậy? Bây giờ quan trường còn ngủ, chứ dễ
người ta đã ra cửa trường để đón mày vào đó chắc? Ra từ bây giờ để đứng cửa trường
mà run đấy à!
Khắc
Mẫn không trả lời. Tất tả bước luôn xuống thềm. Cả bọn trong này đều cười sằng
sặc. Giây lát thấy thày bước lên, mỗi người hỏi mỗi câu:
-
Không đi nữa à?
-
Quên cái gì đấy?
Khắc
Mẫn không để ý đến những câu hỏi ấy, thầy lừ lừ nhìn mặt Tiêm Hồng:
-
Tôi sẽ đóng ở gần nhà Thập đạo. Lát nữa bác vào thế nào cũng đến đấy nhé.
Tiêm
Hồng gật đầu, Khắc Mẫn lại lật đật xuống thềm, rồi đi, Đốc Cung vừa cười vừa
nói:
-
Cái ngu nó làm cho người ta phải khổ như thế.
Vân
Hạc đón lời:
-
Vì nó nhiệt tâm về công danh, ngồi đây sốt ruột không chịu được, cho nên phải
đi. Chứ nó cũng không quá ngu đến nỗi không biết bây giờ quan trường chưa ra,
ra đó cũng đến đứng đó.
Gió
lạnh.
Mưa
đã nhẹ hột.
Ngoài
sân trời sáng mờ mờ.
Nai
rượu cũng đã gần cạn. Mọi người bắt đầu ăn cơm.
Cuộc
rượu tan, ngoài phố có tiếng người đi rầm rập. Tiêm Hồng gọi thằng nhỏ đem hết
lều, chiếu, yên, tráp lên đó, để ai nấy kiểm điểm một lượt xem có quên thiếu thức
gì hay không.
Đoàn
Bằng ngó ra ngoài sân rồi nói:
-
Mưa to thế này, chắc là trong trường lội lắm. Bây giờ giữ sao cho hai cái chân
khỏi lấm?
Đốc
Cung phụ họa:
-
Ừ, nếu chân lấm mà ngồi lên chõng, có khi nó sẽ giây ra quyển văn...
Vân
Hạc nói:
-
Thôi thì mỗi người đành phí một đôi bít tất. Bây giờ cứ đi bít tất mà lội bùn.
Vào trường, đóng lều xong, sẽ tháo vứt đi.
Tiêm
Hồng khen:
-
Cái đó thông đấy. Cũng chỉ còn có cách ấy có thể làm cho chân sạch.
Rồi
cả bốn người cùng đội nón, khoác áo tơi, hai chân xỏ bít tất, sàm sạp bước xuống
sân đất, với những đồ đạc đeo xúc xích ở vai và cổ.
Vân
Hạc ra bộ cáu kỉnh:
-
Cái nước nhà mình nghĩ cũng buồn cười. Bao nhiêu ông to, ông lớn, làm rường,
làm cột cho nước nhà đều ở thi mà ra, thế mà làm sao người ta lại không chịu
làm vài chục gian nhà, để cho chúng mình ngồi thi?
Đoàn
Bằng cắt nghĩa:
-
Không phải các cụ ngày xưa đều không nghĩ đến điều đó. Nhưng trong trường thi
hương, không thể cất nhà cho học trò ngồi thi. Là vì học trò đông quá, cất đến
mấy chục gian nhà cũng không đủ chứa. Vả lại, thi ở giữa trời, các quan ngự sử
còn có thể đứng trên chòi mà nhìn xuống dưới để rình những kẻ gian lận, chứ nếu
thi ở trong nhà, thì các ông ấy ngồi đâu mà canh?
Đốc
Cung ngắt lời:
-
Thì quan ngự sử cứ vào trong vi mà coi chẳng được hay sao? Sao lại cứ phải đứng
ở trên chòi mới được?
Tiêm
Hồng đáp:
-
Không được! Các ông ngự sử cũng đều là người biết chữ. Nếu vào trong vi, lỡ các
ông ấy gà cho học trò thì sao? Bởi vì cần phải phòng bị chỗ đó, cho nên, người
ta mới cắt các ông đề điệu phải đem đầu bài xuống dán ở trong các vi. Ông đề điệu
là người dốt đặc một chữ không biết, không thể gà cho ai được.
Đốc
Cung đương toan nói thầm đằng sau bỗng có tiếng kêu “trời”, làm cho ai nấy đều
phải giật mình quay lại.
Một
ông cụ già đầu bạc râu bạc đương nằm chỏng gọng trên đường, cuộn áo lều gác
chéo giữa cổ, chiếc chõng tre và cái tráp sơn đè xấp đè ngửa trên bụng.
Thì
ra, vì đường trơn quá, ông cụ tuổi già sức yếu bị toại, không thể gượng nổi, phải
ngã bổ kềnh ra đó.
Cả
bọn vội vàng chạy lại, kẻ nhấc lều chõng, người nâng ông cụ trở dậy. Ông cụ chỉ
run cầm cập, mặt mũi xám ngắt, không thể nói được một câu nào.
Vân
Hạc vừa dắt ông cụ vừa lẩm bẩm:
-
Khốn nạn! Bấy nhiêu tuổi đầu, còn thi với cử làm gì cho khổ thế này?
Đốc
Cung có ý ái ngại ông cụ, chàng nói:
-
Trời đang mưa rét, ông cụ già nua như vậy, nếu vào trường chưa chắc đã viết được
văn. Hay là chúng mình hãy đưa ông cụ vào một nhà nào gần đây, để cho ông cụ nằm
nghỉ.
Ông
cụ khi ấy đã hơi hoàn hồn, nghe nói, vội vàng xua tay và cất cái giọng run run:
-
Các thày... hãy cứ làm ơn dắt lão đến cửa trường... Lão thi đã sáu khoa rồi,
khoa này mới được vào kỳ đệ nhị, sống chết lão cũng vào trường cái đã.
Vân
Hạc cố gàn:
-
Nhưng mà chúng tôi sợ cụ không thể chống nổi với sức mưa rét...
Ông
cụ vẫn vừa run vừa nói:
-
Nhất là chết ở trong trường lão cũng cam lòng.
Tiêm
Hồng lại hỏi:
-
Cụ vào vi nào?
Ông
cụ đáp bằng tiếng tai:
-
Lão vào vi tả.
Vân
Hạc nhanh nhảu tiếp lời:
-
Vậy thì cụ đi với tôi! Tôi cũng vào vi tả đây!
Bốn
người bèn cùng chia nhau mỗi người mỗi việc: kẻ xách yên, người đeo lều chõng,
kẻ cầm cánh tay phải, người nắm cánh tay trái, cùng dìu ông cụ đi đến cửa trường.
Trong
trường vừa nổi một hồi trống cái báo tin quan trường sắp ra.
Trên
khu đất trước cửa vi giáp, học trò đã đến tấp nập.
Kỳ
này bị hỏng rất nhiều, số người chỉ độ bằng một phần ba kỳ trước. Mọi người
trao trả ông cụ các thứ đồ đạc, rồi cùng chia ngả đi tới các vi. Vân Hạc dắt được
ông cụ đến cửa vi tả, người lính cầm loa ở cạnh ghế chéo đã bắt đầu gọi tên học
trò.
Chiều
trời tự nhiên lại thấy tối sầm. Gió bấc lại nổi ào ào. Mây đen tự nẻo chân trời
đùn đùn tiến lên giữa trời, và lan ra khắp bầu trời. Đánh nhoáng một cái, mọi
người đều phải lóa cả hai mắt. Vòm trời đen kịt như bị nứt ra nhiều vết, những
luồng chớp nhoáng chói lọi đồng thời bật ra và thi nhau vằn vèo chạy đi chạy lại
như đàn rắn vàng. Tiếng sét đoành đoành nổi lên như phá góc trời tây bắc; nó dồn
nhau, nó đuổi nhau, nó ù ù đưa nhau sang mãi góc trời đông nam, làm cho tầng
không chuyển động như sắp sụp đổ.
Hột
mưa lớn bằng quả ổi lác đác sa xuống mặt đất xuống nón học trò, và lộp bộp rơi
xuống đôi lọng xanh của ông phân khảo đương chễm chệ ngồi trên ghế tréo với áo
thụng xanh, mũ cánh chuồn và cây hốt ngà voi.
Công
việc lúc này có vẻ cấp bách.
Người
lính cầm loa luôn luôn thét không dứt miệng. Mỗi tên một người học trò chỉ được
gọi đến hai lần. Nếu ở dưới không có tiếng thưa, tức thì người ta gọi luôn tên
khác. Bọn lính thể sát làm việc cũng rất lạo thảo. Với các đồ đạc của học trò,
họ chỉ nhòm ghé qua loa, thấy không có vẻ khả nghi thì thôi.
Trời
cũng dọa chứ chưa làm thật. Sau khi học trò, quan trường, lính tráng vào hết
trong trường, gió vẫn ào ào, sấm vẫn ù ù, chớp vẫn nhấp nhoáng, nhưng cơn mưa vẫn
không lớn thêm. Người ta đoán rằng trời mưa để làm hoa rét, chứ cái tiết mùa
đông, tháng giá, ít khi thấy có mưa to. Mà thật vậy, chỉ có cái rét là đáng ghê
sợ. Được có mưa gió giúp sức, cái khí hậu tai ác đó môi lúc mỗi tai ác thêm, nó
làm cho nhiều người học trò chân tay run lẩy bẩy, mặt mũi không còn sắc máu,
hai môi xám nhợt như kẻ ngã ao. Nhất là mấy ông hàn sĩ áo đơn quần mỏng lại
càng bị nó hành hạ cực khổ, lắm người cóng đờ cả mười ngón tay, không thể cắm
được bộ giọng lều. Vân Hạc cũng không khỏe mạnh hơn ai, chàng cũng lập cập hai
hàm răng làm một, tuy trong mình đã quấn mấy lần áo bông áo kép. Lóng ngóng bằng
đến nấu chín nồi cơm, chàng vẫn chưa lợp được kín cái lều.
Bởi
vì ngọn gió quái ác thúc vào đùng đùng, cái áo lều buộc được bên nọ, thì bên
kia lại bật ra rồi, có khi nó còn nhổ cả giọng lều lên nữa. May quá, hôm nay
chàng vẫn đem theo bốn chiếc cọc nhỏ và một chiếc dùi đục, chàng dùng dùi đục
đóng chặt bốn cái cọc ấy cho đầu nó xuống sát mặt đất rồi mới buộc chằng vào bốn
góc lều.
Nhờ
vậy, cái lều mới khỏi lung lay.
Hai
bên đầu lều đã được che kín bằng hai chiếc áo tơi chàng đem cái chõng đặt vào
trong lều, rồi toan tháo bít tất bỏ đi. Nhưng lát nữa còn phải đi lấy đầu bài,
nếu bỏ bít tất thì chân lại lấm, lấy gì mà lau. Nghĩ thế, chàng lại cứ để cả
đôi bít tất ngồi thõng hai chân xuống đất và giở đá lửa đánh lửa hút thuốc. Đôi
tất lúc ấy đất nhả bết vào đã thành một đôi ủng đất, nó làm cho chàng hai chân
nặng trĩu, hơi rét tê dại da thịt.
Cái
chòi gần nhà Thập đạo thong thả điểm một hồi trống cái. Quan trường phân phát
những mảnh giấy viết đầu bài cho hai ông chánh phó đề điệu và các lại phòng đem
dán ở bảng các vi. Theo như thí pháp mới định, kỳ đệ nhị có một bài thơ và một
bài phú.
Thơ
là: “Bang gia chi quang” thể thất ngôn, vần thập tứ diêm.
Phú
là: “Sĩ nguyện lập sư triền thể luật phú”, vần “nhân chính khả duyệt
thiên hạ chi sĩ”, tất cả tám chữ, theo lối thuận áp.
Vân
Hạc coi qua đầu bài rồi trở về lều. Chàng tháo bít tất quăng xuống xó lều và giở
ống quyển lấy quyển nắn nót viết năm chữ lớn “Bang gia chi quang thi” và
tám chữ con “dụng thất ngôn luật, thập tứ diêm vận” chàng lại bỏ quyển
vào ống, bó gối ngồi nghĩ thế cục của tám câu thơ.
Gió
lại thổi dữ. Sấm sét lại nổi ầm ầm. Nước mưa ở đâu đổ xuống sún sụt. Cái lều của
chàng tuy đã có cọc buộc ghì xuống đất, nó vẫn vẹo vọ rung rinh mỗi khi gặp một
cơn gió giật. Chốc chốc chàng lại cứ phải nắm lấy gọng lều và ấn xuống đất cho
lều khỏi bung.
Càng
về gần trưa, mưa càng dữ dội. Các rãnh trong vi đều thành luồng nước trắng xóa.
Bong bóng nổi trên mặt nước lềnh bềnh. Một lát sau, nước dềnh lên khỏi mặt
rãnh, nó tràn vào lều và lênh láng chảy qua gầm chõng.
Vân
Hạc đương ngồi trên chõng, gục đầu vào chiếc yên gỗ, hí hoáy viết mấy câu thơ,
chợt thấy cái chõng tự nhiên thấp xuống dần dần, rồi nó lún xuống đến sát mặt đất,
bùn nước theo khe nan chõng phòi cả lên trên mặt chõng.
Cái
gì mà lạ thế nhỉ?
Thì
ra khu đất trường thi, mấy tháng trước đây, chỉ là những ruộng lúa mùa. Kỳ thi
sắp tới, lúa cũng vừa chín. Sau khi lúa cắt hết rồi, người ta đem trâu cày lên
và đập qua loa cho vỡ những tảng đất lớn. Rồi họ đánh thành từng luống như luống
khoai sọ để cho học trò cắm lều lên trên. Kỳ trước được trời nắng ráo, xéo vào
luống đất lổn nhổn, tuy có đau chân, nhưng còn sạch sẽ một chút. Bây giờ gặp
hôm mưa to, luống đất bị nước ngấm vào, nó đã thành ra luống bùn, không đủ sức
để đỡ cái chõng và một người ngồi. Vì vậy cái chõng mới phải thụt xuống, thụt
cho đến khi bốn chân ngập hết như bốn cái cọc mới thôi.
Vân
Hạc cũng như hết thảy mọi người, tuy ngồi trên chõng vẫn không khác gì ngồi dưới
đáy ao, đít áo, đũng quần, nước bùn thấm vào bê bết. Gió bấc như có thù riêng,
luôn luôn quạt cho giọt mưa hắt vào các khe lều. Vì sợ nước bắn vào, quyển thi
sẽ bị tỳ ố, chàng phải quay lưng ra phía ngọn gió, để lấy lưng làm cái bình
phong chắn cho hạt nước tàn ác khỏi bay vào đến quyển văn. Nhưng cái lưng chàng
không phải là vật kỵ gió, kỵ mưa, nước mưa theo gió hắt vào, nó đã thấm qua mấy
lần áo bông, áo kép lọt tới da thịt. Cái nước lúc ấy mới độc làm sao, nó vào đến
đâu, chàng thấy ở đấy cứ buốt thơn thớt như bị tên bị độc bắn phải; miệng thít
tha, tay run lẩy bẩy, chàng không thể nào cầm bút mà viết, tuy chàng đã nghĩ được
xong bài thơ, một vần “lung” một vần “nhập đề” và một vần “thực” của bài phú.
Cái làm cho chàng phải lo hơn nữa là việc lấy dấu “nhật trung”. Quyển của chàng
đã viết được ba dòng rưỡi ở trang đầu, nghĩa là đến chỗ đóng dấu nhật trung rồi
đấy, nhưng mà dấu ấy chưa có, thì còn cứ phải để đó không được viết tiếp xuống
dưới. Lúc tạnh ráo, công việc ấy cũng còn phải chờ, phải đợi, phải chầu chực mất
nhiều thì giờ, huống chi bây giờ, mưa gió ầm ầm, đi bằng cách nào cho đến được
nhà Thập đạo mà không bị ướt?
-
Thà bỏ mẹ nó mà ra cho rảnh. Thi với cử thế này thật là nhục hơn con chó. Dù có
đỗ đến ông gì, làm đến ông gì, cũng không bõ công.
Chàng
vớ luôn lấy quyển văn, đã toan xé toạc làm đôi. Thình lình lại nhớ ra rằng: dù
không thi nữa, cũng phải đem nộp quyển trắng thì mới ra được. Nếu không có quyển,
bọn lính canh cửa tưởng mình vào làm gà, chúng sẽ bắt bớ lôi thôi. Rồi chàng lại
nghĩ: nếu nộp cái quyển có vài dòng chữ tất nhiên sẽ bị liệt vào hạng “duệ bạch”,
rồi nó đem tên tuổi mình yết ra bảng con thì mình sẽ bị mang tiếng viết không nổi
quyển....
Liều
tình với trời, chàng lại cắn răng ngồi mà nghĩ nốt mấy vần phú nữa.
Gió
đã yếu dần, mưa cũng nhỏ dần. Thẳng trên đỉnh đầu, mặt trời đã nhỏn nhoẻn ngó
xuống nhân gian bằng bộ mặt tẻ bẽ như bị xấu hổ.
Vân
Hạc vội vàng cầm chiếc ống quyển đi thẳng đến nhà Thập Đạo.
Trong
vi bắt đầu nhốn nháo. Kẻ ở phía tả chạy sang, người ở phía hữu chạy lại, quang
cảnh không khác một đám trốn loạn. Hết thảy mấy trăm con người, ai cũng như ai,
mặt tái mét, môi thâm xì, quần áo lấm bê lấm bết, như người đào dưới đất lên.
Trên
các luống bùn úng ình, và các rãnh nước lênh đênh, gọng lều, áo lều, áo tơi,
chiếu cói, giấy bút, lổng chổng ngổn ngang, không khác khu chợ sau một cơn
giông bão.
Té
ra trong lúc mưa gió dữ dội, đã nhiều cái lều không thể đứng vững, bị gió cuốn
đi, và cũng lắm ông học trò rét quá, không thể ngồi mà viết văn, đành nộp quyển
trắng để tháo lấy thân.
Trong
nhà Thập đạo, người đông như một buồng trò. Ngoài bọn quan trường, lại phòng và
lính canh gác lại thêm những ông cụ già vì lều trốc, lều dột, xin vào làm văn tại
đó. Vân Hạc mới chìa ống quyển qua bức rào nứa, một người lính tức thì chạy ra
đón lấy và đưa vào nhà Thập đạo cho người lại phòng. Mưa rét cũng có cái lợi,
nó lợi cho cái ống quyển không phải nằm chờ phút nào, người lại phòng nhanh nhảu
mở ống lấy quyển đóng dấu, rồi lại chuyển cho người lính đưa ra trả chàng.
Thế
là xong cái nạn lấy dấu nhật trung.
Bây
giờ trong trường, có rất nhiều nước, nước ở các vũng, các rãnh dềnh lên, lênh
láng khắp chung quanh lều. Bì bõm trao chân vào cải vũng nước cạnh lều, chàng sẽ
kiễng chân bước vào mặt chõng. Cái chõng tuy bị dìm dưới bùn, nhưng quần áo
chàng lau mãi từ sáng đến giờ, nó cũng không lấm lắm nữa.
Chĩnh
chệ ngồi xếp bằng tròn trên chõng, chàng mở tráp lấy cuộn giấy bản để chùi mặt
tráp cho khỏi ẩm ướt. Trong bụng đã thấy hơi đói, chàng bèn giở các quà bánh,
ăn chập ăn chuội vài miếng, rồi mới cắm đầu vào viết. Lúc đầu tay hãy còn cóng,
nét chữ hãy còn hơi run nhưng chàng viết độ vài dòng, thì tay lại thuần, chữ lại
hoạt bát như trước.
Mải
miết viết luôn một mạch, chừng nửa buổi chiều thì đến vần “chi”. Trời lại tự
nhiên sầm tối, rồi lại mưa gió sấm sét ầm ầm. Bây giờ lại càng rét hơn sáng
ngày. Quần áo tuy đã khô ráo, mà chàng luôn luôn thấy như nước đổ vào lưng, da
thịt cứ buốt thon thót.
Bấm
gan viết nốt vần “sĩ” chàng đọc lại quyển từ đầu đến cuối để đếm những chữ xóa,
sót, móc, chữa và biên vào dưới chữ “cộng quyển nội”. Thoát nạn.
Thôi,
còn tiếc gì của nữa, chàng bỏ tất cả lều chõng đồ đạc, chỉ cởi lấy đôi áo tơi,
để khoác vào mình cho khỏi mưa ướt, rồi chàng đội nón và cầm ống quyển đi ra.
Tuy
chưa có trống thu quyển, nhưng cái cửa sang nhà Thập đạo đã ngỏ, chàng đến trước
nhà Thập đạo và đưa quyển văn ra nộp, vừa gặp lúc ông chủ khảo vơ vẩn ở đó.
Ngài tự đón lấy quyển văn của chàng và mở ra coi mấy câu ở đầu trang. Rồi ngài
lẩm nhẩm gật đầu và khen:
-
Giỏi lắm! Mưa rét như vậy mà còn viết được những câu như thế này, đáng sợ thật!
Có lẽ thủ khoa sẽ về người này....
Thì
ra trong trường lúc ấy, trừ ra những người rét không viết được, phải trả quyển
trắng di ra, chàng tức là người nộp quyển thứ nhất. Vì vậy mới được quan trường
ngó đến. Trước sự khen ngợi của ông chủ khảo, chàng cứ im lặng qua cửa chính
trước nhà Thập đạo rồi ra.
Ngoài
trường lại càng rét dữ. Đường đi vừa lội vừa trơn như mỡ, chàng dò mãi không được
một bước.
Hạt
mưa tua tủa như những mũi tên, luôn luôn theo gió bắn vào mặt chàng. Chàng
đương đập hai hàm răng để chống lại với mưa và gió, thình lình thấy có tiếng hỏi:
-
Thưa ông đã ra.
Nhưng
chàng không thưa vì không biết người ta hỏi ai. Tiếng hỏi lại cố tranh với tiếng
gió:
-
Ông Hạc? Lều chõng của ông đâu cả?
Chàng
vội nuốt những giọt nước tràn chua trên mặt để mở mắt nhìn xem người nào. Nhưng
cái mặt người ấy đương bị tùm hụp dưới chiếc nón sơn khiến chàng nhìn mãi mới
biết đó là thằng bếp nhà trọ.
Chàng
hỏi:
-
Anh đến đây làm gì?
Thằng
bếp chạy đến nắm cánh tay chàng dắt đi và đáp:
-
Ông chủ sai con ra đón lều chõng cho các ông. Sao ông lại không đem đồ đạc gì về
thế này?
-
Ai có phải tội mà đèo bòng những của tội ấy? Tao bỏ hết trong trường rồi.
Thế
thì ông để con dắt ông vậy.
Vân
Hạc nói không ra hơi:
-
Thôi anh ở đây đợi các ông kia. Nếu các ông ấy đem lều chõng ra, thì anh đeo
giúp cho họ, tôi đi về một mình cũng được, không phải dắt.
-
Bây giờ vẫn chưa có trống thu quyển, những ông kia có lẽ còn lâu mới ra. Vậy để
con đưa ông về, rồi lại ra đây đón các ông ấy cũng vừa.
Lúc
này cơn rét như đã ngấm vào trong tim phổi, chàng chỉ lẩy bẩy chực ngã, tưởng
như nếu đi một mình, không khéo thì không về được đến nhà. Vì vậy chàng không từ
chối cái hảo tâm của anh bếp.
Bì
bõm lội trên con đường lênh láng bùn ba, chàng đã mấy lần trượt chân chực lăn
xuống đất, tuy đã được có thằng bếp khỏe mạnh làm cột cho mình nương tựa.
Tới
nhà trọ, trời đã gần tối. Ông chủ trọ sốt sắng đợi ở trước cửa. Thấy chàng, ông
ta đon đả chào hỏi:
-
Ối chà. Rét quá, ông nhỉ! Tôi không thấy khoa nào đương thi lại bị mưa gió dữ dội
thế này. Xin mời ông vào trong nhà sưởi ấm cái đã, rồi sẽ thay đổi quần áo.
Vân
Hạc chỉ nói được một tiếng vâng. Rồi chàng run rẩy bước lên trên thềm.
Giữa
gian nhà giữa, đống củi đương nỏ đùng đùng, mấy chiếc ghế nhỏ la liệt bày khắp
chung quanh.
Chàng
không kịp rửa hai chân lấm, chỉ lật được chiếc nón sơn và đôi áo tơi quăng ra
giữa nhà, rồi sà luôn vào chiếc ghế gần nhất ở cửa.
Độ
một giờ sau, Đốc Cung, Tiêm Hồng, Đoàn Bằng lần lượt tiến về. Ai cũng như nấy,
quần áo lấm như trâu vùi, mặt mũi không còn sắc máu. Trời đã tối mịt, mới thấy
Nguyễn Khắc Mẫn với tất cả đồ đạc lỉnh kỉnh của thày.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét