2022-11-26
Lều
Chõng (13, 14)
Ngô
Tất Tố
Chương
13
Đêm
qua với Vân Hạc, Đốc Cung lại là một cuộc phục thù của hai con mắt. Bởi vì sau
bữa cặm cụi từ sáng đến tối mịt ngắm vuốt từ cái nét móc trở đi để viết cho rồi
một bài văn sách chừng bảy, tám tờ, hai chàng chỉ cho đôi mắt yên nghỉ một đêm.
Đến trưa hôm sau, khi mà Đoàn Bằng, Tiêm Hồng bước ra khỏi cửa để cùng về quê
báo tin cho dì ghẻ và ông anh cả biết sự may mắn của mình trong kỳ đệ tam thì
Vân Hạc liền bị Đốc Cung nhắc tới số bốn nén bạc của Trần Đức Chinh và bắt phải
lên hàng Lờ lập tức.
Ở
lầu hồng không khác gì ở nhà trọ, danh giá của người học trò đã vào tam trường
lại tôn gấp mấy cái khi mới vào nhất trường. Vả lại đối với hai chàng đào Phượng,
đào Cúc vẫn là hoa xưa, ong cũ, cái cuộc gặp gỡ sau hai mươi ngày cách biệt tự
nhiên phải đằm thắm hơn lúc bắt đầu biết nhau.
Trong
lúc bước chân ra đi, Vân Hạc đã hẹn Đốc Cung chỉ nghe một vài khổ trống rồi về.
Không ngờ trước vẻ yêu kiều nũng nịu của đôi hoa khôi, hai chàng đều không đủ
bóng vía để chống lại với sức cám dỗ. Thế rồi cuộc truy hoan kéo dài đến bảy
đêm ngày.
Ngông
nhất là đêm hai ba tháng mười.
Vào
khoảng chập tối một lúc trời tuy lạnh nhưng rất sáng sủa. Vầng trăng hạ huyền từ
từ ở phía chân trời tiến lên và nhòm thẳng vào khe cửa sổ phía đông. Nhân một
câu cao hứng nói đùa của Vân Hạc, Đốc Cung liền bắt đào Phượng, đào Cúc cùng mấy
ả nữa và một anh kép mang cả đàn, trống, sênh, phách lên phía bờ sông. Thêm vào
đó lại có mấy người học trò cụ bảng Tiên Kiều bị kéo đi nữa. Cả bọn đến thẳng bến
đò. Sau khi thuê được hai chiếc thuyền lớn, mặc cả phải chở suốt đêm, Vân Hạc,
Đốc Cung liền bảo chân sào vào phố mua rượu và các đồ nhắm đem câu xuống thuyền.
Rồi
sai nhổ neo cho thuyền xuôi mãi xuống phía Đồn Thủy. Sông cạn, sóng êm, đôi
thuyền kèm nhau lờ đờ trôi dưới ánh trăng. Ngồi trên mạn thuyền ngó xuống đáy
nước có thể trông thấy mình đương lơ lửng trong một biển vàng. Đàn bắt đầu dạo,
phách bắt đầu điểm. Tiếng hát bắt đầu thánh thót. Cuộc rượu dần dần đi từ chỗ
êm đềm đến chỗ nồng nàn. Giữa những tiếng cười nói huyên thiên, Đốc Cung tự
nhiên gật gù và ngâm:
“Mộc
lan chi tiếp sa đường châu.
Ngọc
tiêu, kim quản tọa lưỡng đầu,
Mỹ
tửu tôn trung trí thiên hộc,
Tái
kỹ tùy ba nhiệm khứ lưu... “ ①
Rồi
chàng rung đùi:
-
Cái cuộc đêm nay của chúng mình, thật đúng với bốn câu đó. Thế mới biết Lý Bạch
là tay chơi sành.
Và
chàng nhìn vào Vân Hạc:
-
Mày vẫn tự phụ giỏi nôm, hãy thử dịch mấy câu ấy ra điệu lục bát xem sao.
Vân
Hạc ngẫm nghĩ một lát rồi đọc:
“Trèo
đường đưa chiếc thuyền nan,
Quản
vàng, tiêu ngọc thổi ran đôi đầu,
Rượu
ngon để sẵn nghìn bầu,
Chở
đào, theo sóng, mặc dầu ngược xuôi...”
Cả
bọn đều tấm tắc khen hay, riêng có Đốc Cung chê rằng chữ “đào” không “ổn”.
Nhưng không tìm được chữ gì khác thay vào, chàng muốn đổi hai câu đó như vậy.
“Đào
mấy ả, rượu nghìn bầu,
Chở
theo con sóng mặc dầu ngược xuôi”.
Mọi
người cân đi, nhắc lại hồi lâu, ai nấy đều bảo câu của Đốc Cung tuy không đúng
nghĩa, nhưng còn thoát hơn của Vân Hạc. Rồi họ bàn nhau dùng bốn câu ấy làm bốn
câu mẫu và bắt Vân Hạc, Đốc Cung làm tiếp một bài hát nói tức cảnh đêm ấy, Vân
Hạc mở đầu:
“Thủy
thiên nhất sắc,
Giữa
vừng không vằng vặc mảnh trăng treo.
Đôi
thuyền con đủng đỉnh đua chèo,
Đội
mặt sóng, tiếng đàn theo tiếng phách.”
Đốc
Cung tiếp theo:
“Giục
hiệu Tô công ca Xích Bích,
Cánh
liên Bạch phó oán Tầm Dương.
Thú
yên hoa âu cũng nợ văn chương,
Dưới
bóng nguyệt, chén vàng chi để cạn?”
Đến
lượt Vân Hạc:
“Cơn
đắc ý hãy chơi cho chán,
Kiếp
trần ai, ba vạn có là bao
Nghìn
xưa hiền thánh đâu nào?”
Hai
chàng đọc cho đào Phượng, đào Cúc cùng nhẩm, và bảo hai ả cắt lượt mà hát. Đêm
càng khuya, cuộc rượu càng lơi lả. Tiếng hát khi chìm, khi bổng, theo với dịp
khoan nhặt của phách và đàn, càng giúp thêm cho hứng rượu.
Trên
phố lúc ấy không còn hơi một tiếng động.
Mặt
sông cực kỳ tịch mịch. Mấy đoàn thuyền bè, giống như những đàn vịt ngủ hết, hết
thảy im lặng rúc đầu vào bờ. Vân Hạc tình cờ ngồi trong mui thuyền ngó ra,
chàng tưởng như khắp cả vũ trụ, chỉ có bọn mình và vầng trăng khuya còn thức. Một
lát sau, đào Phượng đọc hết bài phú Xích bích, tiếp đến bài hát Tỳ bà, Đốc Cung
ra bộ thích ý và khen:
-
Ngồi trên mặt nước mà hát hai bài hát ấy mới là hợp cảnh. Không hiểu từ xưa đến
giờ, đã ai thưởng thức cái thú ấy chưa?
Vân
Hạc đón lời:
-
Không phải bây giờ chúng mình hưởng cấi thú ấy là lần đầu tiên. Ngày xưa các cụ
đã hưởng chán rồi. Và vì thủa xưa, cô đào không có nhà riêng, các cụ muốn nghe
hát mà không tiện đem về nhà mình, cho nên phần nhiều phải hát dưới thuyền. Bởi
vì ngồi ở thuyền dưới bóng trăng, thấy nó hợp với cảnh tượng trong Tỳ bà hành của
Bạch Cư Dị và Xích bích phú của Tô Đông Pha, cho nên các cụ mới diễn cả hai bài
ấy ra điệu hát tả, để bắt ả đào ngâm đọc. Về sau những phường tục tử, đua đòi
các cụ, thi nhau đem những bài ấy mà hát ở nhà cô đào, ấy là vì họ không hiểu cái
hay của nó. Các anh thử nghĩ mà xem, ngồi trên mặt phản mà nghe những câu:
“Say
cũng luống, ngại khi chia rẽ,
Nước
mông mênh dầm vẻ trăng trong,”
Hay
là:
“Thuyền
mấy lá, đông tây lặng ngắt,
Một
bóng trăng trong vắt lòng sông,”
thì
phỏng còn có nghĩa lý gì nữa?
Trời
gần sáng. Trăng càng lên cao, ánh trăng tỏa xuống lòng sông sáng như ban ngày.
Hứng rượu mỗi lúc mỗi thêm hăng hái. Người nọ dốc mãi rượu vào chén người kia.
Dần dần, cả đám đều say dí dị, ai nấy gục đầu xuống cạnh chiếu rượu mà ngáy.
Sáng
hôm sau Vân Hạc dậy trước, trông thấy mấy người ngổn ngang nằm quanh một đám
chén bát lổng chổng, mới biết đêm qua uống rượu nhiều quá. Ngó ra ngoài sông, cảnh
tượng đều lạ hết thảy. Ngơ ngác nhìn mãi đám khói sương mù mịt, chàng mới nhận
ra cái chỗ thuyền đậu là ở dưới bãi Bát Tràng.
Các
chân sào và các ả đào, hãy còn ngủ lăn, ngủ lóc, chàng phải đánh thức lái thuyền,
giục hắn gọi mấy người kia chèo thuyền lên bến.
Tới
nơi, mặt trời đã lên cao, Vân Hạc toan về nhà trọ. Nhưng vì đào Phượng, đào Cúc
có ý chèo kéo, lại thêm có bọn Đốc Cung hết sức bầu vào, chàng lại xuống thẳng
Hàng Lờ. Thế rồi, cái hào hứng của tuổi thiếu niên lưu chàng và bọn Đốc Cung ở
đó. Để lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm. Nếu không sợ Đoàn Bằng, Tiêm Hồng ở
quê sắp ra có lẽ hôm qua, chàng và Đốc Cung cũng chưa về nhà trọ. May quá hai
chàng vừa tới nhà trọ một lát, thì hai người kia vừa ra.
Trong
lúc nói chuyện, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng ngó cái bộ mặt hốc hác, nhất là ngó đôi
con mắt đứt kẽ của hai chàng, cũng biết hai chàng thức đêm nhiều lắm nhưng hai
người vẫn đều giả vờ làm thinh.
Bấy
giờ Đốc Cung cũng như Vân Hạc ai nấy đều thấm trong mình mệt nhừ, hai mắt buồn
ngủ díp lại, song người thì nể bạn hơn tuổi, người thì sợ anh, cả hai đều phải
cố gượng làm tỉnh táo, nhanh nhảu, chờ đến tối mới dám đi nằm. Và cả hai đều
kéo một giấc từ chập tối cho đến bây giờ.
Trời
sáng rõ.
Đoàn
Bằng, Tiêm Hồng đã uống tàn một ấm chè tầu, hai chàng vẫn co quắp ôm nhau trong
tấm chăn bông, và thi nhau đưa ra những tiếng thở sè sẽ.
Tiêm
Hồng ngứa mắt toan kéo tuột bức chăn gọi hai chàng dậy. Đoàn Bằng xua tay ngăn
lại:
-
Hãy để cho họ ngủ lúc nữa. Chắc là những ngày vắng mình, chúng nó thức đêm nhiều
lắm. Nếu họ không được ngủ bù để khôi phục cho tinh thần bằng cũ thì ngày mai
vào trường sẽ có hại cho sự làm văn.
Rồi
hai người lại giục thằng nhỏ thay chè, pha ấm nước khác, cùng uống cho tiêu thì
giờ.
Ánh
sáng lóe trên nóc nhà láng giềng, Vân Hạc thình lình thức giấc. Vì bị ánh sáng
lùa vào chói mắt, chàng biết trời đã trưa lắm, vội vàng lật chăn đánh thức Đốc
Cung.
Đoàn
Bằng, Tiêm Hồng tuy vẫn tỏ ra bộ điệu vui vẻ nhưng Vân Hạc không khỏi có ý ngượng
thẹn.
Chàng
len lén đứng dậy ra thềm và gọi thằng nhỏ lấy nước rửa mặt. Đốc Cung nói chữa bằng
một câu khôi hài:
-
Té ra hãy còn sớm nhỉ. Tôi tưởng đã trưa lắm.
Đoàn
Bằng cười nhạt:
-
Phải. Còn sớm lắm. Mặt trời mới gần đến đỉnh đầu thôi mà. Hai ông hãy đi ngủ
thêm giấc nữa, dậy làm gì vội!
Đốc
Cung cũng cười và ngâm:
“Xử
thế nhược đại mộng,
Hồ
vi lao kỳ sinh.” ②
Rồi
chàng thong thả, xỏ chân vào giầy, để đón lấy chậu nước nóng của thằng nhỏ đã
bưng đến thềm.
Hôm
nay là ngày ra bảng kỳ đệ tam, nhà trọ làm cơm sớm hơn mọi ngày, có ý để các
ông khách thừa thãi thì giờ đi chơi chúng bạn.
Cố
nhiên ở trong mâm cơm, cảm tình của ông chủ nhà càng nồng nàn hơn những ngày ra
bảng hai kỳ đệ nhất, đệ nhị. Ông ta đã cố mua chuộc lòng khách bằng những món
ăn rất cầu kỳ. Rượu rót rồi, Đoàn Bằng khai mào câu chuyện trước khi cất chén:
-
Chúng mình còn được chè chén lu bù, chứ mấy ông quan chấm trường, nhất là những
ông sơ khảo, phúc khảo bây giờ đương khổ vô hạn.
Đốc
Cung nâng chén và hỏi:
-
Sao vậy?
Đoàn
Bằng nhắp một hớp rượu rồi đáp:
-
Kham khổ quá, chứ có sao đâu! Theo lệ, cứ mỗi khoa thi, riêng trường Hà Nội, được
có một ông chủ khảo, một ông phó chủ khảo, hai ông giám khảo, hai ông phân khảo,
mười ông phúc khảo và hai mươi ông sơ khảo. Lương các ông ấy không được tính
tháng, phải tính trọn một kỳ thi. Bắt đầu từ lúc tiến trường đến khi thi xong
các công việc, ông chủ khảo được năm chục quan, và mười phương gạo trắng, ông
phó chủ khảo được bốn nhăm quan, số gạo cũng được như ông chủ khảo những ông
giám khảo đều ba nhăm quan và tám phương gạo, các ông phúc khảo mỗi ông được
hai nhăm quan và năm phương gạo, những ông sơ khảo thì bần tiện nhất chỉ được mỗi
ông bốn phương gạo và hai chục quan...
Đốc
Cung ngắt lời:
-
Ừ, thì nhà nho ăn tiêu tằn tiện, trong hơn một tháng một mình dùng hai chục
quan cũng đủ lắm rồi.
Đoàn
Bằng lắc đầu:
-
Tiếng được hai chục quan tiền thật đó, nhưng khi ở trường có được tiêu một đồng
nào. Là vì trong lúc làm trường, người ta đã tính đủ số quan trường, dựng cho mỗi
một ông một gian nhà lá, trong nhà có bếp, có chuồng xí, có vại chứa nước, có nồi
nấu cơm, đủ các đồ lề của một gia đình, bốn bên đều có phên nứa che kín, gian nọ
không được thông với gian kia. Sau khi tiến trường, người ta tống hết các ông
sơ khảo, phúc khảo, giám khảo cho mỗi ông vào một gian, rồi khóa trái cánh cửa
ra ngoài, giao chìa khóa cho ông đề điệu, bao giờ thi xong, ông đề điệu mới mở
cửa cho các ông này cùng ra. Như thế dù có tiền cũng không mua bán gì được.
Đoàn
Bằng lại hỏi:
-
Vậy thì những thức ăn uống hàng ngày lấy ở đâu ra?
Tiêm
Hồng vội đón:
-
Hình như do ông tổng đốc sở tại cung đốn, phải không?
Đoàn
Bằng gật đầu:
-
Phải! Bao nhiêu đồ ăn thức dùng của các quan trường, do ông tổng đốc sở tại
trích tiền công khố chi cấp tất cả. Sự cung đốn của mấy ông trên thế nào, tôi
không được rõ, chứ đến những ông sơ khảo, phúc khảo thì ôi thôi, cực kỳ bần tiện.
Mỗi ông một ngày chỉ được hai lạng thịt lợn, hay là hai con tôm he, có thịt đừng
tôm, có tôm đừng thịt; ba ngày mới được một lọ nước mắm và ít muối trắng. Anh
tính mỗi ngày hai bữa, một thày, một trò, ăn uống chỉ có bấy nhiêu, thì kham khổ
biết chừng nào. Thày tôi ngày xưa tuy là hương cống tại quán, nhưng cũng có bị
cử làm phúc khảo một lần. Khi đi, người rất béo tốt, lúc về mặt mũi xanh xao,
chẳng khác gì người ngã nước. Thì trong hơn một tháng trời nhịn đói, nhịn khát,
gỗ cũng phải gầy, nữa là người.
Đốc
Cung nhành mồm tắc lưỡi. Đoàn Bằng đương ngậm hớp rượu trong miệng, vội cong
bàn tay giơ lên, tỏ ý ngăn cản lời của Đốc Cung, rồi thêm:
-
Thế cũng chưa thấm!
Đoàn
Bằng quay lại vớ chiếc điếu đàn, đặt thuốc, châm lửa, hút một hơi thuốc, câu
chuyện nói dở tiếp theo khói thuốc đưa ra:
-
Vì nhà của mấy ông sơ khảo, phúc khảo trừ khi hé ra một lúc cho phu đổ nước vào
vại, còn thì phải khóa kín suốt ngày, suốt đêm. Cho nên trong bức phên nứa chắn
ở quanh nhà, người ta đã có để sẵn một cái lỗ thủng nho nhỏ. Mỗi một buổi sáng,
người lại phòng của quan đề điệu phân phát đồ ăn cho các quan trường thì tuôn
qua mấy lỗ thủng ấy, rồi gọi thằng bếp ra đó mà đón.
Tiêm
Hồng nói xen:
-
Kẻ nào hà lạm đến những món ấy thì tù mọt gông. Tôi nhớ thầy tôi có nói lại rằng:
“cái năm thầy tôi đi làm phúc khảo, có người lại phòng chia tôm cho các quan
trường, vì lúc cuối cùng còn thừa một con, hắn không biết là phần ông nào, đem
về ăn mất. Thế mà đến khi việc đó phát giáo, anh ta bị phạt đủ ba chục trượng.
Cực chưa”.
Đến
lượt Đoàn Bằng:
-
Tội nghiệp hơn nữa, là cái tình cảnh của mấy ông ấy trong khoảng từ kỳ đệ tam đến
kỳ phúc hạch. Những kỳ đệ nhất, kỳ đệ nhị, tuy rằng ăn uống kham khổ nhưng còn
không đến nỗi buồn. Là vì trong hai kỳ ấy học trò còn đông, các ông sơ khảo
phúc thảo còn phải chấm nhiều, cả ngày không lúc nào rỗi. Đến kỳ đệ tam và kỳ
phúc hạch, học trò vắng lắm, phần việc của mấy ông ấy chỉ làm độ một, hai giờ
là xong. Thế mà cứ phải nằm đó chờ đợi cho đến kỳ sau... Có ông buồn quá, không
biết làm cách nào cho qua thì giờ, đành phải đánh đáo với thằng đầy tớ.
Vân
Hạc đương bưng chén rượu vội đặt xuống mâm.
-
Nếu tôi mà bị đi làm quan trường, thì quyết phải bắt... vợ tôi ăn mặc giả làm
đày tớ để cùng vào trường.
Đoàn
Bằng nối lời:
-
Ấy cái năm thày đi phúc khảo, đã có một ông cũng làm như thế đó. Ông ấy thuê
người cô đào ăn bận quần áo đàn ông, và bắt xách điếu cắp tráp theo vào. Vậy mà
việc cũng bại lộ. Không biết ông ta sau này bị tội gì. Có lẽ người ta buộc cho
cái tội khi quân cũng nên.
Ông
chủ nhà trọ vừa đi qua đó:
-
Thưa các quan, sao lại có người khai mạo tam đại? Tôi tưởng cha ông nhà mình dù
hèn cũng là cha ông nhà mình, ai lại đê tiện đến nỗi nhận vơ cha ông người
khác?
Đoàn
Bằng vội mời ông đó ngồi xuống chiếc phản cạnh đấy uống nước.
-
Cái việc khai mạo tam đại, cũng là việc bất đắc dĩ. Theo luật, những người trước
có làm quan với nhà Tây Sơn cũng như những người phạm tội ăn cướp làm giặc, bản
thân của họ tuy bị hành hình, hay đã già chết, nhưng vẫn chưa thật hết tội. Anh
em ruột và con cháu ba đời nhà họ đều bị cấm không được thi. Vì thế những người
học giỏi muốn thi, chẳng may lại có cha ông thân thuộc vướng vào khoản ấy, người
ta mới phải khai mạo tam đại để nộp quyển đi thi. Bây giờ đã ít, chứ mấy năm
xưa nhiều người mắc tội ấy lắm...
Vân
Hạc góp thêm:
-
Thuở tôi còn nhỏ, nghe nói có một vụ án khai mạo tam đại hay lắm. Tôi không nhớ
cái ông đáng thương ấy tên họ là gì, chỉ biết ông ta người xứ Bắc có ông nội
ngày xưa làm quan trong triều Tây Sơn, nên cũng bị liệt vào sổ “tam đại bất đắc
ứng thí”. Nhưng ở đời này, một người có tài có học, có chí giúp dân, giúp nước,
nếu không đi vào con đường khoa cử thì còn đường nào mà đi? Vì vậy ông ta mới
phải mượn tên ông chú làm tên ông nội đề vào quyển thi để cố đi thi. Giả sử đi
thì hỏng thì chẳng sao cả. Chết vì ông ta mới thi một khoa đỗ luôn hương cống,
những kẻ tiểu nhân trong làng sợ rằng ông ta làm nên, sẽ ở trên mình, chúng bèn
đệ đơn lên tỉnh cáo giác việc ông ấy mạo khai tam đại. Các quan ở Bắc lúc ấy
tuy vẫn trọng ông ta là bậc túc học, nhưng mà việc đã hiển nhiên, không dám bịt
đi...
Tới
đây Vân Hạc ngừng lại một lát, để dấp giọng bằng một hớp rượu. Rồi chàng rẽ
ràng nói tiếp:
-
Sau khi đã bắt lý dịch khai báo, quan tổng đốc Bắc bèn đệ cả tập hồ sơ vào
kinh, lại có kèm theo tờ sớ tâu xin triều đình lấy lượng biển trời làm tội nhè
nhẹ cho một tên dân dại dột. Về sau thấy có chữ phê vào tập hồ sơ như vầy:
“Mạo
tổ, bất hiếu giã, khi quân, bất trung giã, bất trung, bất hiếu chi nhân, lưu
tương yên dụng?...”
Vân
Hạc đương toan nói thêm, thằng nhỏ hớt hơ hớt hải ở ngoài cổng vào, chạy thẳng
lên thềm:
-
Thưa các ông, con thấy cửa trường đã treo bảng rồi đấy ạ!
Đoàn
Bằng rẽ ràng:
-
Mày có thấy tên chúng tao hay không?
Thằng
nhỏ vừa thở vừa đáp:
-
Thưa các ông, con không biết chữ.
Ông
chủ nhà trọ ra bộ vui vẻ:
-
Mời các ngài hãy cứ yên tâm xơi rượu, để tôi ra coi xem sao. Chắc bốn ngài đều
được vào cả. Tôi dám cam đoan như vậy.
Rồi
thì ông ta cung cúc đi thẳng ra cổng.
Bốn
người vẫn cứ khoan thai uống rượu, nói chuyện, chờ đợi tin tức.
Chừng
nửa giờ sau, ông ấy tất tả chạy về với những tiếng thở hồng hộc.
-
Thế nào, chúng tôi có ai được vào hay không?
Vân
Hạc vừa cầm chén rượu vừa hỏi một cách sốt sắng.
Ông
chủ nhà trọ tươi cười:
-
Có ạ. Tôi đoán phỏng thế mà không sai mấy nỗi. Ba ông hơn tuổi vào cả, chỉ có
ông Cung...
Vân
Hạc ra bộ sửng sốt:
-
Ông Cung làm sao? Có tên ở bảng con chứ?
Ông
chủ nhà trọ ra ý ngập ngừng không nói. Vân Hạc cố gặng lần nữa, ông ta mới chịu
nữa úp nửa mở:
-
Vâng, tôi thấy ở trong bảng con có viết chữ Bùi Đốc Cung. Nhưng không biết có
phải ông Cung nhà ta hay là ông Cung nào. Vì tôi vội quá, không kịp coi đến
dòng tên làng tên tỉnh.
Vân
Hạc cho là không phải tên của Đốc Cung nhưng chàng vẫn cố trêu cợt:
-
Chẳng thằng Cung này còn thằng Cung nào? Suốt mấy kỳ trước, tôi thấy trên bảng
có các vi, chỉ có một Bùi Đốc Cung mà thôi.
Rồi
chàng nhìn mặt Đốc Cung:
-
Biết thân chưa con? Đời nào đỗ đến những thằng ngông nghênh, bướng bỉnh? Được
vào mấy kỳ đã là may rồi? Chuyến này tao xem. Mày là cụt đầu!
Đốc
Cung cũng đáp bằng giọng bông đùa:
-
Mày hãy thử sờ lên gáy xem nào. Tao tưởng mày còn ngông nghênh bằng hai tao
kia. Nếu như tao bị cụt đầu, thì cái đầu mày quyết là không còn.
Đoàn
Bằng cau đôi lông mày tỏ ý không thích. Tiêm Hồng nói:
-
Những tiếng mày tao để dành cho bọn vũ phu lỗ mãng họ dùng. Chúng mình là kẻ đọc
sách, biết lễ, ăn nói phải cho trang nhã một chút. Gọi nhau bằng anh cũng đã suồng
sã lắm rồi.
Vân
Hạc, Đốc Cung đều im lặng, rồi nói lảng ra chuyện khác. Đoàn Bằng chừng cũng
băn khoăn về lời ông chủ mới nói vừa rồi. Thày bảo Đốc Cung đọc lại cả bài văn
sách của chàng kỳ trước, xem có chỗ nào sơ suất hay không? Đốc Cung liền đặt
chén rượu đứng dậy, mở tráp lấy bản giáp bài đó, trao cho Đoàn Bằng.
Bốn
người vừa uống rượu vừa chuyển tay nhau xem đi xem lại những tờ giấy giáp. Ai nấy
đều tấm tắc khen hay và đều không thấy chỗ nào đáng ngờ. Cả bọn tin rằng ông chủ
nhà trọ trông sai, chứ chẳng khi nào Đốc Cung lại bị nêu ra bảng con. Riêng có
Đốc Cung vẻ mặt vẫn không được vui, vì chàng còn hồ nghi trong bụng, Tiêm Hồng
an ủi:
-
Bác đừng lo, văn bác quyết phải bốn “ưu”. Vả lại, cả quyển không có chữ nào
đáng tội, việc gì phải ra bảng con mà sợ?
Đốc
Cung gượng đáp:
-
Chẳng qua đến hỏng là cùng, tôi có sợ gì.
Cuộc
rượu kề cà chừng nửa giờ nữa, ai nấy đều thấy trong mình hơi say. Đoàn Bằng
thôi trước, Tiêm Hồng, Vân Hạc, Đốc Cung lần lượt thôi sau. Tiệc rượu tan, mặt
trời vừa lên đến khỏi nóc nhà láng giềng. Ông chủ nhà trọ hớn hở bưng của mứt
bí ở nhà dưới lên và đặt vào cạnh khay nước, rồi đon đả vừa cười vừa nói:
-
Xin rước các quan xơi nước, chắc là bốn ngài đỗ cả. Nhà cháu thật là có phúc.
Xưa nay những nhà chứa trọ chưa ai được may như thế bao giờ.
Đoàn
Bằng đáp lại bằng cách khiêm tốn:
-
Ông đừng nói thế, không tiện. Hãy còn kỳ phúc hạch nữa kia mà.
Ông
chủ nhà trọ nói thêm:
-
Đã đành rằng thế. Nhưng tôi thiết tưởng các ngài đã vào phúc hạch tức là mười
phần chắc đỗ cả mười, còn ngại gì nữa.
Đoàn
Bằng lắc đầu:
-
Những khoa trước kia có thể như thế. Là vì ngày xưa đến kỳ phúc hạch, học trò
chỉ phải viết một bài thơ để so tự dạng, xem rằng quyển các kỳ trước của mình
có thật tay mình làm ra hay không. Bấy giờ số người dự kỳ phúc hạch, quan trường
chỉ lấy gần ngang với số giải ngạch mà thôi. Vì như giải ngạch của trường Hà Nội
được lấy hai nhăm cử nhân, thì kỳ phúc hạch, người ta chỉ lấy dư chừng vài ba
người, nghĩa là tất cả độ ba chục người trở lại. Thêm ra năm người như vậy, là
để dự phòng những lúc nhà vua thiên thủ. Chắc ông đã biết, giải ngạch tuy có
hai nhăm cử nhân, nhưng cũng có khoa, nhà vua lại cho lấy thêm hai ba người nữa.
Như vậy, nếu kỳ phúc hạch chỉ lấy đúng số giải ngạch thì khi được lệnh thiên thủ
cử nhân, lấy ai sung vào số đó? Vì thế, ngày trước đã vào phúc hạch, ai cũng chắc
đỗ, không cử nhân thì tú tài. Các cụ nói rằng: Có ông được vào phúc hạch sướng
quá, đến nỗi trông đến đầu đề bài thơ của quan chủ khảo ra cho, không thể nghĩ
được chữ nào, quan trường lại phải gà cho mà viết. Vậy mà cũng đỗ, chỉ có người
nào phạm húy, mới bị đánh hỏng mà thôi.
Ông
chủ nhà trọ lại hỏi:
-
Bây giờ cũng thế chứ gì?
Đoàn
Bằng hút tàn mồi thuốc, rồi đáp:
-
Không. Từ khoa trước đây, phép thi đổi lại, phúc hạch cũng là một kỳ. học trò
cũng phải làm bài như các kỳ trước. Theo phép mới này, thì trong ba kỳ, ai có “bình
ngoại” đều được dự kỳ phúc hạch, bất kỳ giải ngạch bao nhiêu. Thí dụ giải ngạch
của trường Hà Nội năm nay chỉ có hai bốn cử nhân, nhưng đến kỳ đệ tam, học trò
có năm trăm người đều có “bình ngoại”, thì bấy nhiêu người được vào phúc hạch tất
cả.
Ông
chủ nhà trọ ra bộ ngơ ngẩn không hiểu:
-
Thưa, thế nào gọi là “bình ngoại”?
Tiêm
Hồng cắt nghĩa:
-
Bình ngoại tức là chữ “bình” của quan chánh chủ khảo, hay quan phó chủ khảo, hoặc
là các ông phân khảo. Theo phép nhà Nguyễn, các quan chấm trường vẫn chia ra
làm hai bộ: các ông sơ khảo, phúc khảo và giám khảo gọi là nội trường, các công
phân khảo và chánh, phó chủ khảo thì là ngoài trường - Chữ “nội” và chữ “ngoại”
đó chỉ là nói theo chỗ ở của các ông ấy. Bởi vì, trong khi đóng ở trong trường,
các ông sơ khảo, phúc khảo, giám khảo đều ở lớp trong, mấy ông phân khảo và
chánh, phó chủ khảo thì ở lớp ngoài. Có thế thôi - Tất cả quyển của học trò, đều
phải đủ bốn dấu chấm.
Bắt
đầu do ông sơ khảo chấm trước, thứ hai đến ông phúc khảo, thứ ba đến ông giám
khảo. Thế là hết lượt nội trường, bấy giờ mới giao ra trả ngoại trường. Lúc này
lại chia ra làm hai hạng: quyển nào mà trong ba dấu của nội trường, được có một
dấu trở ra, phê cho chữ “ưu” hoặc chữ “bình” hay chữ “thứ mác”, “thứ cộc” thì
được đến tay các ông chánh, phó chủ khảo chấm lại; còn những quyển nào nội trường
phê đủ ba “liệt”, thì phải để ông phân khảo chấm lần cuối cùng. Trong một khoa
thi, lấy ai, bỏ ai, đều là quyền của các quan ngoại trường. Bởi vậy, người ta mới
trọng dấu chấm của mấy ông này hơn những dấu chấm của các ông nội trường.
Và
cũng vì thế, người ta mới đặt lệ rằng: người nào đã lọt ba kỳ đệ nhất, đệ nhị
và đệ tam, ít nhất phải có một kỳ được có dấu của ngoại trường phê cho chữ “bình”
trở lên thì mới được vào phúc hạch. Nếu trong các kỳ, không được ngoại trường
phê “bình” bao giờ, thì dù các dấu nội trường đều phê “ưu” cả, cũng không được
dự đến kỳ thứ tư.
Vân
Hạc xen vào:
-
Mới năm trước đây, bên Bắc có một ông tú, chỉ vì thiếu cái “bình ngoại” mà đến
phải chết, thế có khổ cho người ta không?
Ngừng
lại một lát, để nhìn ông chủ nhà trọ, rồi chàng nói tiếp:
-
Ông đó là bậc danh sĩ, vừa thông minh, vừa tài hoa, ngoài hai mươi tuổi, đã đỗ
tú tài. Tại ông ta học ở Hà Nội, cho nên học trò Hà Nội nhiều người biết mặt và
ai cũng phục là tài thám bảng. Khoa ấy, ông ta vào thi, suốt cả ba kỳ đều có
làm giúp cho một người bạn cùng tỉnh, vì người bạn đó sức học hãy còn kém lắm.
Nhưng đến kỳ phúc hạch người bạn được vào, ông ta bị hỏng. Rồi khi ra bảng, người
bạn lại đỗ cử nhân đội bảng, ông ta cũng đỗ tú tài lần nữa, và đỗ thứ bảy:
nghĩa là đè được nhiều người đã vào phúc hạch mà phải đánh xuống. Việc trường
xong rồi, có người lại phòng lấy được tất cả các quyển trong ba kỳ của ông ta
đem về cho ông ấy coi. Thì ra kỳ nào quyển của ông ta cũng đủ ba dấu nội trường
phê “bình” song đến ngoại trường, thì đều phê “thứ” tất cả. Bởi thế, ông ta mới
không được vào phúc hạch. Nhưng mà đến lúc sắp thứ tự của các người đỗ, người
ta lại lấy những quyển được có nhiều dấu “ưu”, “bình” là hơn. Người khác phần
nhiều chỉ được một hai dấu “bình” ông ta cộng cả ba kỳ được chín dấu “bình” cả
thảy. Vì vậy, ông ta tuy là đỗ lại tú tài, nhưng vẫn được đỗ rất cao. Sau khi
được thấy các quyển của mình, ông ta uất quá, sinh ra cảm khái, chơi bời suốt
đêm, suốt ngày, hết chè rượu lại đến tổ tôm.
Khoa
đó thi vào tháng bảy, xong thì ước chừng vào giữa tháng tám, ông ta lu bù cho đến
gần tết, người cứ mỗi ngày mỗi rạc dần dần. Sang đến tháng giêng thì thổ ra huyết
rồi chết. Anh em nghe tin, ai cũng thương tiếc.
Đoàn
Bằng cũng ngó ông chủ nhà trọ rồi kết:
-
Đó ông coi đó, được vào phúc hạch đã chắc gì đâu.
Câu
chuyện vừa dứt, ánh nắng vừa ra nửa thềm.
Lớp
gạch thềm, hiện ra một dải thẳng như chỉ đặt và vàng như tấm lụa mộc.
Trời
đã gần trưa, cả bọn Vân Hạc sắm sửa khăn áo để lên cửa trường xem bảng. Ông chủ
nhà trọ tung tăng đi mua đồ rượu bữa chiều.
------
Chú
thích của người biên soạn
① Có lẽ tác giả nói đến bài thơ “Giang thượng
ngâm” (Khúc ngâm trên sông) năm 734 của Lý Bạch.
Giang
thượng ngâm
Mộc
lan chi duệ sa đường châu,
Ngọc
tiêu kim quản toạ lưỡng đầu.
Mỹ
tửu tôn trung trí thiên hộc,
Tái
kỹ tuỳ ba nhiệm khứ lưu.
Tiên
nhân hữu đãi thừa hoàng hạc,
Hải
khách vô tâm tuỳ bạch âu.
Khuất
Bình từ phú huyền nhật nguyệt,
Sở
vương đài tạ không sơn khâu.
Hứng
hàm lạc bút dao ngũ nhạc,
Thi
thành tiếu ngạo lăng thương châu.
Công
danh phú quý nhược trường tại,
Hán
thuỷ diệc ưng tây bắc lưu.
Dịch
nghĩa
Con
thuyền bằng gỗ sa đường, lái bằng gỗ mộc lan,
Có
tiêu ngọc sáo vàng ở hai đầu.
Với
ngàn hộc rượu ngon đặt bên trên,
Thuyền
chở kỹ nữ, theo sóng tự do trôi đi.
Xưa
kia có vị tiên chờ cưỡi hạc vàng bay đi,
Lại
có người khách biển vô tâm theo chim âu trắng.
Thơ
phú của Khuất Nguyên lưu truyền soi sáng cùng mặt trăng, mặt trời,
Còn
lâu đài của vua Sở ngày nay chỉ còn là gò núi.
Khi
cảm hứng say sưa, hạ ngọn bút làm rung chuyển năm ngọn núi lớn;
Lúc
thơ làm xong, tiếng cười cợt, ngạo nghễ vượt qua bãi xanh.
Nếu
như công danh, phú quí mà còn tồn tại lâu dài,
Thì
dòng sông Hán Thuỷ hẳn phải chạy lên phía Tây bắc.
Dịch
thơ của Trần Trọng San
Chèo
lan, thuyền gỗ sa đường,
Hai
đầu, sáo ngọc, tiêu vàng giúp vui.
Ngàn
bình rượu đã sẵn rồi,
Chở
theo kỹ nữ, mặc trôi con thuyền.
Có
người cỡi hạc lên tiên;
Vô
tâm, khách biển theo chim quên dời.
Khuất
Bình văn rực gương trời,
Lâu
đài vua Sở chôn vùi cổ khâu.
Hứng
say, bút chuyển núi cao;
Thơ
xong, cười cợt rạt rào bãi sông.
Giàu
sang còn mãi không cùng,
Thì
sông Hán hẳn ngược dòng mà trôi.
Tượng
Thờ dù đổ vẫn thiêng
Miếu
thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ
② Có lẽ tác giả nói đến bài thơ “Xuân nhật
tuý khởi ngôn chí” (Ngày xuân ngủ dậy, say tỏ chí mình) của Lý Bạch:
Xuân
nhật tuý khởi ngôn chí
Xử
thế nhược đại mộng,
Hồ
vi lao kỳ sinh!
Sở
dĩ chung nhật tuý,
Đồi
nhiên ngoạ tiền doanh.
Giác
lai miên đình tiền,
Nhất
điểu hoa gian minh.
Tá
vấn thử hà nhật,
Xuân
phong ngữ lưu oanh.
Cảm
chi dục thán tức,
Đối
tửu hoàn tự khuynh.
Hạo
ca đãi minh nguyệt,
Khúc
tận dĩ vong tình.
Dịch
nghĩa
Ở
cõi đời như trong giấc mộng lớn
Tại
sao mà phải làm mệt nhọc cuộc sống
Bởi
vậy suốt ngày say sưa
Nằm
uể oải trước hiên
Lúc
tỉnh dậy nhìn ra trước sân
Một
con chim đang hót trong đám hoa
Xin
hỏi hôm nay là ngày nào
Mà
chim oanh trò chuyện trong gió xuân
Cảm
xúc trước cảnh ấy, muốn thở than
Hướng
về đó, thôi thì lại tự rót rượu
Hát
vang chờ đợi trăng sáng
Hát
xong thì đã quên hết tình
Dịch
thơ (tác giả: Hạt Cát)
Ở
cõi nhân gian như giấc mộng,
Sao
còn bươn chải rối ren thêm.
Nên
ta sớm tối say ngất ngưởng,
Say
rồi nằm khểnh dưới hàng hiên.
Tỉnh
dậy liếc mắt nhìn sân trước,
Một
cánh chim chuyền trong khóm hoa.
Hỏi
thử hôm nay ngày nào đấy ?
Gió
xuân còn vọng tiếng oanh ca.
Cám
cảnh động lòng toan than thở,
Trước
rượu nghiêng bình lại rót ra.
Hát
vang một khúc chờ trăng sáng,
Hát
xong quên hết nỗi niềm ta.
➖➖➖
Chương
14
Mặt
trời vừa ở ngọn cây nhòm xuống, như muốn cười với nhân gian. Trên đường thỉnh
thoảng đã có từng lũ học trò, lẻ tẻ kéo về. Lúc ấy, bọn Vân Hạc mới tới trước cửa
trường thi.
Vì
không ai ngờ Đốc Cung có thể bị “ra bảng con” cho nên cả bọn xăm xăm tới dưới bảng
lớn.
Kỳ
này chỉ có một bảng “yết tên” treo ở cạnh cửa giáp. Tuy là kỳ cuối cùng, nhưng
số học trò “được vào” cũng còn đến hơn trăm người. Thoạt coi đầu bảng, thấy tên
Đoàn Bằng, ai nầy đều vỗ tay reo. Cách vài dòng nữa, đến tên Vân Hạc. Rồi cuối
bảng, thì tên Tiêm Hồng. Riêng tên Đốc Cung, tìm đi hâm lại mấy lần không thấy.
Bấy giờ Đốc Cung mới càng chột dạ. Cả bọn đều tỏ ra vẻ ái ngại. Đốc Cung nói bằng
giọng liều:
-
Có lẽ họ cho mình ra bảng con thật chắc!
Đoàn
Bằng nhất định không tin:
-
Chẳng có lý nào như thế.
Vân
Hạc cố trêu Đốc Cung:
-
Lý nào cái đó? Hễ viết vô ý một tí, thì được nêu tên bảng con, chứ có khó gì?
Rồi
đó, chẳng ai bảo ai, cả bọn đều đi đến cạnh bảng con.
Cái
bảng mới xấu làm sao! Nó là một mảnh cót cũ, quét vôi nhơm nhếch như một tấm
mái nhà mồ, bề ngang chừng hơn ba gang, bề dọc độ gần ba thước.
Người
ta treo nó trong cái nhà bảng lụp xụp, mặt bảng chỉ độ ngang với mặt người.
Nhác
trông trên bảng, Vân Hạc liền kêu giật giọng.
-
Thôi chết! Có tên anh Cung thật rồi.
Mọi
người ngơ ngác nhìn theo. Trong bảng có chừng mười mấy tên người. Người thì phạm
húy, người thì “khiếm đài”, người thì viết không đủ quyển... mỗi người mỗi tội
khác nhau. Tên của Đốc Cung liệt ở giữa bảng, dưới có bốn chữ “cổ văn khiếm tỵ”
viết nhỏ theo lối chú cước, đối với bốn chữ “Hà Nội, Trúc Lâm”.
Tất
cả bốn người sắc mặt đều thấy tái mét. Vân Hạc sẽ hỏi Đốc Cung:
-
Chắc là trong quyển của anh có chỗ dùng phải những chữ trùng với tên lăng, tên
điện của nhà vua mà anh không biết.
Đoàn
Bằng trả lời:
-
Không có! Sáng nay tôi đã xem đi xem lại bản giáp của bác ấy rồi. Chẳng có chỗ
nào khiếm tỵ.
Vân
Hạc vẫn ngó Đốc Cung:
-
Nhưng mà bản giáp của anh có đúng như trong quyển thi hay không?
Đốc
Cung đáp bằng giọng cả quyết:
-
Đúng lắm. Đúng từ những chỗ “đồ di câu cải” trở đi. Có điều trong quyển viết chữ
chân phương, bản giáp thì hơi đá thảo một chút.
Tiên
Hồng nói xen:
-
Nếu vậy, thì bác phải làm ngay giấy khiếu oan, đưa vào trong trường, để xin
quan trường xét lại.
Đốc
Cung ra vẻ tự phụ:
-
Khiếu làm cái gì? Hỏng khoa này lại thi khoa sau, chẳng tội gì mà cày cục?
Đoàn
Bằng gạt đi:
-
Bác nói tuy vẫn có lý, nhưng học trò đi thi mà phải nêu ra bảng con, cũng là một
sự mang tiếng, có khi còn để lụy cho các quan huấn giáo hạt mình nữa chứ! Bởi vậy
tôi tưởng bác nên khiếu oan, để rửa cái tai tiếng kia.
-
Khiếu oan là phải. Nhưng cũng hãy nên coi lại bản giáp lần nữa cho thật cẩn thận
xem rằng có đích là mình bị oan hay không.
Tiêm
Hồng khen phải. Lập tức cả bọn kéo về nhà trọ.
Bấy
giờ ở các đường phố, học trò đã đương nhao nháo kháo nhau về chuyện Đốc Cung phải
ra bảng con.
Mỗi
khi gặp người quen biết hỏi thăm, Đốc Cung tưởng mỗi nhời nói của họ là một mũi
giáo đâm vào ruột mình. Nhưng chàng cũng chỉ đáp lại bằng một nụ cười, vì không
biết trả lời thế nào cho phải.
Tới
nhà, Đoàn Bằng giục luôn Đốc Cung lấy ngay bản giáp của chàng đưa cho mình coi.
Cả bọn xúm lại trên mảnh giấy, giở suốt từ đầu đến cuối, chẳng thấy “khiếm tỵ”
chỗ nào. Sau cùng đến lượt Vân Hạc. Coi một lần trước cũng không thấy gì, nhưng
còn hồ nghi, chàng lại coi thêm lần nữa. Khi giở đến tờ thứ tư, Vân Hạc chỉ tay
vào một dòng chữ và nói bằng một giọng kinh ngạc:
-
Còn oan gì nữa, chẳng “khiếm tỵ” thì cái gì đây?
Mọi
người đều nhìn theo chỗ Vân Hạc đã chỉ, thì thấy có mấy chữ rằng:
“Tam
bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại ư thử tai”.
Lúc
ấy ai nấy thất sắc, Đốc Cung vỗ tay xuống phản và nói hai tiếng vắn cộc:
-
Con chó!
Rồi
chàng lại thuần vẻ mặt và cười:
-
Bốn người tìm mãi từ sáng đến giờ mới thấy, thế mà trong lúc chấm văn nhanh như
ăn cướp, quan trường cũng bới ra được, thật là thánh quá. Hỏng thì hỏng, tôi
cũng bái phục cái tài soi mói của các ngài ấy.
Thêm
Hồng ngắt lời:
-
Không phải là các quan trường có ý bới móc. Bởi tại mệnh lệnh nhà vua giao cho
như vậy, nếu không làm hết chức vụ, tất nhiên tội sẽ đến thân. Ngày xưa, biết
bao nhiêu ông khảo quan chỉ vì chấm văn sơ suất mà bị phạt bổng, giáng cấp, có
ông còn bị cách chức nữa kia!
Đoàn
Bằng an ủi Đốc Cung:
-
Thôi, bác cũng đừng phàn nàn. Chúng ta còn đương niên thiếu lực cường, tiền
trình còn dài, chẳng đỗ khoa này thì đỗ khoa khác. Miễn là bác đừng ngã lòng.
Đốc
Cung vẫn ngông:
-
Tôi chẳng ngã lòng chút nào. Lương Hiệu nhà Tống tám mươi hai tuổi còn thi và
còn đỗ được trạng nguyên, nay tôi mới hai mốt tuổi, chưa đỗ cũng chưa là muộn.
Chỉ hiềm bản triều không lấy trạng nguyên mà thôi.
Vân
Hạc cố ý trêu ghẹo:
-
Tôi cũng chắc anh phải đỗ, nếu mà trời cho học lực của anh được bằng người ta.
Đốc
Cung cũng trả miếng bằng giọng bông đùa:
-
Vậy còn anh nữa? Không biết năm nay học lực của anh đã bằng người ta hay chưa?
Vân
Hạc chưa kịp trả lời, ông chủ nhà trọ vừa ở nhà dưới đi lên và nói lễ phép:
-
Vì bận sai bảo chúng nó làm mấy món ăn, cho nên từ nãy đến giờ, tôi chưa kịp hỏi
chuyện các ngài. Thế nào? Bốn ngài được “vào” cả chứ?
Đốc
Cung chỉ vào anh em Vân Hạc và đáp:
-
Cả ba ông này đều “vào”, chỉ có một mình tôi hỏng. Đúng như lời ông nói lúc
sáng ngày, tôi bị nêu ra bảng con thật!
Ông
chủ nhà trọ đương định tìm câu an ủi Đốc Cung, nhưng chưa tìm được, ngoài cổng
bỗng có tiếng người là lạ:
-
Bùi tiên sinh vẫn còn ở đây đấy chứ?
Đốc
Cung lầm bầm với Vân Hạc:
-
Thằng nào mà hỏi đến vậy. Chắc nó tưởng mình bị hỏng, đã xách khăn gói cút rồi.
Rồi
chàng nói chõ ra cổng:
-
Tiên sinh còn đây. Ai muốn hỏi gì thì vào trong này.
Ông
chủ nhà trọ lật đật chạy ra đón khách. Có phải ai đâu, cậu Trần Đức Chinh hôm nọ.
Giữa
lúc Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng ngẩng lên nhòm, Đức Chinh đã ở ngoài sân tiến vào
với một dáng điệu bạo dạn, khác hẳn cái bộ rụt rè khúm núm trong lúc hắn đi
thuê người làm văn.
Cả
bọn cùng đứng dậy chào.
Sau
khi Đốc Cung đã lần lượt nói tên người nọ với người kia, Đoàn Bằng mời Đức
Chinh cùng ngồi vào chỗ mọi người đương ngồi. Vân Hạc sẽ hỏi Đức Chinh:
-
Cậu có được “vào” hay không?
Đức
Chinh đáp bằng vẻ mặt sung sướng:
-
Không, tôi bị hỏng.
Rồi
hắn nhìn sang Đốc Cung:
-
Chết chửa? Sao ở bảng con tôi lại thấy có tên ông?
Đốc
Cung cười nhạt:
-
Viết văn không cẩn thận, thì phải nêu ra bảng con, chứ có lạ gì sự đó?
Đức
Chinh nói tiếp:
-
Vậy ông phạm phải lỗi gì? Không phải là phạm húy chứ?
-
Không. Có phạm húy đâu? Tôi phạm vào tội “khiếm tỵ”. Vì ở đoạn văn nói về đời
Đường của tôi, lỡ viết phải câu “tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại
ư thừ tai”.
Ông
chủ nhà trọ đứng ở bên cạnh, có ý lấy làm kinh ngạc, liền hỏi:
-
Thưa ông câu ấy là nghĩa thế nào?
Đốc
Cung đáp:
-
Nghĩa là “xã tắc nhà Đường lâu dài đến ba trăm năm, há chẳng phải nhờ ở điều đó
hay sao?” Ông chủ nhà trọ càng lấy làm lạ:
-
Như thế thì có can gì mà đến phải nêu bảng con?
Đức
Chinh hùa theo:
-
Chắc là ông bị cái lỗi gì khác, chứ như câu ấy thì có việc gì?
Đốc
Cung chỉ cười không trả lời. Đoàn Bằng rành rẽ cắt nghĩa:
-
Phải đấy, ông Cung phải nêu bảng con là tại câu đó. Bởi vì theo phép bản triều,
học trò đi thi chẳng những phải kiêng khinh húy, trọng húy của nhà vua, mà đến
những chữ tên các cung điện, lăng tẩm trong kinh bây giờ, cũng đều không được
dùng đến. Ví như lăng ông Gia Long tên là Thiên thụ, thì khi làm văn không được
viết chữ Thiên thụ. Hay như ở trong hoàng cung có điện Cần chánh thì chữ Cần
chánh cũng không được dùng làm văn... Nhưng chỉ kiêng ở văn cổ mà thôi.
Đức
Chinh cố làm ra bộ thạo việc trường ốc:
-
Tôi cũng biết thế, nhưng trong hai câu của Bùi tiên sinh có chữ nào phạm lệ đó
đâu?
Đoàn
Bằng nói tiếp:
-
Có chứ. Chữ “trường” và chữ “ninh”.
Ông
chủ nhà trọ vội hỏi:
-
Thưa ngài, thế hai chữ ấy cũng phạm húy ư?
Đoàn
Báng lắc đầu:
-
Không, Trường Ninh là tên cái cung nào đó. Hình như là cung của Hoàng thái hậu
vẫn ở thì phải.
Đức
Chinh ra vẻ ngơ ngác:
-
Quái lạ, trong hai câu của Bùi tiên sinh, làm gì có chữ trường ninh.
Vân
Hạc phì cười và nói:
-
Vậy thì cậu thử đọc lại xem nào.
Đức
Chính lẩm nhẩm lần nữa:
“...thử
tai?”
Rồi
hắn vỗ đùi đánh đét:
-
À! Phải rồi! Có thật! Chữ trường ở cuối câu trên, chữ ninh ở đầu câu dưới.
Và
hắn lại hỏi:
-
Tôi tưởng về những chữ tên lăng tẩm cung điện nhà vua, chỉ có khi nào hai chữ
cùng ở một câu mới là phạm cấm. Mỗi chữ mỗi nơi như thế cũng phải kiêng ư?
Tiêm
Hồng nói góp:
-
Bởi vì hai chữ tuy ở hai câu, nhưng nó đứng liền nhau thì cũng như ở một câu,
cho nên cũng là có tội.
Ông
chủ nhà trọ nhanh mồm lè lưỡi và tỏ ra vẻ kinh sợ:
-
Trời ơi, rắc rối quá chừng. Cứ như chúng tôi, thì tránh cho hết hàng trăm chữ
húy cũng đã khó thay, huống chi lại còn những cái oái oăm ấy nữa. Vậy mà các
ngài đều tránh được cả, tôi xin phục là ông thánh.
Đoàn
Bằng lại tiếp:
-
Có phải chỉ thế thôi đâu? Lại còn cái nạn “khiếm trang” mới đáng sợ chứ.
Đức
Chinh cũng như ông chủ nhà trọ, chỉ ngồi ngẩn mặt, hình như có ý chờ nghe. Đoàn
Bằng nhòm vào ông chủ nhà trọ và hỏi:
-
Chắc ông chưa rõ khiếm trang là gì?
Rồi
thày liền giảng:
-
Khiếm trang nghĩa là thiếu sự kính trọng. Theo đúng lệ đó, thì hết thảy những
chữ có nghĩa không hay, như “bạo” là “tợn”, “hôn” là “tối”, “cách” là “đấm”, “sát”
là “giết” v.v... không được đặt trên các chữ có nghĩa là vua, như là chữ “hoàng
đế”, chữ “quân”, chữ “vương”, chữ “chủ”... vì nếu để chữ “cách” liền với chữ “quân”
thì nó sẽ có nghĩa là “đấm vua”, mà để chữ “bạo” liền với chữ “chủ” thì nó phải
có nghĩa là “ông vua tàn bạo”. Dù mà mình không chỉ vào vua nào, hay là mình đã
chỉ đích vào những hạng vua vô đạo của Tầu ngày xưa, như bọn vua Kiệt, vua Trụ
chẳng hạn, cũng là khiếm trang tất cả.
Đến
lượt ông chủ nhà trọ:
-
Khiếm trang sẽ bị tội gì?
Vân
Hạc nhìn vào Đốc Cung rồi cười và đoán:
-
Nhẹ hơn “khiếm tỵ” một chút, nghĩa là chỉ bị đánh hỏng, không có hân hạnh được
ra bảng con như Bùi tiên sinh nhà tôi.
Tiêm
Hồng không bằng lòng sự bông đùa của Vân Hạc, vội vàng nói cho lấp đi.
-
Năm xưa, một ông tú tài ở tỉnh Đông, bạn thân của anh cả tôi, cũng xuýt bị tội
về cái nạn đó.
Nhũng
lại một lát để nhìn Đức Chinh và ông chủ nhà trọ, Tiêm Hồng lại tiếp:
-
Khoa ấy - tôi không rõ là khoa nào - ông ấy đã vào đến kỳ thứ ba. Trong bài văn
sách của ông ta có câu như vầy: “Xuân sinh thu sái đế đạo dữ thiên đạo nhi tịnh
hành”. Thế mà cũng bị quan trường cho là khiếm trang. Rồi quan ngoại trường ngự
sử lại hạch thêm rằng: tú tài đi thi mà còn phạm vào kỵ húy, thì nên phạt cho
thật nặng. May nhờ được quan chủ khảo có lượng khoan đại, ngài phải hết sức
bênh vực, ông ta mới được khỏi tội. Nhưng mà cũng phải đánh hỏng.
Ông
chủ nhà trọ ra bộ ngơ ngẩn:
-
Vậy thì, thưa ngài, nghĩa đen câu ấy ra sao?
Tiêm
Hồng đáp:
-
Có gì đâu? Nghĩa nó chỉ là “Mùa xuân sinh ra, mùa thu thu lại, việc của đời “đế”
cũng đi đôi với việc của ông trời”. Có thế thôi.
Đức
Chinh vẫn chưa hiểu và hỏi:
-
Song mà trong bấy nhiêu chữ người ta ghép những chữ nào có tội khiếm trang.
-
Chữ “sái” và chữ “đế”. Chữ “sái” chính nghĩa là thu đáng lẽ cũng không xấu xa,
gở độc gì cả. Chỉ vì bản thể của nó nguyên ở chữ “sát” là “giết” mà chuyển âm
ra. “Sái” với “sát” đọc tuy khác nhau, nhưng mặt chữ cũng vẫn là một, cho nên đặt
chữ “sái” liền với chữ “đế” tuy rằng mỗi chữ ở mỗi câu, người ta cũng có thể nhập
lại làm một đọc nó ra “sát đế”. “Sát đế” nghĩa là “giết vua”, như thế tức là
khiếm trang, chứ gì.
Ông
chủ nhà trọ đứng dậy, chắp tay vái lia, vái lịa:
-
Thôi! Tôi xin lạy cả nón. Phúc tổ nhà tôi, làm sao lúc học dốt quá, đành phải bỏ
học đi cày. Nếu như tôi sáng dạ một chút, mà cố theo đuổi để được cắp quyển vào
trường với các ngài, thì chắc suốt đời bị tội!
Và
ông ấy nói thêm:
-
Nghe chuyện các ngài, làm cho tôi càng thêm sợ. Vậy xin phép các ngài, tôi đi
giục nó làm cơm kẻo muộn.
Rồi
thì ông ta quay mặt đi ra. Đốc Cung hình như đã thấy nóng ruột về cuộc chuyện
phiếm, chàng ngoảnh sang phía Đức Chinh và hỏi:
-
Cậu đến chơi hay có việc gì cần hỏi chúng tôi?
Đức
Chinh mỉm cười như đương có chuyện đắc ý:
-
Tôi muốn mời ngài đêm nay đi chơi giải buồn. Bởi vì chúng mình cùng phường “hỏng”
với nhau.
Đốc
Cung cũng cười:
-
Đa tạ cậu có hảo tâm. Nhưng tôi bây giờ ruột gan đương bồn chồn, còn thiết gì đến
chơi bời? Vậy xin lỗi cậu để cho khi khác. Chúng ta còn nhiều lúc gặp nhau. Vội
gì?
Đức
Chinh vẫn kèo nèo:
-
Cố nhiên thi hỏng ái cũng phải tức, huống chi chúng mình đã lẽo đẽo vào đến tam
trường. Tôi cũng cay đắng trong ruột, có lẽ còn hơn ngài nữa. Vì vậy, tôi muốn
mời ngài đi chơi cho khuây.
Đốc
Cung nhất định từ chối:
-
Thồi cậu miễn cho. Từ sáng đến giờ tôi thấy trong người hơi mệt. Nếu lại thức
đêm, tất nhiên sẽ thành ốm nặng...
Đức
Chinh nói thêm vài câu tào lao, rồi hắn đứng dậy từ biệt.
Thằng
nhỏ vừa bưng rượu đặt vào giữa phản, sau khi nó đã trịnh trọng xin phép mấy ông
khách trọ.
Cũng
như sáng ngày, ông chủ nhà trọ, lại đến gãi tai mời chào, rồi tự lảng đi nơi
khác.
Cả
bọn bấy giờ mới thay khăn áo, rồi cùng ngồi vào mâm.
Trong
lúc chén thù chén tạc, Đốc Cung tuy cũng có vẻ cảm khái, nhưng vì Vân Hạc thỉnh
thoảng lại chêm một câu bông đùa rất có ý vị, cho nên quang cảnh vẫn vui vẻ như
tết.
Mặt
trời đã xế, bóng nắng leo lên nửa tường của tòa nhà trước sân, bấy giờ cuộc rượu
mới tan.
Mấy
tuần trầu nước đã tàn, Đốc Cung cất tập giấy giáp bài vào tráp, rồi chàng ra mắc
nhắc lấy khăn áo bỏ xuống chiếu.
Đoàn
Bằng vội hỏi:
-
Bác ở đây chứ? Đi đâu bây giờ?
Đốc
Cung đáp:
-
Vâng, tôi ở đây. Có lẽ tôi sẽ ở mãi đến ngày xướng danh. Bởi vì tôi tuy hỏng,
nhưng mà các bác “vào” cả, thì cũng còn vui, tôi phải ở lại để mừng các bác. Có
điều ngày mai các bác được đi vào trường, tôi ở nhà một mình, chắc là không thể
chịu nổi. Vì vậy...
Đến
đây, chàng bỗng ngừng lại để đưa ra một nụ cười:
-
Vì vậy tôi muốn xin phép các bác, đêm nay xuống thăm Hàng Lờ cho đỡ buồn...
Rồi
chàng vội cúi mặt xuống, như muốn giấu kín những giọt nước mắt đương thập thò ở
đầu con mắt.
Vân
Hạc lại trêu:
-
Mày khóc đó Cung?
Đoàn
Bằng vội ngăn:
-
Sao chú lại cứ bông đùa mãi thế.
Và
với vẻ mặt rất cảm động, thày quay lại nhìn Đốc Cung.
-
Hôm nay thì tôi không dám can bác. Nhưng đến chiều mai, bác lại về đây, để cho
chúng tôi đi với!
Vân
Hạc lại hỏi Đốc Cung:
-
Thế sao Trần Đức Chinh đến mời, anh không đi luôn với hắn?
Đốc
Cung lại cười:
-
Đi chơi với thằng tục tử ấy có gì là thú? Vả lại, nghe lời hắn nói, tôi đã sinh
ghét. Hỏng thi cũng có năm, bảy thứ người, hắn bì với tôi được à? Thế mà bấy giờ
hắn dám nói rằng: “chúng mình cũng là “phường hỏng” với nhau”. Như vậy, anh bảo
có tức hay không?
Vân
Hạc cũng cười:
-
Kể cả cũng đáng tức thật. Nhưng mà anh hơn gì hắn? Anh tam trường, hắn cũng tam
trường. Và chưa biết chừng, có khi mai kia hắn sẽ đỗ được tú tài cũng nên.
Tiêm
Hồng lắc đầu:
-
Khó lòng lắm. Tuy rằng người hỏng tam trường cũng có thể đỗ được tú tài. Nhưng
khoa này cả trường Hà Nội chỉ lấy hai bốn cử nhân, theo lệ “nhất cử tam tứ” thì
được bảy hai ông tú tài nữa. Thế là kể cả tú tài, cử nhân, cả trường mới có
chín mươi sáu người. Nếu nhà vua có gia ân mà lấy thêm nữa. chẳng qua cũng đến
trăm người là cùng. Vậy mà sáng ngày coi ở trên bảng, số vào phúc hạch đã được
hơn một trăm rồi. Thế thì khi nào tú tài còn đến phần hắn?
Đốc
Cung họa theo:
-
Phải! Nếu hắn mà đỗ, thì cũng đáng buồn cho cuộc thi cử.
Vừa
nói, Đốc Cung vừa thủng thẳng rửa mặt chải đầu, coi bộ như một người đương có
việc gấp. Sau khi đội khăn mặc áo chỉnh tề, chàng lại mỉm cười với bọn Đoàn Bằng,
Tiêm Hồng.
-
Xin chúc các ngài ngày mai viết cho linh lợi! Tôi đi, chiều mai hoặc sáng ngày
kia thì lại về đây.
Anh
em Vân Hạc ai cũng có vẻ ái ngại, nhưng không ai dám nói thêm câu gì, vì sợ
khêu mối đau lòng cho bạn.
Trời
đã chiều cả. Ngoài phố lác đác có tiếng hàng quà đi rao.
Ông
chủ nhà trọ tất tả vào giục các ông khách trọ giao hết lều chõng cho mình sắp sửa.
Là vì kỳ này học trò đã vắng. Những ai được vào, đều phải đem lều chõng nộp sẵn
từ chiều hôm trước, để lính thể sát đóng cho, ngày mai chỉ việc vào đó mà ngồi,
không phải lôi thôi gì nữa. Ông chủ nhà trọ đã quen lệ đó, nên mới giục. Tức
thì Vân Hạc kiểm điểm các thứ đồ đạc của hai anh và mượn lều chõng của Đốc Cung
vì lều chõng của chàng kỳ trước bỏ không đem về đưa nhờ ông chủ nhà trọ bó buộc
đâu đấy. Rồi chàng lấy ba mảnh giấy viết tên ba người dán vào mỗi bộ áo lều một
mảnh, và giao cả cho thằng nhỏ đưa lên cửa trường. Ở đấy đã có một người lại
phòng thu nhận.
Trong
thành bắt đầu nổi trống thu không. Tiếng chuông ở các chùa xa văng vẳng đưa lại.
Trời
nhá nhem tối. Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cùng giục Vân Hạc soát lại ống quyển, hộp mực,
giấy bút và các đồ vặt để ngày mai vào trường.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét