2022-11-05
Lều
Chõng (7, 8)
Ngô
Tất Tố
Chương
7
Ánh
nắng nhạt của trời tháng chín đã phá tan lớp sương mù bắt đầu in xuống mặt đất.
Cánh đồng lúa chín tưng bừng biến thành làn biển sắc vàng. Hơi sương đọng lại
ban đêm còn đầm đìa trên lá cây và lóng lánh trên ngọn cỏ.
Dáng
bộ vui vẻ của một người đương được hả dạ, cô Ngọc - bây giờ có thể gọi là cô
khóa Hạc - tung tăng đi trên bờ đê với chiếc thúng nhói cắp dưới sườn. Chốc chốc
cô lại quay đầu về phía cổng làng để ngó xem chồng ra chưa.
Nhưng
mà chàng vẫn chưa ra.
Thủng
thẳng bước một, cô dạo tới một gốc cây đa ven đê. Và lật chiếc nón khua sơn
nhôi bạc đặt ngửa xuống một đám cỏ, cô để cái thúng lên trên. Rồi vén váy áo
cho khỏi lòa xòa, cô ngồi vào một đoạn rễ đa cạnh đó và giở thúng lấy kim chỉ
và miếng mụn nhiễu, cô vừa khâu túi vừa đợi chồng.
Sau
cái đêm đuốc hoa phòng động, cô về quê chồng lần này là hai.
Bởi
vì từ khi xong lễ lại mặt, Vân Hạc đã cho người sang nhà trọ dọn hết sách vở đồ
đạc sang nhà ông đồ Vân Trình, để cùng cô hưởng cuộc đoàn viên, cho nên cô dù
đã đi lấy chồng, nhưng vẫn được ở nhà với cha với mẹ. Vợ chồng ông đồ cũng muốn
cho cô trọn đạo làm dâu. Cho nên cách đó ít bữa, ông bà lại bắt Vân Hạc đưa cô
về làng Đào Nguyên để thăm bà cống và đi chào các ông chú bà bác trong họ.
Cô
ở nhà chồng chỉ có hai đêm một ngày, thì bà cống Đào Nguyên giục cả vợ lẫn chồng
phải sang Vân Trình. Là vì năm đó, hương thi có kỳ ân khoa, bà sợ con trai nấn
ná ở nhà, hoặc giả lại sao nhãng về việc đèn sách. Chiều ý mẹ Vân Hạc phải đi
ngay.
Năm
gian nhà khách của ông đồ Vân Trình lúc ấy đã thành ra giang sơn riêng của vợ
chồng cô. Với cái giang sơn ấy, đời cô hơn một tháng nay, có thể nói là đầy những
thi vị. Ngày thì đi chợ bán hàng, tối về cô lại dệt cửi. Buồng cửi của cô đối
nhau với buồng học của Vân Hạc. Những lúc đêm khuya nhà vắng, bóng trăng vằng vặc
rọi trước thềm, chàng học, cô thì dệt vải, tiếng đọc sách giòn giã xen với những
nhịp đều đặn của tiếng ác kêu, khiến cô luôn luôn cảm thấy cái sung sướng êm đềm
của đời tuổi trẻ vô tư vô lự.
Nhưng
mà chí cô không phải có thế, cô còn muốn được hơn nữa. Bây giờ kỳ thi sắp tới.
Chỉ còn cách năm ngày nữa, chàng phải trẩy trường. Vì vậy ông bà đồ bảo chàng
và cô phải về Đào Nguyên để sửa lễ thờ. Vân Hạc tuy vẫn không thích việc đó,
nhưng vì chiều lòng ông nhạc, bà nhạc, chàng cũng không muốn từ chối.
Sáng
nay cô và chàng ăn cơm sớm hơn mọi ngày. Đáng lẽ hai người cùng đi một lúc,
nhưng vì vợ chồng mới cưới cô vẫn chưa hết cái tính xấu hổ, sợ rằng đi đôi với
chồng lại bị chị em chê cười. Cho nên cô mới dặn chàng đi sau để mình đi trước,
ra khỏi cổng làng cô sẽ vừa đi vừa đợi. Dưới bóng rợp mát của cây đa, mắt cô
tuy nhìn vào mũi chỉ đường kim, nhưng bụng cô vẫn để cả vào lời người thầy bói
mà cô bói trong phiên chợ trước. Người ta vẫn đồn lão thầy bói đó đoán quẻ hay
lắm. Hắn bảo tháng này mình có tin mừng, chắc anh chàng ta thế nào cũng đỗ. Vả
lại cụ bảng Tiên Kiều, cụ nghè Quỳnh Lâm và nhiều cụ khác đều nói quyệt rằng
anh ta phải đỗ kia mà. Nhưng, anh ta đỗ ngay, mình cũng không thích. Vợ chống lấy
nhau mới già một tháng, mà chồng đã đỗ, thiên hạ sẽ bảo mình không có công nuôi
chồng đi học ngày nào. Ước gì anh ta hỏng vài khoa nữa, rồi sau hãy đỗ để mình
nuôi hắn cho thiên hạ biết tay. Nhưng rồi cô lại gạt đi mà rằng: “Sao mình nghĩ
dại dột như thế? Gì thì gì, chứ chồng đỗ sớm vẫn có sướng hơn. Thi hương đã vậy,
lại còn thi hội. Nếu khi mình đã con bận con mọn, vác đôi vú ộ ệ mà lên ngồi
võng vinh qui, có lẽ không thú gì nữa”.
Cái
túi khâu đã gần xong, vẫn chưa thấy bóng Vân Hạc. Cô toan đứng dậy trở về, thì
trong cổng làng một chiếc nón dứa vừa nhô ra dưới bóng nắng. Nhìn cái dáng điệu
nhanh nhảu và nhẹ nhàng của người đội nón, cô nhận đích là chồng mình, tức thì
cô lại ngồi xuống để khâu cho xong cái túi.
Bóng
nắng lan đến gốc đa.
Trận
gió hiu hiu thổi qua đồng lúa.
Những
bông lúa chín lướt theo chiều gió cồn cộn như một lớp sóng vàng.
Tiếng
hát đưa liềm của mấy cô thợ gặt thi nhau lên bổng xuống chìm, réo rắt trong
cánh đồng bát ngát.
Trước
cảnh tượng bao la man mác, cô dừng mũi kim, mơ màng nhìn ra đám chân trời xa
xa.
-
Làm gì mà thơ thẩn vậy?
Tiếng
hỏi thình lình dội vào bên tai, khiến cô giật mình quay lại. Vân Hạc đã sừng sững
đứng ở đằng sau với một nụ cười. Chàng tiếp:
-
Đợi lâu thế hẳn nóng ruột lắm đấy nhỉ?
Cô
cũng mỉm cười và đáp:
-
Không nóng ruột. Chỉ tính quay về đấy thôi.
-
Trang điểm những gì mà ở nhà bây giờ mới đi?
Vừa
nói, cô vừa thu xếp cái thúng, rồi cô uốn vai, vặn mình, uể oải đứng dậy. Vợ chồng
liền sánh vai nhau vừa đi vừa nói những chuyện tầm phơ. Con đường tuy xa, nhưng
chàng vẫn luôn đi về, cô thì hàng ngày đi chợ đã quen, cho nên ai nấy cũng
không thấy mỏi lắm.
Mặt
trời gần đến đỉnh đầu, cổng làng Đào Nguyên lù lù hiện ra ở trước mặt. Cô toan
lùi lại để chồng vào trước. Nhưng chàng bảo cô cứ việc cùng đi, không phải e lệ
gì cả. Hai người mới nhô đầu vào cổng nhà, lũ cháu thi nhau cười reo:
-
Ấy, chú tư, thím tư đã về!
Rồi
chúng đua nhau lạy chú, lạy thím và chúng xúm xít xung quanh, đứa này nắm tay,
đứa kia níu lấy vạt áo của thím. Xoa đầu chúng nó khắp lượt, cô và chàng vui vẻ
đi vào trước thềm. Bà cống đang ở trong nhà mừng rỡ bước ra. Cô và chàng cùng
cung kính chào. Bà cống tươi cười:
-
Ừ các con đã về đấy ư? Đẻ đang cố mong đợi. Nếu như hôm nay chúng bay không về,
thì có lẽ ngày mai đẻ phải cho người đi gọi.
Vân
Hạc sửng sốt:
-
Thưa đẻ có việc gì ạ?
Bà
cống vội đáp:
-
Không! Có việc gì đâu. Vợ chồng hãy vào trong nhà mà nghỉ. Đi đường lúc nắng có
mệt lắm không.
Cô
Ngọc lễ phép:
-
Thưa đẻ, cũng không nắng lắm. Vì ở trên đường có gió luôn luôn.
Rồi
cô nhẹ nhàng lên thềm và sai một đứa cháu lớn đi xuống nhà dưới lấy cho cái
đĩa. Sau khi đã giở thúng lấy mấy chiếc bánh cốm bày lên trên đĩa, bưng đến trước
chỗ bà cống, mời bà xơi nước, cô đem gói kẹo phân phát cho lũ trẻ con. Mấy người
chị dâu nghe tiếng vợ chồng chú tư đã về, ai nấy đon đả chạy lên chào hỏi.
Trong nhà vui như ngày tết. Hết một lượt chuyện hàn huyên, Vân Hạc đứng dậy
tung tăng vừa đi bách bộ trong nhà vừa hỏi mấy người chị dâu:
-
Anh cả đi đâu không thấy? Anh hai, anh tú độ này có về nhà không?
Bà
cống đón lời:
-
Bác cả sang chơi bên Bắc, mới đi sáng nay. Còn anh hai và anh tú thì hơn tháng
nay không về đến nhà. Hôm qua hai anh có nhắn về rằng: hễ con có về, thì con cứ
việc sửa lễ ra thờ. Từ nay đến hôm trẩy trường, các anh ấy không về nữa. Vì thế,
đẻ cứ mong ngóng vợ chồng nhà mày.
-
Con cũng đã toan không về. Nhưng vì mẹ con bên kia giục mãi, con cũng chiều
lòng, nên phải nghe lời. Lễ mãi, khoa nào cũng lễ, hỏng vẫn hoàn hỏng. Quỷ thần
có giúp cho mình đâu, mà mình cứ phải cúng các ông ấy?
Vừa
nói Vân Hạc vừa ngồi xuống ghế, vớ lấy cái điếu sai cháu châm lửa hút thuốc. Bà
cống ra bộ không ưng lời con, vội gắt:
-
Cái thằng ăn nói hay chứ! Làm người thì phải kính trọng quỷ thần. Cúng ngài
không phải chỉ cốt để ngài phù hộ. Mày dốt thì mày hỏng, trách gì quỷ thần? Nếu
như cúng mà được đỗ, ai còn phải học làm gì.
Cô
Ngọc tiếp lời mẹ chồng:
-
Ấy ở bên kia anh ấy cũng cứ nói bướng như thế. Mẹ con khuyên mãi mới chịu về đấy.
Vân
Hạc mỉm cười:
-
Thì cứ cúng, tôi có ngăn cản gì đâu. Nhưng thưa đẻ phải để đến ngày mai chứ?
Bà
cống rẽ ràng trả lời:
-
Gà gạo tao đã mua sẵn cả rồi. Nhưng cũng phải chờ đến sáng mai mới sửa. Việc lễ
lạt không nên sửa vào buổi chiều.
Một
đứa cháu gái với bộ mặt nhễ nhại mồ hôi, xách một siêu nước từ dưới nhà bếp lên
thềm. Cô Ngọc nhanh nhẩu chạy ra đón lấy. Rồi cô súc ấm, tráng chén, pha mấy
chén nước, đệ đến trước mặt bà cống. Bà cống cầm chồng bánh cốm đưa cho cô và
nói:
-
Con đem bóc ra, để các bác uống nước cho vui.
Chị
tú chạy lại đón lấy chồng bánh và nói:
-
Để con bóc cho. Thím nó chưa biết bát đũa để đâu.
Rồi
thì chị cầm lấy mấy cái bánh đi xuống nhà dưới. Bà cống vui vẻ bảo chị cả, chị hai
cùng sang bên ấy uống nước với mình. Với mấy chị này, bà chỉ là người nàng hầu
của bố chồng, nhưng lúc ấy các bà vợ cả, vợ hai cụ cống đều mất. Bà được là chủ
của gia đình. Cái nết hiền từ đứng đắn của bà, đã làm cho những người dâu con cụ
cống đều phải kính trọng yêu mến như một người mẹ. Đối với bà, họ giữ rất đúng
lễ phép, thường thường không ai ngồi đôi cùng bà bao giờ. Vì vậy, bây giờ bà
tuy mời họ, họ vẫn nhất định từ chối:
-
Bà mặc chúng con.
Chị
tú đã bưng mâm bánh ở nhà dưới lên, rón rén đặt xuống bên cạnh bà cống. Một lần
nữa, bà lại giục các chị dâu sang đó ăn bánh. Nể lời bà, chị hai liền đến bưng
lấy một đĩa, đem sang dãy phản bên này.
Bà
cống lại gọi lũ cháu vào quanh phản mình, rồi bà xắn bánh, xóc cho mỗi đứa một
miếng.
Cái
tiệc đơn sơ cử hành trong một bầu không khí đầm ấm khiến cho cô Ngọc nô nức mừng
thầm về nền phúc đức nhà chồng. Và cô không khỏi băn khoăn cho cảnh vắng vẻ của
nhà mình. Xong bữa nước, trời vừa đúng trưa. Chị cả, chị hai, ai đi làm việc nấy.
Cô và chị tú cùng xuống bếp nấu cơm.
Mặt
trời tà tà, cô vào xin phép bà cống cho mình và mấy đứa cháu nhỏ đi thăm mấy
ông chú bác và vài chị em trong họ. Lân la hết nhà này đến nhà khác, khi cô trở
về thì trời vừa tối.
Trong
nhà hãy còn đầy những khách khứa, bà con trong họ nghe tin Vân Hạc mới về, người
ta rủ nhau đến chơi để hỏi thăm về chuyện thi cử của chàng.
Mặc
chồng tiếp khách ở nhà trên, cô xuống nhà dưới, ngồi chuyện vãn với mấy người
chị dâu. Một lát sau khách khứa về hết. Vân Hạc cũng cùng đi chơi với họ. Bà cống
cho gọi cô và mấy người kia lên cả trên nhà. Rồi bà bắt cô thắp đèn, đem truyện
phật bà Quan âm kể cho cả nhà cùng nghe. Lâu nay bà vẫn thèm nghe truyện ấy,
nhưng mà không có ai kể. Vả lại, bà vẫn nghe nói dâu mình biết chữ, nhưng bà
chưa tin, nên muốn thử xem cô có biết chữ thật không.
Thấy
cô đọc được trôi chảy, đúng vần, dứt mạch, không bị ngắc ngứ chỗ nào, thì bà rất
lấy làm mừng.
Chị
hai như cũng ngạc nhiên về sự thông thái của em dâu, ngơ ngẩn nét mặt sẽ hỏi:
-
Thím đi học được bao nhiêu năm?
Cô
bấm đốt rồi đáp:
-
Tám năm tất cả. Em đi học từ năm lên sáu. Vì thầy mẹ em hiếm hoi, lúc đẻ em, thầy
mẹ em không xâu lỗ tai. Đến năm em lên sáu tuổi thầy mẹ em lại bắt em để hồng
mao, mặc quần trắng, giả làm con trai, học chung lớp với học trò trẻ con. Em học
lẽo đẽo đến năm đã mười bốn tuổi, phải đi chợ coi hàng cho mẹ em, bấy giờ mới
nghỉ.
Chị
em tươi cười hỏi tiếp:
-
Thế thím đã đọc được những sách gì?
Cô
thỏ thẻ trả lời:
-
Cũng như những học trò con trai, vỡ lòng em học Tam tự kinh①, rồi đến Sơ học
vấn tân②,
rồi đến Minh đạo gia huấn③, rồi đến Ấu học ngũ ngôn thi④, rồi đến Hiếu Kinh⑤, rồi đến Luận
ngữ chính văn⑥.
Năm em mười tuổi, thày em mới cho em học Kinh Lễ⑦, nhưng chỉ học
thiên Khúc lễ, và thiên Nữ tắc mà thôi. Hết hai thiên ấy, mỗi ngày em chỉ được
viết một tờ phóng và học mấy bài thơ trong quyển Đường thi⑧. Vì lúc ấy mà đi,
ngày nào em cũng phải đánh ống, đánh suốt, tập nghề dệt vải.
Chị
cả ra bộ tần ngần:
-
Thuở nhỏ tôi cũng đi học như thím, nhưng chỉ học đến quyển Hiếu kinh thì thôi.
Thế mà bây giờ không nhớ một chữ nào cả. Tôi tối dạ quá.
Đêm
đã khuya, bà cống thấy mình hơi mệt. Cuộc kể truyện bị tan giữa lúc nhiều người
còn thèm. Chị cả, chị hai, chị tú rục rịch ai vào buồng riêng của người nấy. Những
đứa cháu nhỏ chầu chực từ tối đến giờ tranh nhau đòi được ngủ với thím tư. Vân
Hạc vẫn chưa về. Bà cống bảo cô đem cả lũ cháu vào trong phòng mình cùng ngủ.
Vừa
lạ nhà, lại vừa băn khoăn không biết chồng mình bê tha ở đâu, cô trằn trọc đến
hết canh ba mới chợp mắt được một lát. Mấy con gà trống phành phạch vỗ cánh thi
nhau gáy ở sau nhà, làm cô giật mình thức giấc. Ngoài sân đã thấy có tiếng nồi
xanh lạch cạch và tiếng vo gạo sàn sạt. Những người chị dâu đã dậy làm việc cả
rồi. Cố nhiên cô cũng không thể nằm nữa. Sợ động giấc ngủ của mẹ chồng, cô sẽ
rón rén xuống đất và sẽ ngỏ cửa ra sân để cùng các chị bắc chõ thổi xôi, đun nước
làm thịt gà.
Bấy
giờ Vân Hạc mới về. Cô toan hỏi chồng đi đâu suốt đêm. Nhưng sợ mấy người chị
dâu cười mình ghen bóng ghen gió, nên cô lại thôi. Trời rạng đông, tiếng gà giục
giã gáy dồn. Bà cống trở dậy và xuống ngồi ở nhà bếp xem xét công việc.
Sáng
rõ. Xôi, gà đều chín. Các thức cơm canh cũng vừa làm xong. Theo lời dặn của bà
cống, cơm canh để cúng ở nhà, còn xôi gà thì đem cúng đình và cúng nhà thờ đại
tôn. Sau khi hai chõ xôi và hai con gà được đóng làm hai mâm, bà bảo cô Ngọc sắp
đủ trầu rượu vào đó và đi lấy hai bông hoa hồng cắm vào hai cái mỏ gà, rồi cho
người nhà bưng đi.
Bởi
vắng anh cả, Vân Hạc phải chỉnh đốn khăn áo để thắp đèn hương khấn cụ. Rồi
chàng đi theo hai mâm xôi gà đi ra đình lễ thánh và vào nhà thờ đại tôn lễ tổ.
Bà cống dặn với:
-
Con nhớ nói với ông từ, ông trưởng khấn cho anh hai, anh tú nữa đấy.
Vân
Hạc tủm tỉm cười nụ:
-
Vâng, con đã nhớ. Nhưng không biết con chỉ lễ đủ phận con hay phải lễ thay cả
hai anh ấy?
Bà
cống cau mày:
-
Đừng nói trẻ con! Việc quỷ thần không phải chuyện đùa.
Vân
Hạc im lặng ra cổng. Bà cống cung kính đến trước bàn thờ, rẽ ràng ngồi xuống
chiếc sập kê liền hương án, sẽ xổ nửa vành khăn vấn, hạ xuống ngang với sống
mũi, và chìa hai tay nâng vành khăn ấy cho nó khòng khòng ở trước hai mắt, bà vừa
lễ vừa khấn ông cống phù hộ các con khoa này thi cử cho may. Một hồi lầm rầm đã
dứt mạch bằng ba cái gật đầu trịnh trọng, bà nghiêm trang quay ra bảo các nàng
dâu cùng vào lễ thầy và đi đánh thức lũ trẻ trở dậy, để cho chúng nó lễ ông.
Ngoài cổng có tiếng chó sủa. Cả nhà đồng thời ngó ra.
Cụ
Năm, chú ruột Vân Hạc, lù lù chống gậy bước vào trong cổng với hai quan tiền vắt
vai.
Chị
hai tất tả chạy ra trông chó và đón ông chú vào thềm. Bà cống chào hỏi bằng giọng
vui vẻ:
-
Ông đem tiền đi đâu? Hay định cho cháu đấy chăng?
Cụ
Năm lễ phép trả lời:
-
Vâng. Cái nghĩa làm chú thì phải thế chứ.
Rồi
cụ đặt hai quan tiền xuống chức án thư giữa đôi tràng kỷ và tiếp:
-
Thưa bác, anh tư đi đâu? Bác đã cúng ông cống chưa đấy?
Bà
cống đáp:
-
Cháu nó ra đình lễ tổ. Tôi khấn ông cháu rồi ạ!
Cụ
Năm lật đật đến trước bàn thở và nói:
-
Xin vái ông anh vậy thôi, mỏi lắm, không lễ được nữa.
Rồi
cụ chắp tay cúi đầu, vái luôn năm cái. Vân Hạc vừa về, chàng mời ông chú sang
ngồi ở bên tràng kỷ. Rót một chén nước đệ đến trước mặt cụ Năm, rồi chàng chắp
tay đứng hầu bên cạnh. Cụ Năm cầm chén nước lên và hỏi:
-
Hôm nào thì anh trẩy trường.
-
Thưa chú hai nhăm tháng này!
-
Mồng một tháng sau đã phải vào trường, mà đến hai nhăm tháng này mới đi, e rằng
chậm quá, anh nên đi sớm thì hơn. Bởi vì tới nơi còn phải đì tìm nhà trọ và phải
sắp sửa các đồ cần dùng. Xong rồi cũng phải nghỉ ngơi vài ngày cho tinh thần
khoan khoái, thì khi viết văn mới được linh lợi.
-
Thưa chú, đồ đạc cháu đã sắp sẵn ở nhà, còn nhà trọ thì cháu đã có chỗ quen mọi
năm, không phải tìm nữa. Hai nhăm tháng này đi cũng vừa.
Cụ
Năm chỉ tay vào hai quan tiền:
-
Nếu được thế thì hay lắm. Đây chú đỡ cho vài quan, để khi tới trường mà cho...
nhà trò.
Bà
cống nói xen:
-
Chết nỗi. Sao ông lại nuông cháu quá như vậy!
Cụ
Năm vừa cười vừa nói:
-
Chẳng nuông cũng đến thế thôi! Ai theo chân mà giữ chúng nó!
Rồi
cụ quay sang Vân Hạc:
-
Nhưng chơi thì chơi, cũng phải để bụng vào việc thi cử mới được, chớ có lu bù
thái quá. Bây giờ chú đã già rồi, nghiệp nhà trông vào các anh. Các anh còn
đương niên thiếu lực cường, phải cố nối lấy gia thanh, đừng có lẹt đẹt như chú.
Hễ khi tới trường, có gặp anh hai, anh tú, cũng bảo chú dặn như vậy.
Vân
Hạc vâng lời, rồi xách cả hai quan tiền đem đặt sang phản bên kia.
Ngoài
cổng lại có bóng người thập thò, chị cả vội vàng chạy ra đón tiếp. Bà bác, bà
thím, bà cô, một lũ lô nhô tiến vào trong sân. Sau khi đã chào bà cống, cụ Năm
và ghé ngồi vào chiếc phản cạnh, mỗi bà mở bọc giở ra một chuỗi tiền đen và bảo
Vân Hạc:
-
Nghe tin anh sắp trẩy trường, gọi là chúng tôi mỗi người giúp anh một quan để
anh thêm tiền đò giang.
Vân
Hạc chưa kịp nói sao thì một bọn nữa độ năm sáu người, vừa họ nội, vừa họ ngoại,
lũ lượt kéo đến. Cũng như các bà kia, những người này cũng đem tiền đến cho Vân
Hạc: người một hai quan, người năm bảy tiền. Vân Hạc cảm ơn khắp lượt rồi chàng
vừa cười vừa nói:
-
Giả sử mỗi tháng đi thi một lần, thì trong một năm, tôi có thể cưới được một
người vợ nữa.
Rồi
chàng thu xếp các món tiền đó chồng làm một đống.
Hai
người nhà bưng cỗ đi cúng lúc nãy đã đội cỗ trở về, bà cống giục các nàng dâu sắp
sửa mâm bát để mời họ mạc uống rượu. Đàn bà con gái hết thảy đều chối là mới ăn
cơm xong. Chỉ có đàn ông nhận lời. Chừng nửa buổi bữa rượu mới tan. Họ mạc lẻ tẻ
ra về với câu ân cần chúc cho Vân Hạc khoa này nhất cử. Trông thấy chiều trời
đã trưa, bà cống liền sai cô Ngọc đem cả số tiền bà con giúp đỡ, lấy mo bó làm
hai bó. Rồi bà thúc giục con dâu, con trai phải về Vân Trình vì ngày mai còn phải
lễ thờ ở bên ấy nữa.
-----
Chú
thích của người biên soạn
① Tam tự kinh (theo Wikipedia)
Tam
Tự Kinh (chữ Hán: 三字經)
là cuốn sách chữ Hán được soạn từ đời Tống, đến đời Minh, Thanh được bổ sung.
Sách được dùng để dạy học cho học sinh mới đi học. Ở Việt Nam trước đây cũng
dùng sách này. Nội dung cuốn sách hơn 1000 chữ, bố trí ba chữ một câu có vần.
Hiện nay những người học chữ Hán cũng học nó để có số vốn 600 chữ để rồi tiếp tục
học lên cao.
Nội
dung
Sách
được biên soạn để dạy vỡ lòng cho con trẻ thời Trung Quốc xưa. Nội dung rất
phong phú, đề cập đến bản tính của con người lúc ban đầu là thiện, nhưng nhiễm
những thói quen do hoàn cảnh môi trường nên dần mất bản tính ấy; cần phải
chuyên cần, chăm chỉ học tập để duy trì bản tính thiện và trau dồi kiến thức. Mở
đầu cuốn sách là đạo lý “Nhân chi sơ, tính bổn Thiện” (con người sinh ra, bản
tính vốn thiện lành)... đến những đạo lý dạy dỗ làm người “Ngọc bất trác bất
thành khí, nhân bất học bất tri lý” (Ngọc không mài không thành đồ quý, Người
không học không biết đạo lý), Tu tề, Đạo Hiếu, đối xử với anh em, bạn bè, từ
đạo nghĩa cơ bản, xử thế, tam cương, ngũ thường,.. Đến cả địa lý mặt trời, mặt
trăng, và diễn biến lịch sử của Trung Quốc, qua từ ngữ ngắn gọn, súc tích có vần
có điệu. Có thể dạy dỗ cho con trẻ có một khái niệm về cuộc sống, về đạo đức,
và làm người.
② Sơ Học Vấn Tân (= bắt đầu học hỏi
bến, tức là hỏi đường lối về việc học). Sách viết thời nhà Nguyễn nhưng không
rõ đích xác năm nào và tên tác giả song, theo Bằng Giang, đã được Trương Vĩnh
Ký phiên âm ra quốc ngữ, chú nghĩa và dịch ra tiếng Pháp, chính quyền lo việc
in năm 1877, xuất bản năm 1884. Sách gồm 270 câu 4 chữ, không có vần, chia làm
ba phần : 130 câu đầu tóm tắt lịch sử Trung quốc ; 64 câu về lịch sử nước Nam từ
đời Hồng-Bàng đến nhà Nguyễn ; 76 câu còn lại dậy cách xử thế, khuyến học, …
③ Minh Ðạo Gia Huấn (= Sách dậy
trong nhà) của Trình Minh Ðạo (1032-85). Sách gồm 500 câu thơ 4 chữ, chỉ bảo
cách tu thân, xử thế, nhiều câu đã trở thành cách ngôn như:
Chí
giả cánh thành (= có chí thì nên)
Giáo
phụ sơ lai, giáo tử anh hài (= dậy vợ từ lúc mới về nhà chồng, dậy con từ
thuở còn thơ)
Nhân
tham tài, tử; điểu tham thực, vong (= người tham của thì chết; chim tham ăn
tất chết)
Tự
tiên trách kỷ, nhi hậu trách nhân (= trước hãy tự trách mình, sau mới trách
đến người)
④ Ấu Học Ngũ Ngôn Thi, cũng gọi là Trạng-Nguyên
Thi, gồm 278 câu 5 chữ, khuyến học, nói về lạc thú của sự học và mộng tưởng
của người học trò mong thi đỗ Trạng-nguyên. Trích :
Di
tử kim mãn doanh, (= để lại cho con đầy một hòm vàng)
Hà
như giao nhất kinh? (= sao bằng cho con một quyển kinh sách?)
Tính
danh thư quế tịch, (= họ tên chép vào sổ quế = sổ ghi tên những người thi đỗ)
Chu
tử liệt triều khanh. (= mặc áo đỏ tía, tức áo đại trào, đứng ngang hàng với
các bậc công khanh trong triều)
⑤ Hiếu Kinh (theo Wikipedia)
Hiếu
Kinh
(tiếng Trung Quốc: 孝經;
bính âm: Xiàojīng; hay là Hsiao Ching) được cho là văn bản viết vào khoảng thời
kỳ Tần-Hán, là một luận thuyết kinh điển Nho giáo đưa ra lời khuyên về lòng hiếu
thảo; có nghĩa là, làm thế nào để đối xử với một bậc trưởng thượng (chẳng hạn
như một người cha, một người anh trai, hay là cấp trên).
Từ
đó thiết lập nên đạo Hiếu, là một đức tính tôn trọng cha mẹ và tổ tiên của
mình. Trong sách thuật lại cuộc trò chuyện giữa Khổng Tử và học trò của ông là
Tăng Tử 曾子), là làm thế nào để thiết
lập một xã hội tốt đẹp bằng cách sử dụng nguyên tắc của lòng hiếu thảo. Lòng hiếu
thảo là trung tâm của tiêu chuẩn đạo đức của Nho giáo.
Hiếu
Kinh được xếp vào Thập tam kinh là bộ mười ba tác phẩm kinh điển được Nho học đề
cao.
⑥ Luận ngữ (theo Wikipedia)
Luận
Ngữ
(論語) là một cuốn sách do Khổng
Tử (551 TCN - 479 TCN) và những đệ tử của mình biên soạn.
Luận
Ngữ là một cuốn trong bốn cuốn sách gọi là Tứ Thư. Ngoài Luận Ngữ, Tứ Thư còn
bao gồm Đại Học, Mạnh tử và Trung Dung. Luận Ngữ được viết từ đời Tiền Hán (206
TCN – 220) tới đời Hậu Hán (947-951), và là một chủ đề học vấn chủ yếu trong
thi triều đình Trung Hoa Khoa bảng (hay là “Khoa Cử”).
Trong
Luận Ngữ có bài do môn sinh của Khổng tử chép, như môn sinh nghe giảng điều gì
thì chép ngay lại cho khỏi quên, có bài do hạng môn sinh tái truyền (môn sinh của
môn sinh chép).
Có
thể rằng sau khi Khổng tử mất, các môn sinh thu thập lời dạy của thầy, truyền
cho nhau, một số người chép lại dùng để dạy học, khi chết, thì học trò của họ lại
cả lời của Khổng tử lẫn lời của họ. Theo Liễu Tôn Nguyên đời Đường thì có lẽ là
một học trò của Tăng Sâm là người cuối cùng chép Luận ngữ và xuất hiện sớm cũng
vào khoảng bảy tám chục năm sau Khổng tử mất.
Luận
ngữ đã được phổ biến từ thời Tiên Tần.
Sách
Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiên không
có liên hệ với nhau.
⑦ Kinh Lễ (theo Wikipedia)
Kinh
Lễ
hay còn gọi là Lễ ký (tiếng Trung: 禮記
Lǐ Jì) là một quyển trong bộ Ngũ Kinh của Khổng Tử, tương truyền do các môn đệ
của Khổng Tử thời Chiến quốc viết, ghi chép các lễ nghi thời trước. Lễ ký cùng
với Chu lễ và Nghi lễ được gọi chung là Tam lễ.
Khổng
Tử hiệu đính lại Kinh Lễ mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự.
Khổng Tử nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời”.
⑧ Thơ Đường (theo Wikipedia)
Thơ
Đường hay Đường thi (chữ Hán: 唐詩) là toàn bộ thơ ca đời Đường được các nhà
thơ người Trung Quốc sáng tác trong khoảng từ thế kỉ 7 - 10 (618 - 907). Các
sáng tác của hàng nghìn nhà thơ đời Đường được bảo tồn trong cuốn Toàn Đường
thi gồm 48.900 bài. Đời Thanh chọn 300 bài do Hành Đường thoái sĩ và Trần Uyển
Tuấn bổ chú thành Đường thi tam bách thủ được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc,
Việt Nam...
➖➖➖
Chương
8
Đêm
ấy không có trăng.
Phố
phường Hà Nội đã theo cảnh tượng trời đất biến thành một khối đen sì.
Vũ
trụ thu lại vùng ánh sáng của mấy cây đình liệu. Gió bấc ào ào thổi. Chín mười
ngọn lửa lớn bằng chín mười cái bịch hết thảy điên cuồng lồng phách như muốn
lia những bó đuốc nứa nhảy vọt lên từng mịt mù. Quang cảnh trường thi hôm nay rộn
ràng hơn mấy hôm trước.
Dưới
lớp mái ngói của nhà Thập đạo, mũ áo thấp thoáng hiện trước bóng đèn lồng.
Trong
mấy gian chòi canh lơ lửng gác ở lưng trời, trống cái đi đôi với thanh la, chốc
chốc lại đưa ra những tiếng oai nghiêm trịnh trọng.
Ngoài
dãy phên nứa hùng vĩ như bức tường thành quây kín lấy khu nền tường, đội lính
trú phòng rầm rập theo vó ngựa của quan giám trường đề điệu diễu từ mặt nọ đến
mặt kia. Tiếng nhong nhong của nhạc ngựa hòa với tiếng dình dình của trống
quân, càng giúp cho cuộc tuần phòng thêm vẻ cẩn mật.
Trên
nếp cổng tiền, một bức hoành biển nghiêng mình nằm ghếch đầu trên đôi đồng trụ,
chiều dài thườn thượt không kém một chiếc thuyền thoi. Sóng biển phủ một bức diềm
nhiễu điều, chính giữa kết thành một hoa sen to bằng cái mâm, hai đầu thì hai
trái găng lớn như cái thúng lủng lẳng đu ở cạnh cột. Lòng biển, bốn chữ “Tân
hưng thịnh điển” song song đứng ngang một hàng, nét vàng lóng lánh trong nền
sơn son như muốn cười với ánh lửa của trời tối.
Từ
mặt tiền qua phía tả đến mặt hậu, cũng như từ mặt hậu qua phía hữu đến mặt tiền,
bốn cửa của bốn vi giáp, ất, tả, hữu đều thênh thang.
Những
cái khung bảng chứa hàng mấy nghìn tên người đều ngoảnh bộ mặt “dán giấy” ra đường,
như đương ngóng các thày sĩ tử.
Mấy
chiếc ghế treo cao chín mười bậc cùng doãi bốn chân và đứng ngất ngưởng ở ngoài
các cửa như đương đợi các ông khảo quan.
Trước
hai cửa của hai vi tả hữu, cũng như trước hai cửa của hai vi giáp ất, toàn lính
thể sát đo nhau đứng chực ngoài cửa với những dáng bộ rất nghiêm trang. Tấm áo
nẹp xanh thân đỏ gọn gàng nấp dưới chiếc nón dấu sơn quang dầu. Những sợi dây
tòng của chiếc tay thước khảm chai, bồng bênh rủ xuống miếng ban kiên sặc sỡ.
Khoảng
đầu canh ba, tiếng ồn ào bắt đầu nổi ở nẻo xa xa. Rồi nó dần dần gần lại. Rồi
nó dần dần rõ thêm. Rồi nó dần dần đưa đến những đám đèn đuốc lập lòe như đám
ma trơi. Học trò các nơi tấp nập kéo đến cửa trường.
Gió
bấc thổi càng dữ.
Những
cây đình liệu cháy càng nỏ.
Trên
miếng đất giá lạnh của trời đông, bóng người chật như đám hội.
Có
người tóc đã bạc phơ. Cũng có người hồng mao còn ngất nghểu trong vành khăn nhiễu.
Có người không giấu sự nghèo túng, thân hình gầy guộc so sởi trong mảnh áo đơn.
Cũng có người như muốn khoe vẻ phong lưu, quanh mình quấn mấy lần áo bông sù
sù, hai hàm răng còn run cầm cập. Có người hai vai nặng trĩu khuỷu tay còn đủ sức
thích bên kia gạt bên nọ, len từ ngoài tít vào trong cùng. Cũng có người cất cổ
không lên, lều chiếu đều bị lôi xềnh xệch ở mặt đất. Vênh cái mặt dương dương tự
đắc, đó là người mới thi lần đầu.
Vẻ
lo ngại hiện đầy trên bộ trán nhăn nheo ấy là kẻ lảo đảo trường ốc.
Còn
nữa, và còn nhiều nữa. Tả không thể hết.
Đêm
càng khuya, học trò kéo ra càng nhiều. Ai vào vi nào, lật đật tìm đến cửa vi ấy.
Dưới hàng vạn nón chóp lố nhố đứng ở bốn cửa, hàng vạn con người cùng một lối
trang sức như nhau: sườn này cái chõng tre và bộ gọng lều; sườn kia, thì bó áo
tơi và cuộn áo lều, hoặc một đôi chiếu cói; trên ngực, quả bầu be và chiếc ống
quyển; dưới bụng thì cái yên mộc hay cái tráp sơn. Bấy nhiêu đồ vật, nặng có,
nhẹ có, lớn có, bé có, dài có, ngắn có, hết thảy xúm lại và đu cả lên cái cổ yếu
ớt của các ông thư sinh. Hình như trời cũng bắt tội nhà nho, trước khi bước lên
đường công danh, đều phải tập làm việc của bọn phụ trạo.
Kẻ
chen vào người đẩy ra, kẻ du lại, người ẩn lại dưới ánh lửa sáng, đám người dồn
dập bị xô đẩy cồn cộn như lớp sóng nước triều. Tiếng gọi nhau, tiếng hỏi nhau,
tiếng chào nhau, tiếng mắng nhau, tiếng cãi nhau, tiếng rầm rầm nói chuyện với
nhau. Các thứ tiếng ấy hợp lại, làm cho bốn khu cửa trường, ầm ầm như bốn cái
chợ.
Sang
đầu canh tư, các cây đình liệu đều cháy hết già một nửa. Tàn nứa đỏ ối theo ngọn
gió bấc tản mác bay khắp vùng trời. Rồi từ từ, nó rơi xuống đám đầu người, xuống
quãng đất không. Xuống những nơi ở tít xa xa, nếu nó không bị tắt ở trong bóng
tối.
Thình
lình trong nhà Thập đạo, kiểng đồng gióng với trống khẩu, dõng dạc đánh luôn ba
hồi. Các bóng đèn lồng nhất tề lay động. Các áo thụng lam, các mũ cánh chuồn đồng
thời rộn rịp như sân khấu rạp tuồng.
Sau
khi bốn ông ngự sử đã đem chức trách đàn hặc lên bốn chòi canh, các ông khảo
quan tức thì cắt nhau mỗi người đi mỗi ngả. Cũng như mọi khoa, hai ông phân khảo
phải coi hai cửa tả hữu, ông phó chủ khảo được theo chiếc biển “phụng chỉ” ra cửa
vi ất. Còn cửa vi giáp thuộc quyền ông chánh chủ khảo và lá cờ “khâm sai” của
nhà vua ban.
Dứt
mấy tiếng yết hậu của trống khẩu và kiểng đồng, hai hàng đèn lồng bắt đầu ở nhà
Thập đạo từ từ tiến ra. Rồi đến một đôi lọng vàng cung kính rước lá cờ khâm sai
đi trước. Rồi đến ông chánh chủ khảo và bốn chiếc lọng xanh khúm núm theo sau.
Bộ
dạng quan chánh chủ khảo mới oai làm sao!
Cái
bối từ hình con công, cái vành đai đột chỉ vàng, cái gấu áo thêu thủy ba, cái
xiêm xanh viền chân chỉ hạt bột, và đôi ủng đen có đôi bướm bạc long lanh, bấy
nhiêu thứ đó hợp lại với cây hốt ngà cầm ở trước ngực và chiếc mũ gấm xòe hai
cánh ra ngoài hai tai, đủ làm cho ngài giống hệt những quan phường chèo nếu
ngài có bộ râu dài như họ. Đám rước ra đến cửa vi, người lính cầm cờ khâm sai lễ
phép leo lên chiếc ghế tréo và cắm cán cờ vào cái lỗ thủng sau ghế. Quan chánh
chủ khảo tạm giữ cây hốt bằng một tay trái để lấy tay phải vịn vào chân ghế
tréo. Rón rén bước qua các bực, và trèo lên ghế, ngài sẽ vén cái vạt sau của tấm
phẩm phục, rồi ngồi vào giữa mặt ghế. Cây hốt lại được trở lại phía trước mặt
ngài với sự nâng niu của hai bàn tay súng sính trong đôi tay áo rộng như cái cống.
Cả sáu chiếc lọng lần lượt nhô lên trên ghế. Những cái xanh che quan chủ khảo.
Còn những cái vàng thì che lá cờ khâm sai.
Tiếng
ồn ào ở khu cửa trường tự nhiên im bặt.
Mấy
nghìn con mắt đều đổ dồn vào viên đại thần đứng đầu khảo quan.
Thình
lình ở trên lưng trời có tiếng ấm óe:
“Báo
oán giả tiên nhập! Báo ân giả thứ nhập? Sĩ tử thứ thứ nhập!” Hồi loa dữ dội như
muốn phá tan cái bầu tịch mịch, làm cho mọi người đều phải ngơ ngác. Dứt tiếng
gầm hét, người lính đứng cạnh ghế tréo của ông chủ khảo theo miệng một người lại
phòng cũng đứng chỗ đó với một cuốn sổ trong tay chìa loa gọi tên một người học
trò.
Một
tiếng dạ bật lên trong đám đông.
Một
chàng thiếu niên, với cái dáng bộ liều chết, cố lách được qua “vòng vây”, để đệ
các đồ kềnh càng đến khu đất trước ghế tréo của quan chủ khảo.
Toán
lính thể sát bắt đầu làm việc.
Họ
giở bó áo tơi và cuốn áo lều. Họ nhòm những cái “cái chõng”, chân chõng. Họ ghé
vào ống đựng quyển và quả bầu be đựng nước. Họ lần dải lưng và vuốt các gấu áo,
gấu quần của chàng thiếu niên. Họ cởi tung cả bộ gọng lều. Rồi họ lục soát đến
cái tráp sơn của chàng ấy đeo ở trước rốn.
Ngoài
một hộp mực, vài cái bút, vài cây sáp, một cái dùi vở, một tập giấy bản và mấy
cái bánh giầy, mấy cái bánh giò, một nắm cơm, vài miếng chả trâu, vài miếng thịt
rang, trong tráp không có vật gì khả nghi.
Chàng
thiếu niên được phép lĩnh quyển của người lại phòng, cẩn thận cuốn lại, bỏ vào
chiếc ống quyển đeo ở trước ngực, rồi tung tăng đi vào trong trường với các đồ
đạc xúc xích bám quanh vai, quanh cổ. Đến lượt người khác theo tiếng loa gọi tiếng
vào.
Bọn
lính thể sát lại xúm nhau lại làm các công việc như trước.
Người
này cũng không có sách thạch bản hay là văn cũ chữ “kiến” chi hết, nhưng mà các
đồ lặt vặt thì không đựng bằng tráp mà đựng bằng yên. Trong cái yên, cũng có giấy,
mực, dùi, bút, thịt, chả, cơm, bánh như chàng thiếu niên vừa rồi, và còn hơn một
bộ đồ hút thuốc phiện.
Bọn
lính thể sát bĩu môi:
-
Vào thi vẫn còn đèo bòng cái của tội này, thì lúc nào hút, lúc nào làm văn?
Người
ấy ngáp một cái dài và trả lời:
-
Có hút, văn mới hay! Nếu không hút thì sao ra văn?
Rồi
hắn đón lấy quyển của người lại phòng và lểu đểu đi vào trong trường.
Tên
lính cầm loa lại gọi đến tên người khác.
Khám
trong lều chõng của người này cũng không thấy thứ gì gian lận, nhưng trong cái
yên lại có một chiếc dầm đào cỏ. Bọn lính... thể sát ngạc nhiên và hỏi:
-
Sao lại đem cái này vào trường?
Người
ấy khẽ đáp:
-
Thưa cậu tôi mắc bệnh đi kiết.
Bọn
lính không hiểu lại hỏi:
-
Đi kiết thì dùng cái đó làm gì?
Người
ấy ngập ngừng:
-
Thưa cậu, để khi làm văn, lỡ ra bị mót đại tiện, thì đào nền lều mà tương nó xuống,
rồi lại vùi đi. Chứ làm thế nào? Trong trường, chỗ nào cũng có lều của học trò,
“đi” vào đâu được?
Bọn
lính thể sát đã hiểu công dụng của cái dầm, họ liền cho phép người ấy vào trường
sau khi hắn đã nhận quyển thi bỏ vào ống quyển.
Người
lính cầm loa lại bắc loa gọi:
-
Đào Vân Hạc, Sơn Tây, Đào Nguyên!
Vân
Hạc đứng ở ngoài xa, tuy có nghe thấy tên mình, nhưng không thể nào mà vào được.
Người
lính cầm loa gọi đến ba lần, vẫn không thấy có người thưa, hắn bèn đặt quyển
thi của Đào Vân Hạc xuống cạnh chiếc ghế của quan chủ khảo, rồi gọi đến người
tiếp theo.
Một
người coi bộ rất khỏe, dạ một tiếng lớn, rồi cố xô đẩy những người chung quanh,
hùng dũng đeo lều chiếu vào tận cửa trường.
Bọn
lính thể sát xúm lại lục đồ đạc.
Các
vật cần dùng của người này, không khác của mấy người trước. Riêng có thứ đồ đựng
nước, không phải là quả bầu be, mà là một cái lọ sành rộng miệng.
Ngạc
nhiên, một người trong bọn liền thò cái que khoắng vào trong lọ, tức thì ở dưới
lọ, có vật tròn tròn bềnh lên mặt nước. Cái gì thế nhỉ? Người lính đó nghiêng
cái miệng lọ và móc lấy vật ấy ra. Té ra một mớ giấy bản viết chữ nhỏ như con
kiến, người ta vo lại và trát sáp ong ở ngoài cho khỏi thấm nước.
Của
phi pháp liền bị tịch thu. Và cái tội “mang sách vào trường” liền tống ông học
trò ấy ra khỏi cuộc thi cử.
Tên
người khác được nhắc đến trong miệng loa.
Và,
sau một tiếng dạ gọn gàng, một người đứng tuổi tiến đến trước mặt bọn lính thể
sát với một dáng bộ lo sợ. Thấy người này có vẻ đáng ngờ, bọn lính thể sát càng
lục kỹ các thứ đồ đạc. Nhưng không bắt được cái gì gian lận, họ đã toan tính
cho đi. Thình lình một người trong bọn họ trông thấy phía trong một cái “cái
chõng” có một miếng vá, hắn bèn dùng con dao nhọn cậy tung miếng vá ấy ra. Thì
ra trong đó có để hai cuốn “Hành văn bảo kíp” -thứ sách thạch bản, chữ in nhỏ bằng
hột cám - cũng như cái ông vừa rồi, người ấy liền bị trói lại để giải ra dinh tổng
đốc với tất cả đồ vật của mình.
Người
lại phòng, người lính cầm loa và bọn lính kiểm soát lại cứ tiếp tục ai làm việc
nấy như thường.
Chừng
nửa canh năm, sương mù tỏa khắp bầu trời, ngọn lừa ở các cây đình liệu đã lui
xuống gần mặt đất ánh sáng đã hiện ra sắc úa vàng.
Đám
người và đám lều chõng ở ngoài đã chuyển hết ba phần tư vào trường, khu đất của
trường chỉ còn lơ thơ vài trăm học trò. Tiếng ồn ào dần dần nhỏ bớt.
Mặt
trời mọc. Các cây đình liệu cũng vừa cháy hết. Vũ trụ đã khôi phục cảnh tượng
xinh đẹp và mông mênh của ban ngày.
Mấy
nghìn học trò của vi giáp đã được vào trường gần hết. Bấy giờ người ta mới lại
gọi đến những người lúc nãy đã gọi một lần mà chưa thấy vào.
Quyển
của Vân Hạc bị đặt ở dưới cuối cùng, cho nên tên chàng phải gọi sau rốt.
Sau
khi chàng vào khỏi cửa, cánh cửa vi giáp liền bị khóa lại. Quan trường và tất cả
các người tùy phái đều theo cửa chính vào nhà thập đạo. Lúc ấy tất cả học trò
vi giáp đóng lều đã xong.
Những
chỗ gần nhà Thập dạo đã bị những người vào trước chiếm hết. Chàng toan đem lều
ra đóng ở phía ngoài cùng. Nhưng khổ quá, cái khu đất ấy, lúc nãy còn là một
cõi biên thùy bỏ hoang, các ông vào trước đem bã văn chương tuôn cả ra đó, mùi
theo ngọn gió đưa ra ngạt ngào, không thể nào mà chịu cho nổi. Chàng lại lếch
thếch vác lều chõng đi lùng khắp các miếng đất phía trong.
Trong
một cái lều ở gần vi hữu bỗng có tiếng gọi:
-
Đào Vân Hạc? Anh tìm ai mà lật đật thế.
Nghe
rõ tiếng Nguyễn Khắc Mẫn, chàng đáp:
-
Tôi đi kiếm một chỗ đóng lều, chứ không tìm ai!
Khắc
Mẫn nói lớn:
-
Đến đây! Chỗ này còn rộng! Mau lên!
Vân
Hạc mừng quá, chàng vội đeo các đồ đạc lại chỗ gần lều Khắc Mẫn. Nhanh nhảu, Khắc
Mẫn đỡ bộ lều chõng trên vai Vân Hạc xuống đất. Cởi hết mấy nuộc dây chằng,
thày lấy sáu chiếc gọng lều cắm làm hai hàng, để cho Vân Hạc vít những đầu gọng
sâu vào các ống ròng rọc. Rồi một người trải áo lều lợp lên, một người đem đôi
áo tơi che kín hai đầu. Bốn phía góc lều đã được Khắc Mẫn đóng bốn cái cọc nho
nhỏ và neo bốn chiếc gọng lều vào đó, cho khi có gió, lều khỏi lay chuyển. Vân
Hạc liền đem cái chõng kê vào trong lều, rồi chàng sang lều Khắc Mẫn, giở bộ đá
lửa đánh lửa hút thuốc.
Chiếc
lều bên cạnh, bỗng thấy có khói bốc nghi ngút. Vân Hạc tưởng là bị cháy, vội chạy
ra coi. Nhưng không phải. Người ta đốt vàng. Ông chủ lều ấy sợ có oan hồn theo
vào trường thi báo oán, nên phải dùng thứ lễ ấy tiễn họ. Chàng mỉm cười và quay
vào lều của mình.
Một
hồi trống cái từ trên chòi canh giật giọng đưa xuống. Trong vi tức thì hiện ra
cảnh tượng nhốn nháo.
Khắc
Mẫn nói với sang lều Vân Hạc:
-
Có phải trống “ra đầu bài” đó không?
Vân
Hạc gật đầu:
-
Chớ còn trống gì bây giờ?
Rồi
chàng mở tráp lấy bút và hộp mực đem đến cái nhà lợp cót ở gần nhà Thập đạo.
Hai
chiếc lọng xanh và đôi mã tấu sáng quắc vừa rước quan giám trường đề điệu ở nhà
Thập đạo đi xuống. Như hai dòng nước chảy sau chiếc thuyền chạy mạnh, đám học
trò đương đứng lật đật rẽ sang hai bên để cho mặt đất hở ra một con đường rộng.
Bằng dáng điệu hùng dũng, ông đề điệu đi thẳng đến trước cái nhà lợp cót trao tờ
giấy yết đầu bài cho người lại phòng dán lên khung bảng, rồi ngài dõng dạc quay
ra và lại lên nhà Thập đạo để đi coi sóc việc trường.
Hàng
nghìn học trò trong vi nhất tề xúm lại trước bảng, kẻ đọc người viết.
Khoa
này mới đổi phép thi, kỳ đệ nhất thi bằng kinh nghĩa. Hai bài truyện là:
Luận
ngữ: Tắc hà dĩ tai?
Mạnh
Tử: Vị thiên hạ đắc nhân.
Năm
bài kinh thi:
Kinh
dịch: Bạt mao dĩ kỳ vựng chình cát.
Kinh
thư: Dụng nhứ tác chân tiếp.
Kinh
thi: Nam sơn hữu đài.
Kinh
lễ: Tuyển hiền dữ năng.
Kinh
Xuân thu: Cập Tề nhân minh vu U.
Vân
Hạc không chép, chàng chỉ nhẩm qua một lượt rồi trở về lều. Học trò ở trước nhà
bảng dần dần tản mác, ai nấy trở lại chỗ ở của mình với cái dáng bộ lo ngại nhiều
hơn vui vẻ.
Trên
chiếc chòi canh ở góc vi giáp, quan ngự sử giơ chiếc tay áo lùng thùng chỉ xuống
dưới vi đưa ra một hồi trọ trẹ không rõ là những tiếng gì. Tức thì người anh áo
nẹp kề loa vào miệng và thét:
-
Bớ truyền sĩ tử? Ai ở lều nấy, không được nhốn nháo chạy đi chạy lại.
Nhưng
mà trong vi vẫn cứ nhốn nháo như thường.
Giây
lát học trò vào hết các lều. Bấy giờ cả trường đều im phăng phắc. Vân Hạc lúi
húi chép các đầu bài vào một mảnh giấy. Rồi chàng bó gối ngồi nghĩ không biết
nên làm tất cả bảy bài hay chỉ nên làm hai bài. Bởi vì theo phép, kỳ kinh nghĩa
tuy những bảy cái đầu đề, nhưng chỉ những người kiêm trị mới làm tất cả còn ai
chuyên kinh thì chỉ làm hai bài: một bài truyện và một bài kinh trong bảy bài
đó, muốn làm bài nào cũng được.
Với
học trò, chuyên kinh là lối phổ thông, còn kiêm trị thì là một sự đặc biệt. Người
nào đại tài, viết hai bài vẫn còn thừa sức, thì họ viết cả bảy bài cho oai, người
nào viết văn tuy nhanh, nhưng lời văn không được xuất sắc nếu làm hai bài sợ
không đủ phê, thì họ cũng viết bảy bài để trông vào sự rộng rãi của ngòi bút
quan trường, là vì những quyển kiêm trị, bao giờ cũng được chấm nới hơn những
quyển chuyên kinh một chút. Vân Hạc mọi ngày vẫn chuyên Kinh Thi và một hai khi
có làm Kinh Dịch, hôm nay vì thấy mấy bài ở các kinh kia cũng không khó lắm, ý
chàng cũng muốn làm cả.
Nhưng
lại sợ không đủ thời giờ, nên chàng vẫn còn đắn đo. Khắc Mẫn thình lình gọi
chàng và hỏi:
-
Này anh Hạc? Đầu đề khoa này ra khéo đấy nhỉ. Có phải trong bảy bài đó, trừ bài
Xuân thu, sáu bài kia đều có ý nghĩa về việc “dụng nhân” cả không?
Vân
Hạc ngồi ở lều mình nói sang:
-
Phải rồi! Tôi cũng nhận thấy như thế. Ừ thì đình nào đám ấy, có thế mới hợp với
cảnh thi cử.
-
Trong hai bài truyện, anh làm bài nào?
-
Tôi vẫn chưa định.
-
Có tài như anh thì nên làm bài Luận ngữ cho tỏ ra văn đàn anh, chứ tôi thì tôi
xin lạy cả nón. Với tôi, bốn chữ “Tắc hà dĩ tai” khó quá đi mất? Viết
sao cho được rõ nghĩa chữ “Tắc” chữ “Tai”!
-
Nó cũng chưa khó bằng bài Kinh Thi. Tôi tính kinh nghĩa mà đến “Nam sơn hữu
đài” thì ác vô hạn.
-
Thế thì bài kinh anh làm kinh Thi hay kinh Dịch?
-
Có lẽ tôi sẽ làm cả.
Khắc
Mẫn ra vẻ ngạc nhiên:
-
Ái chà! Lại kiêm trị à? Anh định cướp lấy thủ khoa sao đây?
Vân
Hạc vừa cười vừa đáp:
-
Thủ khoa hay không chưa biết, nhưng kỳ này tôi quyết phải lấy bốn chữ “ưu”. Còn
anh, anh làm bài nào?
Khắc
Mẫn nói giọng chua chát:
-
Cố nhiên là bài “Tuyển hiền dữ năng”, chứ bài nào nữa. Xưa nay tôi vẫn
chịu nước văn đàn em, chỉ làm kinh Lễ mà thôi, không dám đụng đến kinh Thi,
kinh Dịch như anh. Nhưng theo ý tôi, xấu đều hơn tốt lỏi. Anh quyết phải lấy bốn
“ưu”, tôi chỉ cần bốn cái “thứ muỗi” là được. Vậy mà chưa chắc... chưa chắc thằng
bốn “ưu” đỗ hay là thằng bốn “thứ muỗi” sẽ đỗ.
Vân
Hạc vội vàng nói lảng đằng khác:
-
Thôi đừng nói lắm, viết đi. Kẻo mà đến chiều không xong, trống cái nó thúc vào
đít, lại sắp viết liều viết lĩnh.
Ngoài
trường, tiếng trống cà rùng mỗi lúc mỗi mau, nhạc ngựa rộn rịp đưa lại. Trên
chòi canh cửa vi tả bỗng có tiếng ấm óe làm cho hai người đều im câu chuyện để
lắng tai nghe. Thì ra bên ấy có người học trò vơ vẩn đứng ngoài lều, bị quan ngự
sử trông thấy, ngài truyền cho lính ra lệnh dọa nạt.
Tan
cuộc ồn ào, Vân Hạc bắt đầu làm bài. Cũng như lúc tập văn ở nhà, chàng không phải
giáp, nghĩ đến đâu viết luôn vào quyển đến đấy.
Mặt
trời lên khỏi đầu bức phên nứa ở phía đông trường, chàng vừa viết xong hai câu
phá thừa của bài truyện, trên chiếc chòi canh của vi giáp, vừa có trống báo hiệu
“nhật trung”. Chờ cho mực ráo, chàng sẽ cuộn quyển văn lại, bỏ vào ống quyển, rồi
bảo Khắc Mẫn:
-
Đi ra lấy dấu nhật trung chứ anh.
Khắc
Mẫn trả lời bằng giọng luống cuống:
-
Anh đi trước! Tôi chưa viết được chữ nào cả.
Chàng
nói an ủi:
-
Được! Còn sớm chán! Anh cứ thong thả. Đừng vội. Hễ vội thì viết hay lầm.
Rồi
chàng thu xếp bút mực vào yên và đeo ống quyển đến nhà Thập Đạo.
Cạnh
bức rào nứa cao đến khỏi rốn, bọn lính phục dịch tấp nập đi lại. Trên chiếc chiếu
đàn cạp xanh, mấy người lại phòng to vo ngồi cạnh hòm ấn và cái hộp son.
Học
trò chưa có ai tới, chàng là người thứ nhất trong cuộc “lấy dấu nhật trung”. Nhờ
vậy, chàng không phải mất công chờ đợi. Sau khi quyển văn đã đưa qua bức rào nứa,
trao tay cho một người lính để hắn đem vào cho người lại phòng giữ ấn, tức thì
người lại phòng ấy đóng cái dấu đỏ vào cuối dòng chữ viết dở ở giữa trang đầu
và lại đưa luôn trả chàng.
Với
chiếc ống quyển lủng lẳng dưới cổ, chàng về gần đến lều mình, mới gặp một vài
người trở ra. Vào lều chàng lại bình tĩnh viết tiếp từ đoạn khai giảng trở xuống.
Gần
trưa, chàng đã viết xong một bài Luận ngữ, một bài kinh Thi và gần hết bài kinh
Dịch, Khắc Mẫn vẫn còn lúng túng trong lều, không thấy nói năng gì cả.
Chàng
giục:
-
Trưa rồi, anh không ra lấy dấu “nhật trung”, chốc nữa đông người lại phải chầu
chực mất thì giờ.
-
Tôi mới viết được hơn một dòng, cứ đem lấy dấu có được không?
-
Không được. Phải viết đủ hai dòng rưỡi, hay kém vài chữ. Chứ viết ít quá lại
phòng họ không đóng dấu.
Khắc
Mẫn lại hỏi:
-
Trong quyển đã có dấu “giáp phùng” đóng ở giữa khe trang trên trang dưới, còn
dùng gì đến dấu “nhật trung” mà người ta bắt chúng mình mất công mất việc về
nó?
Chàng
cười và đáp:
-
Anh không hiểu à? Cái dấu “giáp phùng” cốt để giữ cho kẻ gian khỏi tháo những tờ
từ trang thứ hai trở xuống, mà thay các tờ khác vào. Còn dấu “nhật trung” là để
chứng rằng quyển đó viết ở trong trường, không phải là viết sẵn ở ngoài đưa
vào. Bởi thế người ta mới bắt chúng mình viết dở thì đem quyển đi để lấy dấu ấy?
Nhưng thôi, anh viết đi, đừng nói chuyện nữa...
Khắc
Mẫn lại gục xuống tráp, cẩn thận đếm từng nét và nắn từng chữ. Chừng nửa giờ
sau, viết được nốt một dòng nữa, chàng mới cuống quít bỏ quyển vào ống rồi đi.
Vân
Hạc viết xong bài kinh Dịch và hai vế trung cổ của bài Mạnh Tử, mới thấy Khắc Mẫn
tất tả chạy về với bộ mặt đỏ gay. Thày thở và nói vào lều Vân Hạc:
-
Khổ quá? Chờ đợi từ bấy đến giờ, mới xin được một tí son. Anh viết đến bài nào
rồi?
Vân
Hạc đáp:
-
Tôi đã viết đến bài thứ ba.
Khắc
Mẫn luống cuống:
-
Chết chửa! Anh viết được ba bài rồi! Tôi mới viết được có vài dòng.
Vân
Hạc ngửa nhìn lên trời và an ủi:
-
Bây giờ mới gần trưa thôi! Anh cứ vững dạ, không nên bối rối.
Hai
người cùng im. Lâu lâu một lúc, Khắc Mẫn lại gọi Vân Hạc và hỏi:
-
Này anh Hạc? Chỗ dấu giáp phùng cũng phải bỏ trống đấy nhỉ?
Vân
Hạc vừa viết vừa trả lời:
-
Dấu nhật trung mới phải bỏ trống, dấu giáp phùng thì viết đè lên.
Khắc
Mẫn vỗ tay xuống chõng một cái đánh đốp:
-
Thôi chết. Thế thì bỏ mẹ tôi rồi?
Vân
Hạc ngạc nhiên hỏi:
-
Làm sao?
-
Tôi bỏ trống chỗ dấu giáp phùng không viết. Bấy giờ viết đè lên cái dấu ấy rồi
xóa những chữ dưới đi, có được không?
-
Ồ? Thế ra anh không thuộc trường qui à! Chung quanh dấu giáp phùng cũng như
chung quanh dấu nhật trung và các hàng đầu hàng vĩ, không được đồ (xóa) di
(sót) câu (móc), cải (chữa), một chữ nào. Nếu ai đồ, di, câu, cải vào những chỗ
đó, tức là thiệp tích.
Khắc
Mẫn vò đầu vò tai:
-
Vậy thì bây giờ tôi làm thế nào? Trời ơi?
Rồi
thày lại hỏi:
-
Họ cấm đồ di câu cải vào những chỗ đó làm gì cho khổ người ta thế này!
Vân
Hạc cắt nghĩa:
-
Ấy, là người ta giữ gian. Vì sợ có kẻ thông với quan trường, có ý đồ di câu cải
vào những chỗ đó để đánh dấu cho quan trường biết quyển của mình. Nhưng cái đó
cũng là nghĩ quẩn. Thực ra, nếu có người nào thông với quan trường, thì họ đánh
dấu vào đâu chẳng được, cứ gì phải mấy chỗ đó. Thôi anh mau mau đề một quyển
khác rồi đi cánh quyển đi vậy!
Khắc
Mẫn bấy giờ ruột gan rối như canh hẹ. Thày mở tráp lấy tập giấy lệnh, gấp vội
vàng độ hơn mười tờ và dọc giấy xe hai sợi lề thật chắc. Sau khi đã cầm nghiêng
dỗ xuống mặt tráp cho tập giấy ấy khỏi so le, thày đem tờ phóng đặt lên mặt nó
để làm mẫu dùi bốn lỗ lề. Vân Hạc lại nhắc:
-
Anh nhớ đóng quyển cho đúng phép nhé? Bề ngang chia làm sáu dòng, chừa một dòng
làm gáy. Bề dọc chia làm năm quãng, ba quãng đầu, cuối và giữa cũng phải dài bằng
hai quãng xâu lề.
Khắc
Mẫn hốt hoảng:
-
Chút nữa anh không nói thì tôi chia bề ngang ra làm bảy dòng.
-
Không được, phải gập sáu, chừa một dòng làm gáy còn năm dòng, khi viết lại chia
làm sáu. Thế mới đúng phép.
Khắc
Mẫn đóng xong, tháo lấy tờ mặt quyển cũ, niên canh, quán chỉ và dòng “cung khai
tam đại” cho khỏi lầm. Rồi chàng bỏ vào ống quyển lại đến nhà Thập đạo xin dấu
giáp phùng. Bấy giờ, chung quanh bức rào của nhà Thập đạo, học trò kéo đến đã
đông, phần nhiều xin dấu nhật trung, nhưng cũng có năm bảy người đem quyển xin “cánh”.
Khắc Mẫn phải đợi độ hơn nửa giờ, cái quyển của thày đưa vào mới được đưa ra. Lật
đật, thày đem về lều, viết cái đầu đề bài truyện và đoạn phá thừa của bài ấy, rồi
lại đem quyển đến nhà Thập đạo lần nữa để lấy dấu nhật trung.
Vân
Hạc đã viết đến đoạn kết tỵ của bài kinh Lễ.
Theo
thứ tự trong quyển của chàng, thì nó là bài thứ năm. Vì sợ Khắc Mẫn rối ruột,
chàng phải nói là mới viết đến bài thứ tư.
Mặt
trời tà tà, Khắc Mẫn viết gần xong bài Mạnh Tử, vừa hết trang dưới của tờ thứ
hai trong quyển. Thế là hai tờ dính đến dấu son, thày viết qua rồi. Từ đấy trở
xuống, nếu có lầm lỡ, xóa bỏ, cứ việc xé tờ này đi, thêm tờ khác vào không phải
đi cánh quyển nữa. Kiểm điểm một lượt, thấy trong những trang đã viết, không có
chỗ nào phạm trường qui thày mừng rỡ bảo với Vân Hạc:
-
Thoát nạn rồi? Tao đã viết qua hai tờ thứ nhất và thứ nhì rồi, mày ạ?
Vân
Hạc vui vẻ:
-
Khá lắm. Tôi cũng đỡ lo cho anh. Nhưng anh cũng phải nhanh lên. Sắp tối rồi đấy.
Khắc
Mẫn viết nốt câu đóng của bài truyện, rồi vớ lấy chiếc điếu cày đặt mồi thuốc
lào vào đó, thày vừa giở hộp đá lửa, đánh lửa hút thuốc, vừa nghĩ bài kinh.
Bấy
giờ trong bụng đã thấy đói như cào, thày hỏi Vân Hạc:
-
Anh đã ăn uống gì chưa?
Vân
Hạc trả lời:
-
Đã! Từ nãy đến giờ, tôi vẫn vừa viết vừa ăn. Nhịn ăn mà viết thì chịu sao được.
Khắc Mẫn nói thêm:
-
Tôi vội quá, chưa kịp ăn uống gì cả.
Rồi
thày mở tráp lấy những cơm nắm bánh giò, thịt rang, chả trâu, phùng mồm, trợn mắt
vừa nhai vừa nuốt chập chuội. Sau khi đã ngửa cổ dốc quả bầu be vào miệng, và
súc òng ọc mấy cái, thày lại cắm đầu giáp mấy câu mở của bài thứ hai.
Mặt
trời lui xuống đầu bức phên nứa phía tây.
Khắc
Mẫn mới giáp đến đoạn trung cổ của bài kinh.
Trên
chòi canh thình lình điểm một tiếng trống.
Trong
trường loáng thoáng có người dỡ lều.
Vân
Hạc đương đếm những chỗ xóa, sót, móc, chữa, để viết vào dưới chữ “cộng quyển nội”,
chợt thấy Khắc Mẫn gọi hỏi:
-
Đã trống thu quyển rồi đấy phải không?
-
Phải trống thu quyển đấy.
-
Sao họ thu quyển sớm thế?
-
Còn sớm gì nữa, mặt trời sắp sửa lặn rồi.
-
Anh xong chưa?
-
Tôi xong rồi. Anh cũng đã xong rồi chứ?
-
Nào đã xong. Hãy còn nguyên một bài kinh chưa viết được dòng nào hết, tôi mới
nghĩ được hai vế trung cổ, còn giáp ra đó. Anh phải nghĩ nốt cho tôi hai vế hậu
cổ và mấy câu kết tỵ. Nếu không thì tôi tự tử.
-
Nhưng tôi không quen viết kinh nghĩa kinh Lễ, sợ viết không hay lỡ hỏng, rồi
anh lại đổ cho tôi.
Khắc
Mẫn càng bối rối:
-
Không hay cũng được! Túc quyển thì thôi.
Vân
Hạc ra bộ ái ngại:
-
Thế thì được! Anh đưa bản giáp những đoạn của anh đã nghĩ cho tôi coi qua. Để
tôi nghĩ tiếp, kẻo nó không liền với nhau.
Khắc
Mẫn ngửa mặt trông lên chòi canh, thấy tên lính canh đương ngoảnh mặt sang phía
bên kia, thày liền vo tròn bản giáp của mình rồi liệng sang lều Vân Hạc. Nhặt nắm
giấy ấy, Vân Hạc giở ra nhìn qua mấy dòng ở dưới, rồi lại vo lại và liệng sang
trả Khắc Mẫn.
Trống
cái trên chòi mỗi lúc mỗi mau. Nhạc ngựa ở ngoài bờ rào mỗi lúc môi thêm rộn rịp,
dãy lều phía nhà Thập đạo mỗi lúc mỗi thưa dần. Bấy nhiêu cảnh tượng đều như lửa
đốt vào lưng Khắc Mẫn. Thày cắm đầu nhìn tờ giấy giáp, viết lia viết lịa không
kịp chớp mắt.
Hồi
trống thứ nhất đã sắp hết. Học trò trong trường lũ lượt đeo lều đeo chõng đi
ra. Vân Hạc nhân lúc nhốn nháo chạy thọt sang lều Khắc Mẫn để đưa cho thày tờ
giấy giáp đoạn hậu cổ của bài kinh Lễ mà chàng nghĩ hộ. Khắc Mẫn không ngó đến
tờ giấy ấy và cũng không hỏi bạn đã cho mình xong chưa.
Trống
cái trên chòi lại càng rộn rã. Trong trường, trời đã nhá nhem, mắt nhằm không
thấy nét mực trên giấy, bấy giờ thày mới ngẩng lên, lấy bộ đá lửa trao cho Vân
Hạc và nói:
-
Anh đánh hộ tôi cái lửa!
Rồi
cúi xuống chỗ thang chõng, cởi lấy một chiếc ống tre đẽo nhọn mà người ta vẫn gọi
là cọc cắm nền, thày đóng xuống chỗ đầu chõng và cắm cây nến vào đó.
Vân
Hạc vừa đánh lửa, chàng tiếp than lửa vào cái mồi giấy rồi thổi cho bùng và
châm vào ngọn nến ấy.
Khắc
Mẫn viết hết hai vế khai giảng thì vừa hết một hồi trống thứ nhất. Dịp trống lại
khoan thai điểm từng tiếng một. Thì giờ khi ấy mới chóng làm sao!
Trước
mắt Khắc Mẫn hình như nó đã đi như tên bắn, thày vừa viết xong hai vế trung cổ,
tiếng trống đã lại dồn mau. Luồng gió thình lình thổi vào trong lều, làm cho ngọn
nến tắt phụt. Cuống quýt thày sờ bộ đồ đánh lửa. Vừa đánh vừa hỏi Vân Hạc:
-
Hồi trống này ngắn hơn hồi trống trước, có phải không anh?
Vân
Hạc đáp:
-
Tại anh bối rối trong bụng, cho nên tưởng là nó ngắn, thực ra hồi nào cũng như
hồi nào.
-
Anh bảo lấy gì làm ngữ mà họ đánh được đều thế?
-
Có ngữ chứ. Anh không biết đó thôi. Cái ngữ của các hồi trống chỉ có mười bảy đồng
tiền Gia Long. Khi bắt đầu đánh một tiếng thứ nhất, người lính cầm canh cầm mười
bảy đồng tiền Gia Long bày từng đồng một cho thành một hàng. Bày xong hắn lại lần
lượt nhắc từng đồng một lên tay, khi nào nhắc hết cả mười bảy đồng, mới đánh đến
tiếng thứ hai. Rồi hắn bỏ lại một đồng, còn mười sáu đồng, lại đem bày, xóa như
trước. Bày xong xóa xong mười sáu đồng ấy mới đánh đến tiếng thứ ba. Cứ mỗi tiếng
trống hắn lại rút đi một đồng như thế. Rút cho đến khi hết cả mười bảy đồng tiền,
thế là hết một hồi trống.
Lửa
cháy, Khắc Mẫn châm vào ngọn nến. Bấy giờ chàng viết đến đoạn của Vân Hạc làm hộ.
Trời lại tối đen như mực. Mấy cây đình liệu lại bị đốt cháy đùng đùng. Cảnh tượng
đêm qua lại diễn lại một lần nữa.
Chờ
cho Khắc Mẫn viết đến dòng “cộng quyển nội”, Vân Hạc mới ra dỡ lều, bó buộc các
thứ đồ đạc.
Hồi
trống thứ ba giục mau, Khắc Mẫn cộng xong những chữ xóa, sót, móc, chữa và viết
ra chỗ cuối quyển. Vân Hạc lại sang dỡ lều thu xếp đồ đạc hộ bạn.
Hai
người vừa tới nhà Thập đạo, người lại phòng thu quyển đã đương nâng nắp hòm quyển
và sắp đậy lại. Tất tả, Vân Hạc, Khắc Mẫn cùng rút quyển văn trong ống và trao
cho hắn. Tiếng trống cuối cùng vừa dứt, người lại phòng liền khóa hòm lại. Một
ông cụ già lật đật đem quyển đến nơi, thì chỗ ổ khóa vừa bị gián giấy niêm
phong. Ông ấy năn nỉ kêu van người lại phòng hãy mở hòm ra để cho quyển văn của
mình vào trong. Hắn cũng ra vẻ thương hại ông cụ. Nhưng hắn không giám bóc tờ
niêm phong, và nói:
-
Thế là số cụ không đỗ, cụ đành lòng vậy. Bây giờ nếu tối mở hòm mà bỏ quyển của
cụ vào, thì tôi sẽ phải tù mọt gông.
Cái
hòm liền bị bọn lính mật sát khiêng vào trong nhà Thập đạo.
Ông
cụ kêu khóc nức nở, cố xông lên nhà Thập đạo để lấy cái cớ tuổi già mà xin quan
trường gia ân cho mình. Nhưng cũng không được. Quan trường chỉ úy lạo ông cụ mấy
câu, rồi sai lính dẫn ra.
Vừa
đi ông cụ vừa kêu:
-
Khốn nạn! Tôi thi đã vừa mười khoa, bán hết cửa nhà ruộng đất về việc khoa cử.
Định đi một khoa này nữa thì thôi. Bây giờ lại bị ngoại hàm, có khổ hay không?
Vân
Hạc chỉ mặt Khắc Mẫn và nói:
-
Hú vía! Chỉ chậm một bước, thì tao ngoại hàm vì mày!
Khắc
Mẫn nhăn răng cười xòa. Rồi theo ánh lửa của cây đình liệu, hai người cùng về
nhà trọ.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét