2022-12-17
Lều
Chõng (19, 20)
Ngô
Tất Tố
Nhân
hôm này là ngày sinh nhật lần thứ 80 của anh Đỗ Tấn Sĩ, “Tiểu thuyết chiều
thứ Bảy” xin trân trọng gửi đến anh Bảy, chị Bảy và đại gia đình của anh lời
chúc tốt đẹp nhất, chúc anh có ngày, tuần, tháng và mùa sinh nhật hạnh phúc bên
cạnh chị Bảy, các con, các cháu, người thân, bạn hữu xa gần: 🌹 🎂 🍷 🎉!
-
Vì
có nhiều độc giả của “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” không có liên kết với
anh trên Facebook nên em xin phép đăng lại một số ảnh trong dịp lễ sinh nhật của
anh do nhiếp ảnh gia là Chương Đài (con gái rượu của anh) đã chụp và post lên
Facebook vào ngày 30/11/2022.
Chị
Bảy, anh Bảy trong dịp sinh nhật lần thứ 80 của anh Bảy.
Chị
Bảy, anh Bảy cùng 3 công chúa trong ngày sinh nhật của anh Bảy. Từ trái qua:
· Madame Đỗ Thị Minh Giang
· Chị Bảy (Madame Trương Kim Quới)
· Anh Bảy (Dr. Đỗ Tấn Sĩ)
· Madame Đỗ Thị Kỉnh Trang
· Madame Đỗ Thị Chương Đài
Anh
Bảy, chị Bảy cùng 3 cô con gái và các chàng rể trong ngày sinh nhật. Từ trái
qua:
· Phu quân và Madame Đỗ Thị Minh Giang
· Chị Bảy và anh Bảy
· Phu quân và Madame Đỗ Thị Kỉnh Trang
· Phu quân và Madame Đỗ Thị Chương Đài
Đại
gia đình của chị Bảy, anh Bảy (cùng các con, các chàng rể, các cháu).
-:-
Chương
19
Lần
này cái việc đi thi đối với Vân Hạc đã thành một việc rất thường, không hơn gì
việc vợ chàng đi chợ. Vì đã hỏng đến ba khoa liền, chàng không dám coi là việc long
trọng. Tuy rằng trước ngày khởi hành, họ nội họ ngoại cũng vẫn tiễn tặng cầu
chúc như xưa, nhưng mà người ta ân cần với chàng bao nhiêu, chàng càng tự thẹn
bấy nhiêu.
Cái
đáng cho chàng áy náy hơn hết là sự săn sóc chu đáo của cô Ngọc. Trong bộ hành
trang của chàng, nào tiền bạc, nào áo quần, nào đồ dùng lặt vặt, nào lọ thuốc
gió để phòng giữ mình trong khi trái tiết trở trời, cái hôm chàng sắp trẩy trường,
cô đã sắp sửa cho nữa. Chính tự tay cô bó buộc lều chõng, kiểm soát bút mực giấy
má của chàng khi chàng bước chân ra đi. Sự chu trí ấy nó đã khiến chàng cảm động
bồi hồi, và tự nghĩ thầm: “Tội nghiệp, đàn bà cũng thích công danh đến vậy?
Khoa này nếu mình hỏng nữa, thì phụ lòng vợ biết chừng nào?”
Nghĩ
vậy, chàng phải từ chối tất cả những món tiền tặng của họ xa họ gần. Với các thức
của vợ dự bị, chàng đã lủi thủi lên đường một cách không trống không kèn. Bấy
giờ Đoàn Bằng đã chán trường ốc, Tiêm Hồng thì đương bị bệnh, cả hai đều cáo
không thi. Trong nhà trọ chỉ có chàng và Đốc Cung, Khắc Mẫn, ông chủ nhà trọ
tuy vẫn hết sức quý trọng, nhưng quang cảnh vẫn không vui bằng năm xưa.
Ở
trọ thấm thoắt đã gần hai tháng, chàng không về quê lần nào.
Mọi
khoa, mỗi kỳ thi xong, chàng đều vững chắc trong lòng, khoa này mỗi lần ở trong
trường ra, chàng lại băn khoăn lo ngại, không biết kỳ sau có được vào không?
May
sao trong ba kỳ trước ba người đều được vào cả. Đến kỳ thứ tư, Khắc Mẫn bị hỏng,
chàng và Đốc Cung hết sức ngậm ngùi. Vì có Đốc Cung với chàng cố tình chèo kéo,
khuyên bày ở lại xem bảng tú tài, cho nên Khắc Mẫn cũng không về vội.
Nhiều
lần Đốc Cung, Khắc Mẫn dắt nhau đi chơi bê tha họ cũng rủ chàng, nhưng chàng nhất
định không đi. Những lúc đó một mình nằm buồn, nhẩm lại văn bài các kỳ, và thấy
kỳ nào của mình cũng rất xuất sắc chàng cũng tự phụ: “Không lẽ văn chương thế
này mà còn hỏng nữa”. Nhưng cái tự phụ chỉ là chuyện trong chốc lát, còn sự lo
hỏng thì vẫn quanh quẩn đeo chàng suốt ngày suốt đêm. Không phải chàng quá mê
man về đường công danh. Nhiều khi chàng đã tự hỏi. “Đỗ để làm gì?”. Ngoài cái ý
định làm sướng lòng người vợ thân yêu, chàng không nhận thấy sự thi đỗ đối với
đời ấy còn có ý nghĩa gì khác. Thế mà không hiểu vì sao chàng chỉ nơm nớp sợ rằng
không đỗ. Tuy chàng luôn luôn lo ngại, nhưng ở quanh chàng anh em họ mạc đều rất
vui mừng. Từ khi được tin chàng vào phúc hạch, Hải Âu, Đoàn Bằng, Tường Loan,
Cương Phượng tức thì rủ nhau ra chơi. Rồi thì bà con của Đốc Cung, Vân Hạc cũng
đều lục tục kéo đến để mừng người nhà của họ. Nhà trọ lúc nào cũng đầy những
người.
Sau
khi coi những bản giáp các kỳ của chàng, mọi người đều phải tấm tắc khen ngợi.
Hải Âu, Đoàn Bằng cho là hai kỳ thơ phú, văn sách phê ưu được cả. Rồi cả nhà đều
nhắc đến đạo chỉ dụ khoa trước, ai cũng quyết là chàng đỗ thủ khoa.
Nhưng,
sự dự đoán ấy vẫn không thể làm cho chàng vui lòng tuy là nó rất có lý.
Vì
chàng tự biết chàng hơn ai hết. Trước kia chàng vẫn tin ở tài học. Có học, có
tài, tự nhiên phải đỗ, mọi năm chàng vẫn nghĩ thế. Song từ trận hỏng khoa trước,
chàng thấy cái học cái tài không đủ bảo đảm cho việc khoa trường, thì chàng lại
tin ở số mệnh. Và chàng cho rằng hỏng hay đỗ chẳng qua là sự may rủi. Nếu như học
giỏi văn hay mà đỗ thì năm ngoái mình đã đỗ rồi. Chỉ của triều đình năm ngoái
tuy có hứa cho mình đỗ thủ khoa thật đấy, nhưng năm ngoái một ông chủ khảo, năm
nay một ông chủ khảo, biết rằng người ta có nhớ nhời cũ mà nhắc lại cho không?
Ấy
cũng vì thế mà ai rằng đỗ mặc ai, chàng vẫn gờm gờm trong bụng.
Tóm
lại, lúc ấy chàng cũng giống như con chim đã hai ba lần phải cung, bây giờ lại
thấy cây cong, tự nhiên là phải chột dạ, cho nên những khi cả nhà chè chén cười
đùa, chàng cũng cố làm ra bộ vui vẻ, nhưng hễ chợt nghĩ đến nạn khoa cử, nét mặt
lại hiện ra vẻ bần thần.
Nhất
là từ đêm đến giờ, tim chàng thấy hồi hộp hơn nữa.
Vì
ngày nay là ngày xướng danh, cái ngày quyết định sự thắng bại của chàng.
Từ
lúc trống canh mới điểm bốn tiếng, chàng đã trằn trọc không thể nằm yên, hình
như Đốc Cung cùng một tâm trạng như chàng cho nên cũng thấy luôn luôn cựa cậy.
Con
gà hàng xóm mới cất tiếng gáy, ông chủ nhà trọ đã khua thằng nhỏ dậy đốt đèn
đun nước. Ánh sáng chói vàng của ngọn lửa đóm lùa vào trong nhà làm cho cả nhà
đều phải thức giấc và đều ngồi dậy.
Ngoài
sân còn tối như bưng. Gió bấc vật các tầu cau phành phạch. Hơi lạnh của những
giọt sương mới dong theo các khe cửa thun thút lùa vào trong nhà. Mọi người đều
thít tha kêu rét. Vân Hạc, Đốc Cung dường như cảm thấy sự rét nhiều hơn. Cả hai
đều run cầm cập, tuy ở sau lưng vẫn quàng bức chăn sù sù.
Với
bộ mặt tươi như con rói, ông chủ nhà trọ tay xách siêu nước, tay bưng khay
chén, đặt vào giữa phản và bảo người em Đốc Cung:
-
Cậu pha nước giùm, để tôi chạy lên cửa trường xem sao.
Và
không đợi ai trả lời, ông ấy nhanh nhảu quay ra, và nhanh nhảu xuống thềm đi thẳng.
Trời
rạng đông. Hồi trống tan canh lần lượt dồn nhau ở các đầu phố. Mấy chị hàng quà
õng ẹo rao bằng những tiếng chua lòm. Bấy giờ Vân Hạc, Đốc Cung ruột gan càng
nóng hôi hổi, thì giờ của hai chàng lúc ấy mỗi phút mỗi thấy quan hệ.
Dưới
ánh đèn le lói, trong nhà như vẽ ra một cảnh tượng hỗn tạp. Hải Âu, Đoàn Bằng
thản nhiên như thường, Khắc Mẫn buồn như chấu cắn, Vân Hạc, Đốc Cung luôn luôn
có vẻ băn khoăn. Các ông họ Nguyễn, các ông họ Bùi cũng như Cương Phượng, Tường
Loan ai nấy cười cười nói nói vui như tết.
Tuần
chè thứ nhất đã cạn khắp lượt. Hải Âu rẽ ràng bảo Vân Hạc, Đốc Cung:
-
Bác và chú đừng lo, tôi chắc thế nào cũng đỗ.
Rồi
thày tiếp:
-
Tôi tính trên đời không gì sướng bằng lúc bắt đầu biết mình thi đỗ. Vì sự thi đỗ
đối với học trò giống như một cuộc đổi lốt, nó đã làm cho người ta trút hết những
hoàn cảnh cũ, đi đến hoàn cảnh mới.
Đốc
Cung cười:
-
Thế sao bác không đi thi?
Hải
Âu cũng khôi hài:
-
Tôi phải nhường cho bác chứ sao!
Trời
mờ sáng, ngoài phố xôn xao tiếng người. Ông chủ nhà trọ tất tả chạy về.
-
Thưa các quan, cửa trường đã mở rồi ạ! Lính tráng đã khiêng hai chiếc ghế tréo
ra đấy rồi ạ. Hai ông quản tượng đã dắt hai ông voi già đợi ở ngoài trường rồi.
Rồi
quay thẳng xuống phía nhà dưới, ông ấy quát tháo người nhà:
-
Chúng bay làm cơm mau lên, để hai quan tân khoa xơi rượu, rồi các ngài còn phải
đi lĩnh mũ áo.
Đốc
Cung phì cười:
-
Có lẽ ông này sẽ lấy hai thằng đỗ cả đây chắc? Sao mà quyết đoán như vậy?
Ông
chủ nhà trọ nghe thoảng vào tai, liền đáp:
-
Vâng cháu quyết lắm. Cháu quyết ba quan năm nay đỗ cả, hai quan cử nhân, một
quan tú tài. Bởi vì hồi đầu tháng mười, cháu đã ba lần mơ thấy nhà cháu bị
cháy, hai lần cháy to, lửa bốc rực trời, và một lần cháy nhỏ. Đấy là điểm hai
quan cử và một quan tú chứ gì.
Cố
nhiên Vân Hạc vẫn không tin gì cái mộng của ông chủ nhà. Nhưng giọng nói sôi nổi
của ông ấy cũng làm cho chàng cảm xúc rất mạnh, mất cả cơn lo. Và cũng không mừng.
Chính chàng cũng không thể tả được tâm trạng của chàng lúc ấy ra sao, chỉ thấy
trống ngực mỗi lúc một mạnh, tưởng như ngồi cạnh mấy thước cũng nghe rõ những
tiếng thình thịch.
Tường
Loan, Cương Phượng, người nhà Đốc Cung, người nhà Khắc Mẫn đều rối rít sắm sửa
quần áo để lên cửa trường.
Trời
sáng rõ, ngoài đường hàng xứ lũ lượt đi xem xướng danh. Vân Hạc, Đốc Cung đều
không dám lộ mặt ra khỏi cửa, tuy rằng trong lòng cực kỳ náo nức, chỉ muốn ra
xem ngoài ấy thế nào? Tiêm Hồng rẽ ràng hỏi Đốc Cung, Vân Hạc:
-
Bác và chú chắc đều chưa có áo tấc?
Đốc
Cung khiêm tốn:
-
Chắc gì chúng tôi đỗ được, mà bác hỏi đến cái đó?
Hải
Âu xen:
-
Kể ra cũng nên dự bị thì phải. Nếu không lúc cần đến thì tìm đâu ra?
Ông
chủ nhà trọ ở đâu chạy vào:
-
Thưa các quan, nhà cháu có chiếc áo tấc mới may tháng tám vừa rồi. Nếu các quan
dùng, cháu xin đưa ra và xin mượn thêm của cụ Bát bên kia chiếc nữa.
Khắc
Mẫn hỏi:
-
Tôi tưởng các anh ấy đỗ sẽ có mũ áo Vua ban?
Tiêm
Hồng đáp:
-
Nhưng trước khi lãnh của nhà vua, nghĩa là sau khi người lính xướng danh gọi đến
tên mình, mình đã phải mặc áo tấc kia mà! Vả lại, nhà vua ban mũ và áo cho các
cống sĩ, là để các ông ấy mặc trong khi thi đình, không phải để dùng trong lúc
xướng danh. Nếu mình không sẵn áo nhà thì làm thế nào?
Ông
chủ nhà trọ đã toan đi xuống, lại quay mặt lại:
-
Thưa các quan, cháu đã dự sẵn con lợn rồi ạ. Khoa này quyết là các quan phải
khao nhà trọ.
Rồi,
ông ấy cười giòn khanh khách.
Vân
Hạc vội ngăn:
-
Ấy chết. Chắc về cái gì mà ông mua non mua già như thế? Nếu mà tủi thân con lợn
là tại ông đấy.
Trời
loe nắng, mấy con chào mào trên ngọn cau thi nhau đưa những tiếng hót đắc ý,
như muốn chào ánh sáng tươi đẹp của trời mai.
Ngoài
cổng có tiếng người chạy huỳnh huỵch, Tường Loan nhảy chân sáo từ ngoài tiến
vào và thở hồng hộc:
-
Anh Hạc đỗ...! Anh Hạc đỗ thủ khoa!
Nói
hết một câu, Tường Loan như bị đứt hơi, anh ta ngồi phịch xuống phản để thở một
hồi dài nữa. Vân Hạc lúc ấy trong mình không thấy cảm tưởng gì khác, nhưng trống
ngực thì càng thúc già. Chàng muốn hỏi Tường Loan tại sao biết là mình đỗ mà vẫn
không hỏi được. Đốc Cung bấy giờ mới thấy nóng lòng nóng ruột.
Ngực
chàng như muốn thi với ngực Vân Hạc, nó phát những nhịp thình thịch dữ dội như
trống hộ thủy.
Ngoài
cửa lại có tiếng chân huỳnh huỵch chạy vào, Cương Phượng múa cả hai tay và nói
bằng giọng hổn hển:
-
Thủ khoa về anh Hạc rồi!
Tiêm
Hồng đầy nét vui vẻ trên mặt:
-
Ừ, có thế chứ? Khi nào triều định lại quên lời hứa.
Rồi
thày hỏi bọn Cương Phượng, Tường Loan:
-
Nhưng đích là tai các chú nghe tiếng, hay mới thấy người ta kháo nhau?
Tường
Loan đã bớt thở, liền thưa:
-
Đích là tai em nghe tiếng! Bấy giờ em lên đến nơi, cửa trường đã đông ngậm nghịt,
thiên hạ hàng xứ đứng chật vòng trong vòng ngoài. Thấy người ta reo quan chánh
chủ khảo và quan đề điệu đã ra, em cố len vào trong lớp trong cùng, quả nhiên
thấy có hai ông cầm hốt, đi hia, đội mũ cánh chuồn, mặc áo thủy ba, đương xúng
xính trèo lên hai chiếc ghế tréo. Đấy hẳn là quan đề điệu và quan chủ khảo. Em
đứng một lát, thì thấy một người ăn mặc giống như thầy thông.
Cương
Phượng xen:
-
Đấy là người lại phòng. Cái người cầm quyển sổ ấy chứ gì. Lúc ấy tôi cũng ở đấy.
Tường
Loan vội đón:
-
Phải. Cái người cầm quyển ấy. Ông ta nhìn vào quyển sổ, rồi nói nhỏ với người
lính mặc áo nẹp đỏ sau đó, người lính ấy liền trông ra ngoài và gân cổ xướng một
câu thật lớn như vầy:
"Cử
nhân đệ nhất danh, Đào Vân Hạc. Niên canh nhị thập tam tuế, quán tại Sơn Tây,
Đào Nguyên xã".
Em
nghe thấy tên anh Hạc, sướng quá đi mất, đương sắp lách ra, thì ở phía ngoài lại
có người lính cũng áo nẹp đỏ, cầm loa ngửa mặt lên trời và lại gọi thêm một lần
nữa. Lúc em ra được bên ngoài, thì thấy hai người quản tượng cưỡi hai con voi
đi ra hai ngả.
-
Người ta bảo họ đi tìm ông thủ khoa, không biết có phải hay không?
Ông
chủ nhà trọ lính quýnh chạy vào và góp một câu:
-
Bẩm phải đấy ạ! Các ông quản tượng đi xướng danh ở các phố đấy ạ! Bẩm các quan,
cháu nói có sai đâu. Các ngài đỗ cả ạ?
Rồi
ông ta lập tức chạy xuống nhà dưới, rối rít giục người nhà bưng mâm để quan thủ
khoa xơi rượu.
Vân
Hạc lúc ấy không khác một người trong mộng, ruột gan tưởng như trăm hoa đua nở,
đời chàng chưa có lúc nào thấy sự kích thích lạ lùng như lúc này.
Chàng
muốn cố giữ nét mặt bình tĩnh cho khỏi lộ vẻ mừng rỡ, nhưng mà không sao giữ được
những sự đắc ý như cứ thi nhau hiện trên đôi mắt đôi môi và nó bắt chàng đi đi
lại lại khắp mấy gian nhà mà không tự biết.
Thằng
nhỏ đã bưng mâm lên. Ông chủ nhà trọ cúi đầu chắp tay tỏ vẻ cung kính.
-
Bẩm xin rước quan thủ khoa và các quan xơi tạm chén rượu.
Khắc
Mẫn nhìn Hải Âu và nói:
-
Tôi tưởng hãy để anh Hạc đi lĩnh mũ rồi về uống rượu cũng vừa. Hôm nay anh ấy
phải tiếp chúng mình một bữa thật lâu, chứ nếu ăn chập, ăn chuội thì còn thú
gì?
Ông
chủ nhà trọ tỏ ra một người quen việc:
-
Bẩm cuộc xướng danh còn mãi đến chiều mới xong kia ạ! Nếu quan thủ khoa không
xơi cơm tạm, e rằng đói quá.
Hải
Âu nối lời:
-
Phải, ở trường thi cứ gọi được người này, mới lại xướng tên người khác. Thế mà
các quan tân khoa, nghe đến tên mình đã chịu ra ngay cho đâu? Các ngài còn
trùng trình chán. Gọi hết hai nhăm ông cử, có lẽ phải đến chiều thật.
Hải
Âu liền giục Vân Hạc, Đốc Cung và tất cả nhà cùng đi uống rượu, ai nấy vừa ngồi
yên chỗ, bỗng thấy có tiếng ầm ầm. Rồi đến tiếng trẻ con hò reo:
-
Ô kìa ông voi!
-
À voi đi gọi các ông cử nhân mới đỗ.
Tường
Loan, Cương Phượng và nhiều người khác vội bỏ mâm rượu đùng đùng chạy ra.
Một
con voi già lụ khụ như dáng bà cụ đương ở đầu phố khệnh khạng đi lại với người
quản tượng bệ vệ ngồi trên chiếc bành. Nghênh ngang giơ cái loa đồng lên trời,
người quản tượng lấy hết hơi sức và xướng:
“Cử
nhân đệ nhất danh Đào Vân Hạc! Niên canh nhị thập tam tuế, quán tại Sơn Tây tỉnh,
Đào Nguyên xã?” Nhờ con voi già lệch thếch kéo đi, hồi loa ấm óe chạy từ đầu phố
mãi đến cuối phố mới hết. Người quản tượng tạm nghỉ giây lát, rồi lại chiếu lại
một hồi loa khác.
Chờ
cho con vật theo lũ trẻ con hàng xứ rẽ sang phố khác Tường Loan, Cương Phượng
và các người kia mới cùng trở vào. Mâm cơm vẫn còn chờ đợi, Vân Hạc nhìn Đốc
Cung và nói một cách đắc ý:
-
Bây giờ tao quyết là không hỏng nữa.
Đốc
Cung ra bộ lo ngại:
-
Còn tao không biết thế nào.
Rồi
đó, ai ngồi vào chỗ của nấy, Vân Hạc cũng như Đốc Cung, chẳng thiết gì sự ăn uống.
Bữa cơm chỉ trong chốc lát thì xong.
Ông
chủ nhà trọ đệ lên hai chiếc áo tấc xếp trong khăn gói:
-
Thưa các quan, tôi đã sắp sẵn đôi áo, để quan thủ khoa và quan cử mới dùng tạm.
Đốc
Cung xua tay:
-
Cái nào của quan thủ khoa thì để lại đấy, còn cái nào ông mượn cho tôi thì xin
cất đi, chưa chắc tôi có dùng đến hay không.
Ông
chủ nhà trọ tươi cười:
-
Bẩm có ạ. Cháu chắc thế nào lát nữa ngài cũng phải dùng.
Hải
Âu pha trò:
-
Thôi thì cứ đem đi cả, hễ bác Cung không mặc thì tôi mặc?
Rồi
Hải Âu bảo ông chủ nhà trọ cho thằng nhỏ cắp chiếc khăn gói theo hầu. Mọi người
lũ lượt kéo đi, ở nhà chỉ còn Đốc Cung với bộ ruột gan nóng như lò lửa.
Trẻ
con hàng phố sao mà tinh quá? Vân Hạc vừa nhô ra cửa, chúng đã vỗ tay bảo nhau:
-
A, ông thủ khoa đây rồi?
-
Ồ ông thủ khoa trẻ nhỉ?
-
Không biết ông thủ khoa đã có vợ chưa?
Hàng
trăm con mắt chòng chọc trông vào, kẻ khen ông thủ khoa đẹp, người bảo ông thủ
khoa tươi.
Giữa
sự chỉ trỏ nhìn ngắm của hàng xứ, Vân Hạc theo bọn Hải Âu đủng đỉnh lên phố Trường
Thi. Khi sắp tới nơi, ở nẻo xa xa có tiếng thỏ thẻ đưa lại:
-
Ai muốn xem mặt ông thủ khoa mới thì ra, ông ấy đã đến kia kìa!
Theo
sau mấy tiếng õng ẹo, đào Phượng, đào Cúc thướt tha dẫn lại với một bộ điệu õng
ẹo.
Tới
gần Vân Hạc, hai ả chắp tay vái dài và cười bằng nụ cười của nhà nghề:
-
Bẩm quan thủ khoa đã lên ạ! Một năm trời nay mất quan thủ khoa, chúng em tưởng...
Vân
Hạc sẽ hỏi:
-
Tưởng chết mất rồi, phải không?
Hai
ả cùng đáp:
-
Đâu dám thế. Chúng em tưởng rằng ngài bán cái xới Hà Nội.
Vân
Hạc vội vàng lảng ra:
-
Thôi hãy hãm các chuyện lại, để dành đến hôm tôi khao nhà trọ. Bây giờ lỗ tai
người ta còn nghe xướng danh.
Và
chàng đưa mắt cho cả hai ả, như muốn tỏ rằng có các ông anh cùng đi, không tiện
nói chuyện.
Đào
Phượng cố ý hỏi thêm câu nữa:
-
Thế còn anh Cung đâu mất?
Vân
Hạc sẽ đáp:
-
Anh ấy sắp lên bây giờ.
Đào
Cúc vỗ tay:
-
Thế thì sung sướng quá nhỉ! Chúng tôi đi đón anh Cung.
Hai
ả tiến xuống nẻo dưới, Vân Hạc và bọn Hải Âu thì đi lại phía cửa trường.
Người
ở đâu đến mà nhiều như vậy? Trên một khu đất ở ngoài cửa tiền, đầu người lố nhố
như một đám nấm sau trận mưa xuân, kẻ lách ra, người cố chen vào, không biết họ
xem cái gì.
Vân
Hạc đứng chờ một hồi khá lâu, chàng đã bồn chồn nóng ruột, bỗng có tiếng loa ậm
ọe đưa ra cũng đúng như tiếng lúc nãy:
-Cử
nhân đệ nhất danh Đào Vân Hạc? Niên canh nhị thập tam tuế, quán tại Sơn Tây tỉnh,
Đào Nguyên Tiếng “xã” vừa dứt, Vân Hạc liền bảo thằng nhỏ nhà trọ:
-
Mày to tiếng, dạ đi hộ tao.
Thằng
nhỏ quay mặt trở vào, ưỡn ngực dạ một tiếng thật lớn.
Như
đoàn tên của toán lính cung nỏ chĩa vào quân địch, trong đám đông có bao nhiêu
mặt đều xô về phía Vân Hạc. Người ta ồn ào hỏi nhau:
-
Không biết ông nào là ông thủ khoa?
Thằng
nhỏ nhà trọ liền mở khăn gói lấy chiếc áo tấc cho Vân Hạc.
Với
một dáng bộ hùng dũng như ông mãnh tướng phá vòng vây, người lính áo nẹp theo
chỗ tiếng dạ múa roi dẹp đánh hàng xứ, để cho khu đất cửa trường có một lối đi.
Theo người lính ấy, Vân Hạc lính xính đi vào với Cương Phượng.
Trên
chiếc ghế tréo kê ở phía hữu, ông chánh chủ khảo với chiếc mũ cánh chuồn đương
ôm cây hốt ở ngực, đối nhau với ông chánh đề điệu và chiếc mũ võ ngồi ở mặt ghế
phía tả.
Sau
khi vái chào quan chánh chủ khảo, Vân Hạc quay sang vái chào quan chánh đề điệu.
Bằng
một giọng trọ trẹ khó nghe, ông chánh chủ khảo nói những câu gì không rõ, rồi
ông chánh đề điệu chỉ đám mũ áo để trên một chiếc án thư cạnh đó, bảo người
lính hầu chọn cho Vân Hạc mỗi thứ một chiếc.
Vân
Hạc đón áo và mũ đưa cho Cương Phượng, một lần nữa chàng cúi chào hai vị quan
trường tỏ ý cảm ơn. Hai tên lính đưa chàng đi thẳng vào nhà Thập đạo.
Bấy
giờ trong nhà Thập đạo, các ông sơ khảo, phúc khảo, các ông đề điệu đã họp đông
đủ.
Hôm
nay quang cảnh khác hẳn mọi ngày. Trước nhà Thập đạo, một tòa rạp cót chạy dọc,
tênh hênh dựng ở giữa trời. Hai bên cạnh rạp, hai bức chấn song tre tươi hững hờ
ngăn khu lòng rạp với phía ngoài rạp.
Dưới
rạp hai dãy chiếu hoa cạp đỏ sàm sạp trải trên mặt đất.
Theo
lời chỉ dẫn của người lính đưa đường, Vân Hạc ngồi vào chiếc chiếu đầu hàng bên
lẻ, Cương Phượng cắp gói mũ áo trang nghiêm đứng ở đằng sau.
Vân
Hạc còn đương phân vân không biết đã nên đội mũ và mặc áo mới hay chưa, một ông
sơ khảo vừa xuống bảo cho chàng biết những mũ áo đó ngày mai làm lễ tạ ân mới
phải dùng đến.
Rồi
các khảo quan lần tới đó hỏi chuyện. Các ngài nhắc lại văn bài các kỳ và khen
Vân Hạc là bậc tài hoa.
Ngoài
trường lúc ấy đã xướng đến tên ông cử thứ hai.
Chừng
một giờ sau, thì ông á nguyên đi với người lính áo nẹp vào rạp và ngồi góc chiếu
ở đầu hàng chẵn.
Với
ông đó, Vân Hạc tuy chưa quen thuộc bao giờ, nhưng ngay lúc đó, cái nghĩa đồng
khoa, đã làm cho hai người coi nhau rất thân và rất tương đắc.
Từ
đó trở đi, cứ chừng mỗi giờ, trong rạp lại thêm một ông cử nữa.
Mặt
trời ở mái Thập đạo nhòm xuống, ánh nắng xuyên qua lỗ cót, khoang khua in vào mặt
chiếu, ngoài cứa văng vẳng có tiếng “Đốc Cung”, Vân Hạc vội để ý nghe, tiếng
loa vừa ậm ọe gọi:
“Cử
nhân đệ bát danh Bùi Đốc Cung. Niên canh nhị thập nhị tuế, quán tại Hà Nội tỉnh
Trúc Lâm xã”.
Văn
Hạc mừng quá, chàng liền đem hết gia thế, tính tình, tài học của Đốc Cung kể với
các bạn đồng niên.
Một
hồi khá lâu mới thấy Đốc Cung ve vẩy đôi tay khấu của chiếc áo tấc lụng thụng
đi vào với người cháu họ cắp bộ mũ áo của chàng vừa lĩnh. Người chàng khi ấy đã
thành một thiên trào phúng rất có ý vị, khiến cho Vân Hạc không thể nín cười.
Các
ông vào trước lần lượt khai tên họ với ông vào sau. Giữa cuộc gặp gỡ của cửa
Không sân Trình, câu chuyện thanh khí mỗi lúc mỗi nồng nàn đằm thắm.
Mặt
trời tà tà, hai nhăm ông cử đến đã đủ mặt.
Trong
đó có đến bảy ông đều là học trò cụ bảng Tiên Kiều.
Sau
khi bảng cử nhân và bảng tú tài đã yết ở ngoài cửa trường, hai ông chủ khảo đề
điệu lại về trong nhà Thập đạo. Lúc ấy quan tổng đốc Hà Nội mới vào trong trường
chúc mừng các ông tân khoa và hẹn giờ mão ngày mai đến đây ăn yến.
Rồi
đó các ông tân khoa đồng thời đứng dậy và cùng giải tán theo mệnh lệnh của quan
chủ khảo.
Ra
khỏi cửa trường, Vân Hạc, Đốc Cung liền cởi áo tấc trao cho thằng nhỏ nhà trọ.
Hai chàng định cố len vào xem bảng tú tài: vừa thấy Tường Loan đi tìm và nó cho
biết Khắc Mẫu được đỗ tú tài đội bảng.
Đốc
Cung vui cười:
-
Cứ như sức học anh ta thi đỗ đội bảng tú tài cũng phải. Nhưng giá được trên một
người thì danh giá hơn.
Vân
Hạc cũng cười:
-
Đến anh Bằng tao năm ngoái cũng chỉ đỗ trên hai người, huống chi thằng Mẫn.
Thôi thì đội bảng cũng được, miễn làm được là ông tú cũng sướng cho nó lắm rồi.
Đi
vài bước nữa thì gặp Hải Âu, Đoàn Bằng.
Không
hiểu đã ai báo tin cho biết, Khắc Mẫn lúc ấy cũng đã tới đó. Cả bọn nghênh
ngang trở về với sự hoan hỉ của một toán quân thắng trận.
Tường
Loan vừa đi, vừa kể:
-
Lúc nãy có một ông cử lạ quá. Người lính xướng danh vừa bắc loa gọi, ông ta liền
nắm hai tay đấm mãi vào chiếc nón sơn để trước ngực rồi nhảy như con choi choi
và reo một thôi “sỏ lợn về ai”. Lúc đầu ai cũng tưởng là người điên. Về sau có
người nhắc rằng: “Sao không dạ đi”, ông ta mới dạ một tiếng rất lớn, bấy giờ
hàng xứ mới biết đó là ông cử.
Hải
Âu bật cười:
-
Chắc là ông đó đã hỏng nhiều khoa, cho nên bây giờ được đỗ mới sướng như thế.
Mặt
trời sắp lặn, cả bọn mới về đến nhà.
Quang
cảnh nhà trọ đêm ấy cố nhiên phải cực náo nhiệt, sự vui vẻ có phần còn hơn đám
hội. Ông chủ nhà trọ và nhiều người khác đều phải thức đến sáng bạch.
Hôm
sau, vào khoảng nửa buổi, Vân Hạc, Đốc Cung, sắm sửa khăn áo chỉnh tề rồi mỗi
chàng đem một người xách gói mũ áo đến trường thi.
Bấy
giờ quan trường đều đã tề tựu ở nhà Thí viện. Cụ bảng Tiên Kiều, cụ nghè Quỳnh
Lâm, cụ cử Mai Đình và nhiều văn thân các tỉnh cùng được mời đến.
Sau
khi hai chàng vái chào khắp lượt, cụ cử Mai Đình liền nói cho các quan biết
khoa này học trò cụ bảng Tiên Kiều chiếm một góc bảng cử nhân. Cử tọa đều hết sức
ca tụng, phục cụ là bậc sư biểu của sỹ lâm.
Một
lát sau, các ông cử mới lục tục đến dần. Theo lệnh quan chánh chủ khảo, hết thảy
mọi người đều lên nhà Thí viện làm lễ.
Chinh
giữa Thí viện vừa mới thiết lập một chiếc hương án. Tán vàng, tán tía phấp phới
giường trên những ngọn bạch lạp sáng rực. Cảnh tượng khi ấy mới đẹp làm sao!
Hàng mấy chục mũ cánh chuồn nghênh ngang, hàng mấy chục áo đại trào khoang
khua, rồi hàng mấy chục áo tấc mầu lam tha thướt như lưới đánh cá.
Khói
trầm nghi ngút bốc trên hương án, chiêng trống theo nhau đưa ra những tiếng
tùng bu.
Cuộc
hành lễ bắt đầu.
Đấy
mới là lễ bái vọng. Quan chánh chủ khảo xúng xính vào trước. Qua năm lần hưng
bái, ngài đi lùi ra và đứng sang phía bên hữu.
Đến
quan phó chủ khảo. Cũng đủ hưng bái năm lần, rồi ngài cũng lui xuống đứng sang
phía bên tả.
Rồi
đến các ông ngự sử, đề điệu, phân khảo, giám khảo, phúc khảo, sơ khảo, ai lớn
vào trước, ai nhỏ vào sau, mỗi ông cũng phải hàng năm lần và bái năm lần.
Hết
bộ quan trường, đến lượt quan tổng đốc sở tại và văn thần các tỉnh.
Cũng
như hai ông chánh phó chủ khảo, các ông sau này lễ xong cũng phải đứng ra hai
bên. Ông nào ông ấy, hai tay chắp ngực, nét mặt nghiêm trang...
Bây
giờ mới đến các ông cử mới.
Đây
là lễ tạ ơn nhà vua lấy đỗ. Cố nhiên mỗi người cũng phải năm lễ.
Hết
hai trăm rưởi cái lên gối, xuống gối, các ông tân khoa cũng đứng dàn ra hai
dãy.
Bây
giờ đến lễ tạ ân mũ áo. Hai nhăm các ông tân khoa phải sì sụp một trăm hai mươi
nhăm cái.
Lần
này đến lễ tạ ơn cho yến. Mỗi vị tân khoa lại phải phủ phục thêm năm lượt nữa.
Xong
cuộc tạ ân nhà vua, đến cuộc tạ ân phòng sư. Những ông tân khoa đều tạ quan trường
hai lễ.
Lúc
này mới thật là hỗn độn, ông thì lễ sang phía tả, ông thì lễ sang phía hữu, có
ông lễ vung tàn tán, chẳng biết mình lễ ai.
Tan
các cuộc lễ, các quan và các ông cử đều ra ngoài rạp dự yến.
Tiệc
này là yến lộc mình, do quan tổng đốc sở tại lĩnh tiền trong kho giao cho đội
tuần sửa soạn.
Theo
lệ, các cỗ chĩa làm ba hạng, hạng nhất, mỗi cỗ ba quan, hạng nhì kém đi năm tiền,
hạng ba thì chẵn hai quan một cỗ.
Bấy
giờ ở ngoài rạp cỗ bàn đã bày la liệt. Các quan khách và các cống sĩ rồi các lại
phòng, ai nấy cứ theo ngôi thứ mà ngồi.
Hai
ông chánh phó chủ khảo ngồi riêng một bàn.
Ông
chánh đề điệu ngồi với các ông giám khảo. Quan tổng đốc sở tại ngồi với các
khách văn thân. Đấy là những cỗ hạng nhất, số người không nhất định.
Mấy
ông phân khảo, ngự sử, và phó đề điệu ngồi với các ông phúc khảo, sơ khảo. Đây
là cỗ hạng nhì, mỗi bàn bốn người. Các ông cử mới và các lại phòng đều ngồi vào
cỗ hạng ba. Cử nhân mỗi bàn cũng bốn người, lại phòng thì phải sáu người một
bàn. Các bàn ngồi vào vừa yên chỗ, ngoài cửa nghe có tiếng dép lẹp kẹp. Một lũ
đào kép lố nhố tiến vào trước rạp với các sênh phách, đàn trống.
Thì
ra hôm ấy là ngày đại yến, bao nhiêu danh ca trong tỉnh đều bị gọi đến hầu tiệc.
Đào Phượng, đào Cúc cũng có ở đó.
Sau
khi vái chào các quan, hai đào một kép xin phép ngồi xuống chiếc chiếu trải
ngoài cửa rạp, còn các ả khác thì đến các mâm rót rượu.
Theo
lời đề cử của quan tổng đốc sở tại, ông thủ khoa mới phải đánh chầu. Người kép
liền đệ trống và roi chầu đến chỗ Vân Hạc.
Trống
điểm, đàn dạo, phách giục chát chát, tiếng hát bắt đầu ngân dài, các bàn lần lượt
lên chén.
Lúc
ấy người ta mới kịp ngó tới các món trong mâm. Đại để gần giống những món trong
các đám khao, đám cưới, cũng giò chả, cũng ninh nấu cũng yến xào, vây cá, bào
ngư, long tu... chỉ hơn bốn bát trên mặt có cài những mảnh trang kim trổ hoa vẽ
thuốc, sặc sỡ như tờ trang kim ở hòm pháo.
Đó
là mấy món tứ linh, món “long” nấu bằng cá chép, giấy trang kim trổ hình vây rồng
vẩy rồng, món “phượng” nấu bằng con gà, giấy trang kim trổ hình cánh phượng,
đuôi phượng; món “quy” nấu bằng con vịt giấy trang kim trổ hình mai rùa, đuôi
rùa, món “ly” thì là một chiếc chân lợn, giấy trang kim làm ra đầu, đuôi và bờm
kỳ lân.
Đàn
càng réo rắt, phách càng giòn giã, tiếng hát càng lên cao giọng, cuộc rượu mỗi
lúc mỗi thêm vẻ nồng nàn.
Vân
Hạc đánh hết hai khổ, chàng liền nhường trống cho ông á nguyên.
Theo
lệnh quan chánh chủ khảo, một tên hình hầu đệ bút mực và bức hoa tiên đến chỗ
Vân Hạc để chàng làm thơ niên nghị.
Việc
này chàng đã dự bị từ đêm hôm qua, bây giờ chỉ phải soát lại một lượt xem có chữ
nào đáng chữa hay không, rồi chàng viết luôn một bài ngũ ngôn Đường luật đưa
sang trình quan chủ khảo.
Với
những chữ nét sắc như cắt và tươi như hoa viết trên một bức hoa tiên bóng bẩy,
bài thơ như càng thêm vẻ xuất sắc, ông chánh chủ khảo coi rồi mỉm cười khen được
và gọi một người lễ sinh ngâm cho cử tọa cùng nghe.
Bằng
một giọng kêu như tiếng chuông, người lễ sinh đọc:
“Thịnh
thế văn phong uất,
Thu
vi sỹ lộ hoành,
Long
môn tân điểm ngạch,
Hòe
thị cựu tri danh.
Hồng
bạch hoa tranh diệm,
Bình
cao lộc cộng minh
Như
hà tương miễn lệ?
Vạn
lý khán bằng trình?”
Trên
tiệc, ai nấy đều phục là giọng thủ khoa. Rồi bức hoa tiên lại trở về chỗ các
ông cử mới. Mỗi ông liền sao một bản để làm kỷ niệm. Cuộc rượu thêm vài tuần nữa,
cả đám đều có vẻ say, tiếng cười nói không lúc nào ngớt. Bấy giờ bao nhiêu ả
đào đổ xô cả đến chỗ mấy ông cử trẻ. Chung quanh Vân Hạc, Đốc Cung, ngoài đào
Phượng và đào Cúc ra, lại có bốn năm ả khác xoắn lại như nhựa. Mấy cụ cử già
đành chịu ngồi trơ với nhau.
Cuộc
yến kéo dài đến cuối giờ ngọ mới tan. Các món tứ linh đâu vẫn nguyên đó, không
ai động đũa.
Mỗi
ông cử mới nhận lấy một món và vài ba thứ bánh trái, giao cho đầy tới gói lại
làm phần, để đem về biếu người nhà, gọi là chút ơn vua lộc nước.
Trước
khi mọi người ra về, quan tổng đốc sở tại tặng cho mỗi ông cử mới một chiếc lọng
xanh chóp bạc, sai lính đưa về tận nhà trọ cho các ông ấy.
Vân
Hạc, Đốc Cung ra khỏi cửa dinh, đào Phượng, đào Cúc tranh nhau che lọng đi hầu.
Hai ả đã đưa hai chàng đến quá nửa đường, rồi mới trở lại.
Lại
một đêm nữa, nhà trọ phải làm đám hội.
Rồi
Vân Hạc, Đốc Cung, Khắc Mẫn và cả ba toán họ hàng đồng thời đưa việc vui mừng về
quê sau khi đã an ủi ông chủ nhà trọ bằng một tiếc khao rất long trọng.
➖➖➖
Chương
20
Vầng
trăng như chiếc mâm ngọc thăm thẳm tụ ngọn kỳ đài chiếu xuống nhân gian, bầu trời
đế đô không pha một mảy bụi gợn.
Với
mười mấy chiếc mái tráng lệ lơ lửng bay giữa từng không, bảy gian ngọ môn kiêu
ngạo vươn những tréo đao cong vắt như muốn khoe vẻ nguy nga với chị Hằng.
Trong
bầu ánh sáng trong vắt, những con rồng phượng xanh đỏ sặc sỡ nằm trên các nếp cửa
đồ sộ đều nghiêm trang chầu ông “mặt trời nặn vôi”.
Hoàng
thành đương say đắm trong giấc ngủ đêm hè, ngoài tiếng trống nặng nề và tiếng
kiểng sỗ xã của các hành lâu thỉnh thoảng mới có vài tiếng hô của bọn lính tuần
thành thứ khẩu hiệu.
Đêm
mới chừng nửa canh tư.
Vân
Hạc đã đi sớm quá. Các bạn cống sĩ chưa có ai tới ở toà ngọ môn, ngoài bọn lính
tráng canh cửa, hình như không có người nào.
“Còn
nửa khắc nữa mới được vào. Âu là ta hãy dạo chơi đâu đó để coi cái cảnh đêm
trăng của đế thành”. Nghĩ vậy, chàng tiến đến nói với bọn lính canh cho mình
qua cửa. Biết chàng là một cống sĩ, bọn đó không dám ngăn cản. Chàng bèn lững
thững đi vào bên cửa đông ngọ.
Trước
đôi cột đồng bóng lộn cao ngất trên lưng chừng trời làn nước hèm hẹp nằm chắn
ngang đầu đường đi.
Đây
là ao Thái-dịch, một khu liên đường của hoàng thành. Trên ao có một dịp cầu
khum khum úp lấy mặt nước chạy từ bờ ngoài vào bờ trong.
Một
luồng gió nhẹ từ phía trước mặt hiu hiu đưa lại, mùi sen dưới ao bát ngát đưa
lên, như muốn giúp cho sự nồng nàn của du hứng.
Vân
Hạc đủng đỉnh tiến vào đầu cầu và dừng chân ở quãng giữa cầu. Với tầm mát bâng
khuâng vô định, chàng thơ thẩn ngắm những bóng lâu đài san sát cõng nhau dưới một
vòm trời trắng ngần.
Bấy
giờ đã vào hạ tuần tháng tư. Dưới ao, một vài bông sen sắp nở. Trong đám lá sen
tối um luôn luôn có tiếng cá đớp tí tốp.
Ở
tít ngoài xa, trồi đại cổ thụ lù lù hiện trên bờ ao. Những đoạn cành chánh kềnh
còng khúc khuỷu quằn quại trong bóng lá xanh lơ thơ, giống như một đoàn rồng rắn
giờn nhau trên đất cạn.
Trước
cảnh tịch mịch của đêm khuya, chàng bỗng cảm thấy bồi hồi lai láng. Rồi mơ màng
vơ vẩn, chàng nhớ những chuyện đã qua, chàng lo cho việc chốc nữa và chàng rùng
rợn cho cuộc phong trần trong mấy chục ngày trước đây.
Có
lẽ hai mươi bốn tuổi đời như chàng, chưa có hồi nào khó nhọc đến thân như hồi ấy.
Nói
cho đúng ra, thì trước hồi đó, chàng cũng được mấy chục ngày sung sướng. Vì rằng
trong cuộc tao chiến với một vạn hai sỹ từ trường Hà năm ngoái chàng đã làm được
vui lòng người vợ thân yêu.
Lúc
ấy cô Ngọc như đã trẻ thêm mấy tuổi. Nhất là cái hôm được thấy dân làng Đào
Nguyên cờ trống đi rước Vân Hạc từ cổng phủ về cổng nhà, bụng cô chằng khác gì
những lá cờ phấp phới tung trước ngọn gió. Rồi lúc nghe tiếng người ta gọi chồng
là ông thủ khoa hay cậu thủ khoa, gan ruột cô lại càng nở như bỏng rang.
Sau
đó, trong những tiệc khao hai làng Đào Nguyên, Vân Trình, nào bò, nào lợn, nào
rượu gạo, tất cả hết đến gần năm trăm quan, dấn vốn của cô đã bị hụt đi già nửa.
Chẳng những cô không nửa lời kêu tốn, trái lại còn cho rằng mình có tốt phúc mới
được tốn kém như thế. Vì thế người cô lúc nào cũng tươi như bông hoa hồng mới nở,
trước đẹp tám phần, bây giờ đẹp lên mười phần.
Rồi
thì bà cống, cụ Năm, cánh già được thấy con cháu nối được gia nghiệp, các cụ
vui mừng vô hạn.
Ý
nghĩa của sự thi đỗ trong óc Vân Hạc, bao giờ cũng chỉ có thế. Bây giờ chàng đã
bắt đầu đi tới, cho nên chàng cũng lấy làm đắc ý. Từ tháng chạp đến nửa tháng
giêng, ngoài việc xem lại ít sách, chàng chỉ bận về việc mua vui với bạn bè xa
gần. Đời chàng lúc ấy có thể gọi là một đời thần tiên.
Cái
bước phong trần của chàng mới khởi đầu từ ngày chàng và Đốc Cung lên đường đi
thi hội.
Thi
hội năm nay mở vào hạ tuần tháng ba. Tính đường từ Bắc vào kinh, sức chân học
trò phải đi đến gần hai tháng mới tới. Vì vậy, từ tháng giêng, Đốc Cung đã đến
giục Vân Hạc đi cho kịp ngày. Sợ chồng đi bộ vất vả, cô Ngọc đã khuyên chàng
nên đi đường thủy.
Nhưng
theo ý chàng, đi đường thủy tốn tiền, và cũng sóng gió nguy hiểm, Đốc Cung cũng
nghĩ như thế, cho nên hai chàng mới cùng nhất định đi đường bộ.
Trước
khi khởi hành, cô Ngọc thuê cho mỗi chàng một người đầy tớ khỏe mạnh, lực lưỡng,
để đeo hành lý đi hầu. Tính suốt các tiền ăn đường, ở trọ, mỗi người hà tiện
cũng phải hết gần trăm quan, cô liền đổi cho mỗi chàng lấy sáu nén bạc, bó vào
hai gói mo cau, để mang đi đường cho tiện. Rồi nào dùi nhói, nào dùi đục, nào
dao rựa, nào mã tải khâu quai, không biết hỏi ai mà bao nhiêu khí cụ luồn rừng,
cô đã sắp sửa đủ cả.
Cái
ngày thày trò nhà chàng quảy gánh lên đường là ngày hai mươi tháng giêng.
Từ
Sơn Tây đến Thanh Hóa, mỗi ngày chỉ được một cung, tối đâu ngủ đấy, tuy đã nhiều
khi xuống dốc lên đèo, nhưng cũng chưa thấy vất vả cho lắm.
Thanh
Hóa trở vào, đường đã dần dần khó khăn.
Rồi
từ Hà Tĩnh mà đi, càng ngày càng thêm những cảnh khủng khiếp.
Suốt
ngày luồn trong cây cối um tùm, con mắt ít khi được thấy bầu trời. Rồi những
hòn núi thẳng như bức tường lù lù hiện ở trước mặt. Rồi những ngọn suối nước chảy
như bắn oằn oại chắn ngang lối đi. Có khi phải ngửa ngực trèo lên đỉnh núi. Có
khi lại chống đôi gối mà bò dần xuống chân núi. Có khi đương đi vằn vèo theo những
bờ suối khuất khúc, đứng trên đường trông xuống lòng suối, thăm thẳm hàng mười
mấy trượng, tưởng như trượt chân một cái, xương thịt sẽ vụn như cám.
Khổ
nhất là đoạn ở quãng núi Trông.
Cạnh
một quả núi cao liền với trời, con kiến trèo lên cũng khó, lối đi phải vắt lên
trên một đám đá mọc lởm chởm. Cái đá mới ác làm sao, hòn nào hòn ấy, đầu nó nhọn
như mũi gươm, đặt chân lên trên, có thể thủng cả da thịt. Cho được tránh sự đau
đớn của đôi bàn chân, mỗi bước người ta cứ phải nhằm vào những vết nhẵn nhụi của
người đi trước, rồi nhún hai chân mà nhảy cho tới.
Cái
dép đã rách, đôi gối đã chồn, mà vẫn không thể tạm nghỉ. Bởi vì không có chỗ
nào mà đứng. Bấy giờ Vân Hạc cũng như Đốc Cung, ai nấy đều nhớ đến cảnh tượng Sạn
Đạo, mà hai chàng đã thấy ở trong sách Tầu, và đều nghĩ thầm: “Vị tất Sạn Đạo
đã hiểm hơn con đường này. Nhưng từ thượng cổ, người Tầu đã biết bắc ván đi
qua, làm sao ngày nay nước mình vẫn chưa bắt chước kiểu đó?”.
Đi
thoát quãng đường ác nghiệt, hai chàng đều thấy mệt nhoài. Nhưng vì sợ lỡ cung
đường, không có chỗ trọ, cho nên chỉ dám ngồi lại bên đường một lúc, để giở xôi
gói, cơm nắm ra ăn, rồi lại đi.
Một
hôm đương đi, thấy ở bên đường, có mấy con dao đặt trên tảng đá. Đốc Cung tưởng
là của bọn tiều phu nào đó, nên không để ý, Vân Hạc nhìn đến mấy dòng chữ vôi
nguệch ngoạc viết ở hòn đá liền đấy, mới biết những con dao đó, người ta dự bị
cho các hành khách chặt những cành cây vì gió bão gãy xuống ngang đường, sau
khi dùng rồi, dao ở chỗ nào, lại phải để vào chỗ ấy. Đi một quãng nữa, quả
nhiên giữa đường có bụi nứa đổ, lấp cả thân đường, không thể nào mà trèo qua được
Trong gánh hành lý sẵn có đôi dao, hai chàng liền bảo hai người đầy tớ phát hết
đống gai góc đó. Họ phát, chàng và Đốc Cung thì kéo, thầy trò dọn mất một hồi
khá lâu, bấy giờ mới có lối đi.
Lại
một hôm khác, Vân Hạc vừa bị nhược sức về leo trèo, vừa bị dãi dầu trong sương
gió, chàng thấy trong mình hầm hập phát sốt uể oải đi không buồn bước. Đốc Cung
và hai người quẩy gánh cứ phải luôn luôn chờ đợi. Tưởng chừng trời đã chiều rồi,
theo lỗ thủng trong đám lá cây mù mịt ngó sang dãy núi bên kia, mặt trời đã nằm
giữa sát đầu núi, mà vẫn chưa đến chỗ trọ, hai chàng đều cuống lo sợ.
“Đêm
nay đành phải ngủ ở ngọn cây”. Vân Hạc bàn với Đốc Cung như vậy.
Nhưng
các cây cối gần đó, cây nào cũng cao von vót và thắng tuồn tuột, dưới gốc không
có một mẩu cành nhánh thì làm thế nào mà leo lên được?
May
khi lại gần thấy có mấy cây từ gốc đến chỗ xẻ trạc, có đóng một hàng đanh tre bằng
ngón chân cái.
Trước
kia đã có người nào ngủ trên cây ấy, người ta đóng những đanh ấy để làm bậc
trèo cho dễ.
Một
cây thấp nhất đã long mất vài cái đanh. Hai người đầy tớ đành phải đẵn tre đẽo
cái đanh khác. Và họ giở gánh lấy dùi nhói và dùi đục ra, người nọ kề vai làm
thang cho người kia đứng lên, để nhói mấy lỗ ở thân cây và đóng đanh vào. Rồi họ
đem các mã tải dùng dây tam cố buộc vào những cành đâm ngang, giống như người
ta mắc võng. Đó là chỗ ngủ của người đi rừng. Có thế mới khỏi lo về nạn rắn rết
beo cọp.
Tay
ôm thân cây, chân đạp vào các đanh tre, leo hết một đoạn gốc cây và đánh đu vào
đoạn cành ngang để ngồi xuống tấm mã tải, Vân Hạc, cũng như Đốc Cung, ai nấy
rùng mình sởn gáy, bụng bảo dạ, nếu nó đứt dây một cái, thì thật tan xác.
Hai
chàng đã ngồi yên chỗ, hai người đầy tớ lại đi chặt lấy mấy tầu lá gồi, buộc
lên trên chiếc mã tải, để che cho người nằm dưới khỏi bị mưa sương, rồi họ mới
trèo lên chỗ của họ. Trời tối như cửa địa ngục. Nào cú kêu, khỉ ho, nào dế giun
rên khóc, thỉnh thoảng lại thêm những tiếng cọp gầm theo với ngọn gió tanh tanh
thối thối ở nẻo xa xa đưa lại. Biết bao nhiêu sự ghê sợ rùng rợn kéo đến chung
quanh hai chàng. Cơn sốt ở đâu nổi lên, Vân Hạc vừa nằm vừa rên hừ hừ, chàng tự
hỏi chàng: “Không biết có sống mà về được không?”. Rồi chàng gọi với Đốc Cung
và nói:
-
Nghĩ đến những lúc thế này, thì dẫu đi thi đỗ đến ngọc hoàng thượng đế cũng
không bõ công, đừng nói là đỗ tiến sĩ.
Nằm
thì nằm, vẫn không ai dám chợp mắt, vì sợ ngủ quên, giở mình, sẽ bị ngã lăn xuống
đất.
Hôm
sau, chờ cho trời thật sáng rõ mới dám bò xuống. Bấy giờ Vân Hạc đã tan cơn sốt,
trong mình chỉ còn tải mải mệt nhọc. Bốn thầy trò lại kéo nhau đi. Ra đến cửa rừng
trời lại sắp tối, trông lên những đám đồi núi lù lù ở giữa trời, có thể tưởng
như những con yêu quái khổng lồ đương sắp đe dọa nhân gian.
Sau
đó, đường đi phần nhiều men ở lợi bể. Trên thì núi đứng thăm thẳm, dưới thì
sóng vỗ oàm oạp, thân đường vừa quanh quất, vừa nhỏ hẹp lại vừa gập ghềnh lượn
lên lượn xuống, như leo cầu vồng. Bốn người lò dò từng bước, chỉ sợ trượt chân
xuống bể thì sẽ làm mồi cho cá. Đi mấy ngày nữa tới một khúc sông mênh mông đứng
ở bờ nọ không thể trông thấy bờ kia. Hỏi ra mới biết đó là phá Tam Giang, một
cái cửa sông liền với mặt bể. Trong sông sóng đánh dữ dội không kém sóng bể.
Người ta nói rằng: ngày xưa còn rộng hơn nhiều, bây giờ nhờ có cát bồi nên đã hẹp
bớt. Đi đò hết gần một ngày mới sang tới bờ bên kia, bốn người đều thấy lảo đảo
say sóng thốc tháo nôn mửa, nghỉ mất một đêm mới lại sức.
Lận
đận gần hai mươi ngày nữa mới vào đến Huế, tính ra tất cả vừa hết một tháng mười
ngày.
Sau
khi vào thành tìm được chỗ trọ hai chàng nghỉ ngơi vài ngày, rồi cùng đóng quyển
đem vào nộp ở bộ Lễ.
Khác
với thi hương, quyển của cống sĩ thi hội phải để đệ lên ngự lãm, khảo quan chỉ
được chấm vào bản sao, vì vậy, cống sĩ phải nộp mỗi kỳ hai quyển, bốn kỳ tám
quyển, đều bằng giấy lệnh, có kẻ ô son, mỗi trang tám dòng, mỗi dòng hai mươi
hai chữ. Sáu quyển của ba kỳ thứ nhất, thứ hai và thứ ba mỗi quyển chỉ đóng mười
tờ. Hai quyển của kỳ thứ tư thì đóng đủ ba chục tờ. Thi hội năm nay bắt đầu từ
ngày 18 tháng ba, trường thi lập ở phường Phú Thứ. Quanh trường đều có tường gạch
bao bọc. Trong trường, ngoài nhà Thí viện và những nhà ở của quan chủ khảo,
quan tri cống cử và các quan nội liêm, ngoại liêm, lại có mười tòa nhà ngói để
cho cống sĩ làm văn. Mấy tòa nhà đều ở trước nhà Thí viện, mỗi tòa ba gian, mỗi
gian ngăn làm ba phòng.
Phòng
nọ cách phòng kia chừng hơn một thước. Trong phòng có sẵn cái yên để cống sĩ viết.
Mỗi người cống sĩ chỉ phải mang thêm bút mực và một chiếc chiếu.
Trước
ngày thi, bộ Lễ phải sắm một số thẻ tre đề tên từng người cống sĩ, đem cắm ở
các cửa phòng.
Đến
khi cống sĩ vào trường liền có bọn lính hướng dẫn đưa đi, thẻ tên ai ở phòng
nào, họ sẽ đưa đến phòng ấy. Trong lúc cống sĩ làm văn, mỗi phòng đều có một
người võ sĩ cắp gươm đứng canh ngoài cửa, ngoài trường thì có các quan đề điệu
đốc thúc voi ngựa quân lính đi diễu suốt ngày suốt đêm.
Cũng
như thi hương, kỳ thứ nhất của thi hội cũng có bảy bài kinh nghĩa. Đáng lẽ mỗi
người chỉ làm ba bài cũng đủ quyển, nhưng Vân Hạc xưa nay vẫn có thừa sức kiêm
trị, nên chàng làm cả bảy bài, còn Đốc Cung thì cũng làm được năm bài.
Sau
khi ở trong trường ra hai chàng đều có đưa bản giáp cho các bạn coi. Cứ như người
ta bình phẩm thì quyển của Vân Hạc ít nhất cũng được năm phân, quyển của Đốc
Cung may ra thì được ba phân. Bởi vì cân lạng của văn thi hội phải tính bằng
phân, chứ không tính bằng ưu, bình, thứ, liệt. Mỗi quyển cực điểm có thể phê đến
mười phân, nhưng nếu chỉ được một phân cũng là hợp lệ. Quyển nào không đủ một
phân mới là bất cập. Cộng cả bốn kỳ làm một người nào được từ mười phân trở ra
mà không kỳ nào bất cập, tức là trúng cách, sẽ được dự cuộc thi đình. Người nào
được từ bốn phân trở lên cho đến chín phân, và cũng không có kỳ nào bất cập,
thì sẽ được đỗ phó bảng, chứ không được vào điện thí. Còn những người nào không
đủ bốn phân, hoặc có một kỳ bất cập, thì đều bị đánh hỏng tuột. Thấy bước đầu
tiên, văn chương đã được linh lợi, hai chàng đều có lòng mừng.
Không
ngờ đến kỳ thứ hai, giữa ngày thi, Đốc Cung bị bệnh đi tả, không thể vào trường,
phải làm giấy cáo, Vân Hạc đành đi một mình.
Sau
đó mấy hôm, Đốc Cung lại được bằng cũ, đáng lẽ chàng cùng ở đó để đợi Vân Hạc
thi xong. Nhưng không hiểu sao, ruột gan càng ngày càng thấy bồn chồn không sao
chịu được. Đốc Cung liền phải cùng người đầy tớ về trước. Bấy giờ Vân Hạc như bị
mất một món gì ở trong thân thể, bụng chàng rất là buồn bực khó chịu.
Qua
kỳ thứ ba và kỳ thứ tư, văn chàng cũng đều lưu loát, các bạn trong kinh, ai
cũng chắc là chàng trúng cách. Quả nhiên hôm qua, khi bảng thi hội treo ở cửa lầu
Phu Văn, tên chàng đứng ngay đầu bảng. Vậy là chàng lại có thêm được cái hội
nguyên. Lúc ấy các ông cống sĩ ai cũng sợ phục, người ta cho rằng không khéo
chàng sẽ đỗ cả đình nguyên. Và chàng cũng vẫn tự tin như thế. Cái mừng rỡ ở
lòng chàng bấy giờ bút mực không thể tả xiết. Chàng chắc vợ chàng thế nào cũng
là bà thám, bà bảng như lời nàng đã cầu ước năm kia.
Bởi
vì ngày nay phải vào điện thi, cho nên đêm qua chàng ngủ sớm hơn mọi đêm. Đến
lúc thức giấc sợ là quá muộn, chàng vội đội mũ mặc áo lật đật ra đi không ngờ đến
nơi, hãy còn sớm mất nửa giờ.
Lúc
ấy, chàng thơ thẩn trên ao Thái Dịch, chừng một hồi lâu, chợt có một tiếng đánh
đùng như tiếng súng nổi ở ngoài kỳ đài đưa vào, làm cho chuyển cả trời đất
chàng biết đó là ống lệnh báo hiệu đã đến canh năm, tức thì sửa lại mũ áo đi
luôn vào cửa túc môn ngoài điện Cần Chinh. Trời sáng rõ, viên quan bộ Lễ ở
trong đi ra truyền các cống sĩ vào điện. Chiếu theo thứ tự trên bảng thi hội,
ai ở số lẻ thì vào cửa tả, ai ở số chẵn thì vào cửa hữu. Chàng ở số một, viên
quan bộ Lễ bảo chàng qua cửa tả rồi vào bên trong. Sau khi viên tuần kiểm đã
khám qua loa trong mình chàng, một viên quan khác liền đưa chàng vào bên hữu
vũ. Ở đó đã có yên chiếu do bộ Lễ đưa đến từ chiều hôm trước và cũng có thẻ đề
tên cống sĩ. Vân Hạc được ngồi vào phòng thứ nhất là chỗ có thẻ tên chàng.
Bấy
giờ quan giám thí đại thần và các quan đọc quyển, truyền lô, duyệt quyển, kình
dẫn, di phong, thu trưởng, ấn quyển, điện bảng v.v... đều đã mặc áo đại trào chực
sẵn ở đó.
Ở
điện Cần Chính cũng đã bày sẵn hai chiếc hương án thếp vàng, một chiếc trên thềm,
một chiếc dưới thềm.
Cống
sĩ vào hết, viên thượng bảo liền bưng hòm đựng đầu bài thí sách của nhà vua ra,
đặt lên chiếc hương án trên thềm. Quan giám thí, quan đọc quyển và tất cả các
quan coi việc đình thí đều phủ phục trước điện, lễ đủ năm lễ. Rồi quan thư tả
lĩnh tờ đầu bài chiếu số cống sĩ sao đã mỗi người một bản.
Chừng
độ giây lát, các bản sao xong, quan thư tả để các bản ấy vào chiếc hương án dưới
thềm sau khi đặt bản chính lên chiếc hương án trên thềm.
Quan
kinh dẫn liền bảo Vân Hạc và các cống sĩ đều ra quỳ ở trước sân. Rồi quan thư
tá lĩnh những tờ sao đầu bài ở chiếc hương án dưới thềm phát cho mỗi người một
bản. Theo lệnh quan kinh dẫn, Vân Hạc và các cống sĩ đều phải đứng dậy đem bản
sao đó để vào yên thi của mình, rồi lại ra sân lễ tạ năm lễ.
Bây
giờ đến giờ làm văn, cống sĩ ai về chỗ nấy.
Các
quan văn võ đều phải ra hết ngoài viện Đãi Lậu.
Trong
điện, tả vũ cũng như hữu vũ, mỗi bên có một tên lính đóng cửa đứng canh. Sân điện
có viên tuần la và viên tuần sát đi lại tuần phòng, ở ngoài hai cửa túc môn thì
có hai trăm biện binh của quan thị nội thống chế phải đến canh giữ.
Trong
các phòng triều hết thảy im lặng như tờ, người ta có thể nghe rõ tiếng vo ve của
từng con muỗi.
Vân
Hạc mới giở đến tập đầu bài đã thấy hoảng hồn. Làm sao mà nó dài thế! Mười tờ
giấy đặc, lý tịt những chữ là chữ. Coi qua một lượt, thì thấy nửa trên hỏi về ý
nghĩa của các kinh truyện tử sử của Tầu, nửa dưới hỏi về công việc hiện thời của
nhà nước, tất cả đến gần một trăm câu hỏi. Chàng liền gấp lại, và chỉ hở mấy
dòng ở đầu, cho lúc trông đến khỏi nóng ruột.
Viết
xong ba chữ “đối thần văn” và mấy câu chúc tụng nhà vua mà người ta gọi là đoạn
“tụng thánh”, chàng mới nhìn vào dòng chữ để hở ở tờ đầu bài, rồi theo thứ tự từ
trên xuống, lần lượt giả nhời từng câu hỏi một.
Cũng
may, văn sách thi đình, chỉ cần ý kiến, không cần văn chương mẹo luật như văn
sách thi hương thi hội, và quyển văn lại được viết thảo, không cần phải viết
chân phương, cho nên vừa nghĩ vừa viết cũng không lâu lắm. Chừng đến nửa buổi,
chàng đã trả lời được hai phần ba đầu bài. Thình lình thấy cửa phòng hé mở, rồi
một viên quan, chàng không biết là quan gì, chạy vào truyền chàng ra quì ở trước
sân điện.
Thì
ra nhà vua ban nước và bánh cho các cống sĩ điểm tâm. Những món đặc ân hiện đã
đặt trên hương án kê ở dưới thềm, sau khi một viên quan khác lĩnh các món đó
giao các cống sĩ chuyển cho người lính tuần sát đem vào trong phòng, ai nấy đều
phải tạ ân năm lễ, rồi mới trở vào ăn bánh uống nước.
Vân
Hạc viết lia, viết lịa từ bấy giờ cho đến gần trưa, quyển văn đã hết già nửa, cửa
phòng lại thấy ngỏ rộng, rồi một người lính tuần kiểm đệ vào một mâm đồ ăn và một
phạn cơm.
Đây
là cơm trưa của các cống sĩ, do dinh Quảng Đức sửa soạn, đưa vào ngoài cửa túc
môn, rồi hình tuần kiểm mang đến cho các cống sĩ, không phải là đồ vua ban, cho
nên không phải làm lễ tạ ân.
Thì
giờ lúc ấy quý hơn vàng ngọc, chàng chỉ để vào nó độ ba, bốn phút gì đó, rồi lại
cắm cổ mà viết.
Quá
trưa một lúc, bài làm đã xong chừng ba phần tư, nhà vua lại ban đồ nước cho một
lần nữa.
Cũng
như lần trước, chàng và các cống sĩ lại phải ra sân quỳ nhận, rồi lại tạ ân năm
lễ.
Trời
nhá nhem tối, chàng vừa viết xong, các cống sĩ cũng đều xong cả, ai nấy đem quyển
ra nộp cho quan tuần la. Bấy giờ biện binh ngoài cửa túc môn lại ngó cánh cửa
cho các cống sĩ đi ra. Rồi quan giám thị đại thần và tất cả các viên quan khác
đều phải trở lại trong điện. Ông thu quyển nhận quyển của ông tuần la giao lại,
ông ấn quyển đóng dấu “Luân tài thịnh điển” vào các cuối quyển, ông di phong xếp
quyển vào rương và dán niêm phong, rồi giao cho ông thủ trưởng canh giữ.
Các
ông ấy đều phải ngủ ở triều phòng để ngày mai chầu chực nhà vua chấm văn.
Vân
Hạc và các cống sĩ ra khỏi cửa điện thì trời tối mịt. Luôn thể chàng mời tất cả
mấy người cùng về nhà trọ mình ăn cơm. Trong lúc uống rượu, người nọ đọc văn
cho người kia nghe, hết thảy mọi người đều phục văn chàng có nhiều ý kiến lỗi lạc
hơn cả. Người ta lài càng tin rằng đình nguyên sẽ phải về chàng.
Luôn
hai hôm sau, chàng và mấy ông bạn mới lần lượt dắt nhau di chơi các danh thắng
gần đấy để chờ nghe tin truyền lô. Bụng chàng vẫn chắc mẩm rằng: nếu không đỗ bảng
nhỡn, thám hoa, cũng phải đỗ đến nhị giáp tiến sĩ.
Chiều
hôm thứ ba, chàng đương cùng bọn cống sĩ trò chuyện vui đùa, bỗng thấy có hai
tên lính vác hèo và gông xông sộc vào trong nhà. Sau khi hỏi qua tên chàng, họ
liền đưa chàng một mảnh giấy chữ dấu sơn đỏ chóe. Té ra có lệnh của viện đô sát
sai đi nã chàng, không biết là vì việc gì.
Cái
gông ở tay người lính liền ghép luôn vào cổ chàng, rồi họ điệu chàng về giam ở
ngục Hộ Thành. Các bạn cống sĩ ai cũng thương hại và kinh sợ.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét