2022-12-10
Lều
Chõng (17, 18)
Ngô
Tất Tố
Chương
17
Hôm
nay trời đã bớt lạnh, mặt trời hình như mọc sớm hơn các hôm khác. Đốc Cung và
anh em Vân Hạc vừa mới lần lượt trở dậy, ánh nắng vàng nhạt đã lấp lánh in vào
những chiếc lá bàng úa đỏ ở trước sân.
Quen
lệ, thằng nhỏ nhà trọ nhanh nhảu đệ lên chỗ ngồi của khách một siêu nước sôi và
bộ bàn chè chén mẫu.
Vân
Hạc đương lúi húi đổ chè ra chiếc nắp bao và rẽ ràng trút vào chiếc ấm quần ẩm,
ngoài sân bỗng có tiếng hỏi:
-
Tôi tưởng các ngài còn ngủ, té ra đã dậy cả rồi.
-
Hôm nay sao chư tiên sinh dậy sớm quá vậy?
Cả
nhà đều ngẩng lên trông.
Trần
Đức Chinh nghênh ngang lên thềm với một nụ cười tủm tỉm.
Đốc
Cung nhận rõ anh ta đương có việc gì đắc ý, sau khi chào nhau khắp lượt, chàng
hỏi:
-
Cậu có tin đỗ tú tài đấy chứ?
Đức
Chinh theo lời mời của Vân Hạc, ngồi vào trong ghế, rồi làm ra vẻ khiêm tốn:
-
Ông nói lỡm nhau chi thế? Tú tài đâu đến phần tôi? Nếu tôi mà đỗ, thiên hạ còn
ai hỏng nữa?
Đốc
Cung cười kiểu chế nhạo:
-
Cái đó không biết chừng... Học tài thi phận, cậu ạ. Nhưng nếu không có tin đỗ
thì sao người cậu hôm nay lại thấy tươi hơn mọi hôm?
Đức
Chinh vẫn đáp bằng giọng thật thà:
-
Vì tôi mừng cho ông Hạc.
Đốc
Cung vội hỏi:
-
Cậu biết anh Hạc đỗ à?
-
Vâng, có lẽ ông Hạc sẽ đỗ thủ khoa.
Vân
Hạc buột miệng:
-
Nếu quả như vậy, thì các quan trường năm nay đã biết chấm văn.
Rồi
chợt nhớ ra trước mặt còn có Đoàn Bằng, Tiêm Hồng, chàng liền lảng sang ngách
khác.
-
Nhưng cậu nghe được tin đó ở đâu?
-
Hôm qua thày tôi có vào thăm quan tổng đốc, trong lúc nói về việc trường, ngài
có cho biết như vậy. Vì tôi khoe ông Hạc là bạn với tôi cho nên thày tôi giục
phải đến đây sớm để báo tin mừng.
Hải
Âu cũng hỏi:
-
Vậy ngài có biết bao giờ thì xướng danh không?
-
Cứ như thầy tôi nói lại, tin chắc cũng không còn lâu lắm. Bởi vì còn phải đợi “chỉ”
trong kinh.
Đoàn
Bằng ra ý nóng ruột:
-
Thưa ngài, thế cụ lớn nhà dạy như thế nào?
-
Thày tôi nói rằng: sáng sớm hôm qua, vừa có mật tin từ trong trường ra báo quan
tổng đốc cho biết rằng: việc trường đã xong hết cả, giải ngạch, cử nhân, tú tài
cũng lấy xong rồi. Chỉ còn hai ông giải nguyên, á nguyên thì chưa quyết định.
Là vì trong số hơn một trăm quyển được vào phúc hạch thì quyển của ông Hạc là tốt
hơn cả, rồi đến quyển của ông Nguyễn Chu Văn.
Ông
Hạc được hai “ưu” ngoại hai “ưu” nội và mười hai “bình”, ông Văn được một “ưu”
ngoại, một “ưu” nội và mười bốn “bình”. Như thế thủ khoa đáng lẽ phải về ông Hạc
vì đã hơn hẳn ông Văn hai “ưu” kia mà. Nhưng mà ông Hạc mới hăm hai tuổi lại là
chân trắng mà ông Văn thì đã bốn mươi nhăm tuổi lại đã hai khoa tú tài. Nếu lấy
sự cao niên túc học làm trọng thì ông Văn cũng nên được đỗ thủ khoa. Quan chủ
khảo và quan ngự sử đã tranh luận mãi về chỗ đó. Ý quan chủ khảo muốn để ông
Văn ở trên vì ngài trọng người tôn niên. Nhưng quan ngự sử nhất định không
nghe, ông này cho rằng: việc thi cử là thi bằng văn, không thi bằng tuổi, hễ mà
văn hay thì phải đỗ trên, bất luận tuổi nhiều hay ít. Kết cục, hai ngài không
ai chịu ai, ai cũng nhận cái lý của mình là phải. Vì thế các ngài mới phải làm
sớ tâu về triều đình và gửi tất cả các quyển trong bốn kỳ của hai ông ấy vào
đó, để tùy trong triều định đoạt.
Đức
Chinh kết luận:
-
Từ đây vào kinh, vừa đi vừa về, ít ra cũng phải ngoài hai chục ngày. Vả lại, sớ
vào đến nơi, hoàng thượng xem rồi, lại còn giao cho triều thần bàn bạc nữa chứ.
Như vậy, có lẽ phải mươi ngày nữa mới có “chỉ” ra...
Hải
Âu ngắt lời:
-
Không! Từ đây vào kinh, cả đi lẫn về chỉ hết độ hơn mười ngày là cùng. Bởi vì
trong năm Gia Long thứ ba, trình hạn của phu chạy trạm đã có định rõ: từ Bắc
thành đến kinh đô, việc gấp, phải chạy năm ngày cho tới. Người nào chạy được
đúng hạn thì thưởng ba quan, quá hạn độ một hai ngày, thì phải phạt ba chục roi
đòn. Việc thi bây giờ cũng là việc gấp, bao nhiêu quan trường, bao nhiêu học
trò đều đương ngong ngóng chờ đợi kia mà. Lẽ nào phu trạm lại dám để chậm?
Cương
Phượng tỏ ý kinh ngạc:
-
Trời ơi, đường đất từ đây vào kinh, kể có nghìn dặm, thế mà chỉ đi năm ngày! Họ
chạy nhanh bằng Luật Kinh chạy theo Mặt Trời①. Nhưng chạy như thế lỡ
ra phu trạm mệt quá, chết ở ngang đường thì làm thế nào?
Hải
Âu đáp:
-
Họ chết ở cung đường nào, thì nhà trạm ở cung đường ấy phải cắt người khác nhận
lấy giấy má của họ mà chạy luôn đi. Trong luật đã có nói rõ như vầy.
Rồi
thày trở lại câu chuyện thi cử:
-
Tôi chắc nay mai, chỉ của triều đình sẽ ra đến đây và vài ngày nữa thì sẽ có cuộc
xướng danh.
Đức
Chinh vừa cười vừa nhìn Vân Hạc:
-
Thôi thì bao giờ xướng danh mặc lòng, ông cũng không phải nóng ruột, mười phần
đỗ cả mười rồi. Chẳng thủ khoa thì á nguyên, quyết không xuống đến thứ ba.
Vân
Hạc cũng cười:
-
Có đỗ thủ khoa thì tôi đỗ chơi cho hay, chứ đỗ á nguyên còn thú gì nữa?
Đốc
Cung nói đùa:
-
Thật là được thể dễ nói khoác... Tôi chỉ cầu Trời khấn Phật cho anh hỏng khoa
này nữa, để xem anh sẽ nói với chị ấy ra sao.
Tường
Loan chỉ vào Đoàn Bằng, Tiêm Hồng và hỏi Đức Chinh:
-
Thưa ngài, còn hai ông này ra sao, ngài có biết tin gì không?
Đức
Chinh lắc đầu:
-
Tôi không được rõ vì không thấy thày tôi nói chuyện. Nhưng chắc các ngài đỗ cả.
Mỗi
người nói phiếm thêm mấy câu nữa, ấm chè vừa tàn. Đức Chinh cáo từ ra về.
Bấy
giờ ánh nắng đã xuyên qua lỗ cửa sổ, chếnh chếch xuống nền nhà. Hạt bụi xanh đỏ
rối ni giờn nhau trong những luồng sáng thẳng vuông như chiếc tay thước. Trong
nhà đầy vẻ ấm áp của tiết tiểu xuân. Hải Âu cao hứng bảo với Đốc Cung:
-
Hôm nay chúng mình phải đi ngoạn cảnh cái chứ. Bó gối ngồi nhà để ngong ngóng đợi
ngày xướng danh hộ các ông ấy là cái nghĩa gì?
Đốc
Cung chưa kịp trả lời. Hải Âu lại tiếp:
-
Đã mười năm nay tôi không đặt gót đến đất Hà Nội. Không biết bây giờ cuộc dâu bể
của các cảnh vật xứ này đã đi đến chỗ nào rồi...
Đốc
Cung vừa cười vừa đáp:
-
Thú thật với bác, tôi ở nhà luôn mấy hôm nay đã thấy tù cẳng lắm rồi. Bác tính
còn gì khổ bằng cái thằng thi hỏng lại phải ở lại để đợi anh em xem bảng?
Hải
Âu cũng cười và hỏi:
-
Nhưng mà bác định đi chơi đâu giờ?
Tường
Loan cướp lại:
-
Tôi thấy các cụ vẫn nói phong cảnh hồ Tây đẹp lắm mà chưa được đến nơi. Hay là
các ông lên chơi trên ấy cho tôi đi với?
Đoàn
Bằng tán vào:
-
Phải đấy, hôm nay trời ấm, có lẽ lên chơi hồ Tây cũng thú.
Rồi
đó ai nấy đội khăn mặc áo, kéo thẳng lên nẻo cửa Bắc và rẽ sang đường Cổ Ngựa.
Lúc ấy cây cối đã đương đổi lộc, quanh hồ như vẽ một cảnh tiêu sơ. Trên lớp cỏ
héo ven đường, những chiếc lá đa vàng úa tơi bời rơi rụng. Trong khu giữa hồ, một
đám sen tàn, xờ xạc lượt theo gợn sóng. Ngoài nẻo xa xa, mấy bông lau sậy trắng
xóa, thi nhau đùa trước ngọn gió hiu hiu. Ngắm các cảnh vật trước mắt, Hải Âu tự
thấy vô hạn bồi hồi.
Sau
khi thăm quán Trấn Vũ, cả bọn đủng đỉnh sang chùa Trấn Quốc. Bây giờ mặt trời
đã cao, bầu trời rất sáng sủa, bằng mây thăm thẳm lồng xuống đáy nước, làm cho
cảnh hồ càng thêm mông mênh. Hải Âu thơ thẩn đi lại trước nhà chùa hồi lâu,
thình lình thày chạy đến chỗ Đốc Cung, Vân Hạc, vừa cười vừa nói:
-
Tôi định làm một bài hoài cổ, nhưng mới nghĩ được bốn câu thì hết mất tứ, bác
Cung và các chú tiếp hộ.
Đốc
Cung liền bảo:
-
Bốn câu của bác ra sao?
Hải
âu đọc:
“Cáo
trắng trâu vàng chuyện có không?
“Đêm
trăng bao độ rước thuyền rồng?
“Nào
khu yếm xống hàng quan thị?
“Đâu
chỗ ca, chèo bóng gái cung?...
Đốc
Cung tỏ vẻ bông đùa:
-
Hay thì hay thật. Nhưng câu thứ ba chua lắm.
Tường
Loan ngơ ngẩn:
-
Thế là Trấn Quốc tự hoài cổ, hay là Tây Hồ hoài cổ?
Hải
Âu đáp:
-
Tây Hồ hoài cổ đấy chứ. Nếu Trấn Quốc tự hoài cổ thì sao cho đắt?
Tường
Loan càng ngạc nhiên:
-
Vậy thì mấy chữ “yếm xống”, “ca chèo” là ý thế nào?
Hải
Âu cắt nghĩa:
-
Đó là tôi muốn nói về chuyện chúa Trịnh. Trong lúc họ Trịnh còn thịnh. hồ Tây vẫn
còn là một nơi thắng thưởng, giống như vườn Phù dung của Đường Minh Hoàng, chùa
Trấn Quốc này, đã bị lập thành hành cung, mỗi tháng nhà chúa ra chơi chừng vài
ba lần. Cung nữ trong phủ, ngày thường đã phải may sẵn hàng nghìn đèn lồng toàn
bằng gấm vóc là lượt, thêu thùa rất khéo, khi nào chúa sắp ra lính tráng phải
lĩnh những đèn lồng ấy đem treo khắp các ngọn cây, rồi các quan thị từ hạng tam
phẩm trở lên, đều phải dọn quán bán hàng ở khắp bờ hồ. Trong quán có đủ các thức
phấn, sáp, quà, bánh, đồ ta, đồ tàu... Rồi chính những vị “ông cả không xâa” đó
lại phải mang yếm, mặc xống, chít khăn mỏ quạ giả làm con gái bán hàng và ngồi
chầu chực trong quán một đêm. Nhà chúa ở phủ ra hồ, thường thường vào cuối canh
hai. Ngài ngự một chiếc thuyền rồng rất lớn có nhiều thuyền của các quan thị tụng
đi theo. Trong thuyền có đem rất nhiều cung nữ và đồ chè chén. Thuyền ra giữa hồ,
nhà chúa bắt đầu uống rượu, cung nữ kẻ đàn người hát, tiếng hát tiếng đàn phải
rất lả lơi. Người nào cần dùng món gì, cứ việc cho thuyền ghé vào gần bờ, rồi
lên mua ở các quán của bọn quan thị. Trong lúc mua bán, hai bên tha hồ cười đùa
chớt nhả, hát vè hát ví y như trai gái nhà quê. Câu thứ tư, chỉ về chuyện đó.
-
Vậy còn mấy chữ “cáo trắng” “trâu vàng”?
-
Đấy là tôi theo điển tích của sách Trích quái và sách Địa cảo. Trích quái chép
rằng: ở đời thượng cổ, hồ Tây còn là một trái núi nhỏ. Trên núi có con cáo trắng
chín đuôi thường hay hóa ra yêu quái làm hại dân cư. Ông thần Long đô đem việc ấy
tâu với Thượng đế, Thượng đế cả giận, liền sai Long vương giết con yêu đó. Long
vương vâng lệnh, đem các thủy tộc ngược dòng sông Nhị tiến lên nã bắt. Trái núi
đó tức thì sụt xuống thành ra cái hồ. Còn sách Địa Cảo thì nói: trong núi Lạn
Kha có con trâu vàng. Khi nghe tiếng chuông ở quán Trấn Vũ, con trâu ấy tưởng
là tiếng mẹ, vội vàng lồng ra, rồi ẩn vào trong hồ này. Ấy là những chuyện
hoang đường như thế, mà từ xưa đến nay, ai ai cũng tin thì có lạ không?
Rồi
Hải Âu quay hỏi bọn Đốc Cung:
-
Bác và các chú đã nghĩ được câu gì chưa?
Đốc
Cung đáp:
-
Tôi mới nghĩ được hai câu như vầy:
“Xờ
xạc đầu vời sen rạc lá,
“Phất
phơ cuối bãi, sậy phơi bông.
Hải
Âu khen được và bảo Vân Hạc:
-
Chú thử tiếp nốt xem sao.
Vân
Hạc ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:
-
Thế thì thế này:
“Lâu
đài Lê, Trịnh tìm đâu tá?
Bảng
lảng rêu xanh bóng ác hồng”.
Cả
bọn đều là cho hay. Hải Âu muốn lên Nhật Chiêu, thuê một chiếc thuyền chở ra giữa
hồ chơi. Nhưng khi hỏi thăm bọn sư trong chùa, thì họ nói rằng:
-
Nếu muốn dùng thuyền, phải hẹn từ hôm trước hay từ sáng sớm. Bây giờ mới thuê,
không chắc đã được, vì rằng những nhà có thuyền đều đi làm ăn vắng nhà.
Hải
Âu thấy trời đã xế chiều, tưởng chừng nếu thuê được thuyền đi nữa, cuộc du thưởng
cũng không còn được bao lâu, thày đành phải thôi. Cả bọn dạo quanh bờ hồ một
lúc nữa rồi cùng lẽo đẽo trở về.
Tới
khỏi cửa Bắc, thình lình có tiếng người gọi Vân Hạc, mọi người cùng quay mặt.
Trần Đức Chinh vừa ở ngõ ngang đi ra. Chàng thở và hỏi:
-
Các ngài có ai quen cụ Hoàng Doãn Đạt hay không?
Hải
Âu hỏi lại:
-
Có phải cụ Hoàng Doãn Đạt giáo thụ phủ Kinh môn, mới rồi được cử đi làm phúc khảo
đó không?
Đức
Chính đáp:
-
Phải? Chính cụ ấy.
Hải
Âu nói:
-
Chúng tôi quen cả. Vì cụ ấy nguyên là học trò thày tôi ngày xưa, đối với nhà
tôi rất thân. Ngài hỏi vậy có việc gì chăng?
-
Thấy nói cụ ở trong trường bị bệnh nặng lắm, mới được cáo ra lúc trưa, bây giờ
còn trọ trong nhà người quen ở phố Cửa Nam. Chắc cụ biết rõ công việc trong trường,
các ngài thử xuống hỏi xem chỉ của triều định đã ra đây chưa?
Đến
đây, Đức Chinh ngừng lại và nhìn Vân Hạc.
-
Chỉ vì việc đó, tôi phải lật đật tìm ngài từ trưa đến giờ. Gặp ngài ở đây may
quá. Bây giờ tôi về có việc. Đến tối xin lại thăm các ngài.
Vân
Hạc tỏ ý cảm ơn.
Đức
Chinh chào khắp bọn này và rẽ sang nẻo hàng Than.
Hải
Âu thấy cụ giáo Kinh Môn bị đau, tự nhiên trong ruột bồn chồn như bị lửa đốt.
Là vì cụ với anh em Hải Âu tuy chỉ là chỗ thế huynh thế đệ, song hai nhà ăn ở với
nhau không khác gì người ruột thịt. Xưa nay Hải Âu và các em vẫn kính mến cụ vô
cùng. Hơn nữa thày với cụ lại cùng chung một tính tình, hầu hết những cuộc đăng
sơn lâm thúy, hễ có cụ thì phải có thày, nhiều khi thày vẫn nằm ở nhà cụ hàng
hai ba tháng. Bây giờ nếu cụ đau thật, ít nhất thày phải biết ngay bệnh cụ thế
nào thì mới yên dạ. Vì vậy, sau khi Đức Chinh đi khỏi, Hải Âu liền bảo Đoàn Bằng,
Tiêm Hồng cùng đi với mình xuống phía Cửa Nam, để bọn Vân Hạc hãy về nhà trọ, sợ
rằng ở đấy có khách nào chăng.
Thì
ra sự ức đoán của Hải Âu không sai chút nào, ở nhà quả có một người em họ hàng
Đào Nguyên mới ra. Người ấy bảo cho Vân Hạc biết rằng: hôm nay cụ Năm đã định
ra chơi. Nhưng vì chưa rõ ngày nào xướng danh, sợ phải chờ đợi lâu quá, nên cụ
lại không ra vội và cho hắn ra trước hỏi xem bao giờ xướng danh, về nói với cụ,
để cụ ra mừng và thăm phong cảnh Hà Nội luôn thể. Thấy lòng ân cần của ông chú
già, Vân Hạc vô hạn cảm động, nước mắt tự nhiên ứa ra đầy hai khóe mắt.
Bóng
nắng ra hết sân gạch. Sương mù bắt đầu pha đục bầu trời. Gió bấc hiu hiu quạt mấy
tầu cau ánh nắng. Những con chim sẽ sợ lạnh sập sè vào nấp trong mái nhà.
Nhà
trọ sắp dọn cơm chiều, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng vừa lủi thủi về với một dáng bộ rời
rợi.
Đốc
Cung vội hỏi:
-
Bác cả còn đi chơi đâu chưa về?
-
Anh ta ở chơi dưới ấy với bác giáo nhà.
Vân
Hạc lễ phép:
-
Bệnh tình bác giáo ra sao? Có nặng lắm không, thưa anh?
Đoàn
Bằng cất giọng buồn rầu:
-
Có việc gì đâu! Bác ấy cũng ho xoàng. Chỉ vì ở lâu trong trường buồn quá. Nhân
thể việc trường đã xong, ngài mượn cớ cáo bệnh để xin ra trước vài ngày.
Đốc
Cung vui vẻ:
-
Cụ giáo có nói chuyện gì về việc thi cử của các bác không?
-
Có. Bác ấy bảo chú Hạc nó hỏng tuột. Chú tú nó đỗ lại, còn tôi thì may được đội
bảng tú tài.
Vân
Hạc nghe nói sắc mặt xám mét. Đốc Cung cũng đổi vẻ mặt:
-
Thế ra Trần Đức Chinh bịa chuyện nói nhảm à?
Đoàn
Bằng đương dở bỏ khăn, cởi áo, Tiêm Hồng đỡ lời:
-
Không! Anh ta nói đúng. Bác giáo cũng bảo trong trường đã chắc chú Hạc sẽ đỗ thủ
khoa. Sáng nay có chỉ ở kinh ban ra, mới biết là hỏng.
-
Vậy thì quyển của anh Hạc có tội gì chăng?
-
Không? Bác giáo cũng nói như Trần Đức Chinh, quyển của chú nó tốt lắm, bốn “ưu”
mười hai “bình” thật.
-
Thế thì làm sao anh ấy lại bị hỏng tuột? Cụ giáo có biết chỉ của triều đình nói
thế nào không?
-
Có! Thấy bác ấy nói: trong chỉ phê rằng: Đào Vân Hạc quả là tay đại tài, sự học
hơn hẳn Nguyễn Chu Văn, đáng được đỗ đầu khoa này. Chỉ hiềm tên ấy hãy còn trẻ
tuổi, văn chương không khỏi có chỗ ngông nghênh. Nếu lấy đỗ cao, sợ sẽ nuôi
thêm cho y cái bệnh kiêu ngạo, thì khó trở nên một người đại dụng. Triều đình
trong sự tác thành nhân tài, không muốn cho kẻ có tài đến nỗi uổng phí. Vậy
khoa này hãy cho tên ấy hỏng tuột, để mài giũa bớt những khách khí thiếu niên của
y. Rồi đến khoa sau thì sẽ cho đậu giải nguyên.
Vân
Hạc tỏ vẻ phẫn uất:
-
Tác thành như thế thì chết bỏ mẹ người ta!
Đốc
Cung ra ý ái ngại:
-
Vậy thì chuyện anh Hạc cũng giống với chuyện cụ Nguyễn Công Trứ.
Rồi
Đốc Cung tiếp:
-
Tôi thấy ông tôi ngày xưa có nói lại rằng: cụ Nguyễn Công Trứ từ lúc trẻ tuổi
đã nổi tiếng là bậc văn chương đại tài, bè bạn ai cũng phải phục. Chỉ vì hồi ấy
mới qua một cơn đỉnh cách, thời cục chưa biết thế nào, mà cụ lại là một tay cố
Lê công tử, chưa hẳn tuyệt tình với nhà Lê, cho nên bao nhiêu khoa thi đầu đời
Gia Long, cụ đều không dự. Mãi đến cuối đời Gia Long, hay là đầu đời Minh Mệnh
gì đó, vì các anh em cố bầu, cụ mới ra thi.
Đốc
Cung uống một hớp nước dấp giọng:
-
Bấy giờ ở tỉnh Nghệ An, bè cánh của bọn cố Lê công tử cũng lớn và cũng nhiều
người đi thi. Khi thấy khảo quan tiến trường, các ông ấy họp làm một đám đón đường
xin cho Nguyễn Công Trứ được đỗ thủ khoa ấy. Nghe đâu quan chánh chủ khảo có
đáp lại rằng: các ngài phụng mệnh triều đình ra đó, cốt vì nhà nước mà kén nhân
tài. Nếu như tài Nguyễn Công Trứ đáng đỗ thủ khoa, tự nhiên các ngài cho đỗ thủ
khoa.
Thế
rồi, ba kỳ thi xong, - phải lúc ấy chỉ thi ba kỳ - ba kỳ thi xong, quả nhiên
văn của cụ Trứ hay lắm, quan trường cũng muốn lấy đỗ thủ khoa. Nhưng vì có chuyện
học trò kêu xin, các ngài sợ rằng phong thanh về đến triều đình, mình sẽ bị ngờ
là không công minh, liền phải làm sớ và đệ các quyển của cụ này về kinh, để tùy
trong ấy quyết định. Không rõ bấy giờ, triều định bàn bạc ra sao, rồi thấy có
chỉ đưa ra, nói rằng cho Nguyễn Công Trứ sẽ đỗ thủ khoa khoa sau, khoa ấy phải
đánh hỏng tuột.
Đốc
Cung lại nắm tay Vân Hạc:
-
Không ngờ việc cụ thượng Trứ, nay lại xảy ra cho anh. Nhưng cũng không sao, triều
đình đã hứa không bao giờ sai. Cụ Trứ về sau lại đỗ thủ khoa, thì anh khoa sau
cũng đỗ thủ khoa. Sang năm đã lại có khoa thi rồi, chậm đỗ một năm cũng không
muộn lắm.
Vân
Hạc tỏ vẻ cáu kỉnh:
-
Thế họa khoa sau tôi ốm không đi thi được, triều đình có cho đỗ không?
Ông
chủ nhà trọ vừa ở nhà dưới tiến lên, Đoàn Bằng nói bằng giọng cười gượng:
-
Cơm đã xong chưa? Ông cho bưng lên đi thôi! Hôm nay ông phải uống rượu với
chúng tôi một bữa thật say, không được từ chối vì ngày mai chúng tôi sẽ cùng từ
giã ông tất cả.
Ông
chủ nhà trọ ra bộ ngơ ngác, không hiểu bọn này nói thật hay nói đùa. Sau khi
Đoàn Bằng đem chuyện đến chơi quan giáo Kinh Môn kể lại cho nghe, ông ấy vội
can:
-
Các ngài không nên nóng nảy. Vì tôi vẫn nghe nói việc trường bao giờ cũng giữ rất
kín, khó lòng có ai biết trước. Chắc đâu cụ giáo nói vậy là đúng?
Đoàn
Bằng cắt nghĩa:
-
Tôi chắc đúng lắm. Cụ giáo Kinh Môn có quen quan chánh chủ khảo - hai người đã
từng gặp nhau trong một khoa hội năm xưa - vì với nhà tôi là chỗ chí thân, nên
khi lên chào quan chánh chủ khảo để ra ngoài trường, cụ có hỏi ngài về chuyện đỗ
hỏng của chúng tôi. Bây giờ việc trường đã xong, không cần phải giữ bí mật như
trước, cho nên quan chánh chủ khảo đưa cả cuốn số giải ngạch và đạo chỉ của triều
đình cho cụ ấy coi. Như vậy còn sai sao được?
-
Dầu vậy đi nữa, cũng còn hai ngài đậu được tú tài kia mà! Tôi tưởng các ngài
hãy nên ở lại xem bảng cái đã. Việc gì mà phải hấp tấp?
Đoàn
Bằng lại càng buồn bã:
-
Tú tài đỗ lại và tú tài đội bảng thì cũng như hỏng, còn sung sướng gì mà đợi
xem bảng hử ông?
Thằng
nhỏ vừa bưng mâm rượu đặt vào chỗ phản mọi ngày. Cả nhà cùng ngồi xúm lại. Cuộc
rượu bắt đầu bằng những tiếng cười gượng, nói gượng. Rượu đến nửa chừng, Tiêm Hồng
vừa bưng chén rượu vừa khóc rưng rức. Đoàn Bằng vội ngăn:
-
“Có học, có thi, thì có đỗ”, chẳng đỗ khoa này thì đô khoa khác, việc gì mà phải
tủi thân?
Vừa
dứt hai tiếng “tủi thân”, miệng thày tự nhiên mếu xệch, nước mắt ròng ròng rỏ
xuống mặt chiếu.
Vân
Hạc thấy hai anh khóc, chàng bỗng nghĩ đến sự kỳ vọng của những người thân
thích ruột rà và bụng bảo dạ: “Lúc mình bước chân ra đi, nào mẹ, nào vợ, nào
cha mẹ vợ, nào chú bác họ hàng, người này giúp năm quan, người kia giúp ba
quan, ai cũng mong cho mình đỗ. Cả đến cụ Năm, đã đương nằm kề miệng lỗ, nghe
tin cháu vào phúc hạch cũng còn sai người đến đây hỏi xem ngày nào xướng danh để
ra chơi mừng. Bây giờ mình hỏng, làm cho biết bao nhiêu người thất vọng!
Hiện
nay mẹ mình, chú mình và ông nhạc bà nhạc của mình đều đã vất vưởng như đèn trước
gió, không biết các cụ có còn sống được đến ngày mình đỗ hay không?” Thế rồi
chàng cứ nức nức nở nở, trong họng như bị nghẹn ngào, chén rượu bưng lên lại phải
đặt xuống, không tài nào mà nhắp đi được.
Đốc
Cung từ khi bị hỏng vẫn cố nén dạ cười nói cho qua, bây giờ thấy Vân Hạc khóc,
lửa phiền của chàng như sắp dập tắt lại bị khêu lên, chàng cũng thổn thức nói
không ra tiếng.
Tường
Xoan, Cương Phượng và người em họ mới ra, tuy không bị đau về sự thi cử, nhưng
thấy các anh buồn bã, họ cũng cảm động không thể cầm được nước mắt.
Ông
chủ nhà trọ trước còn khuyên giải mọi người. Khi thấy mình càng khuyên, người
ta lại càng khóc, ông ấy nghĩ ngợi ra sao không rõ tự nhiên cũng khóc ru rú.
Quang cảnh tiệc rượu lúc ấy giống như quang cảnh đám ma của kẻ bạo tử, toàn những
người khóc, người mếu. Sáu, bảy chén rượu la liệt bày ở quanh mâm, lâu lắm
không ai buồn nhấc.
Đốc
Cung đương gục đầu trên gọi, bỗng ngừng phắt dậy và nói:
-
Thi đỗ cũng thế, chẳng đỗ cũng thế, việc đếch gì mà phải cảm khái cho khổ thân.
“Sống là Nghiêu Thuấn, chết thì xương khô, sống là Kiệt Trụ, chết thì xương
khô. Dù có đỗ nữa, chẳng qua chỉ đeo cái tiếng ông cử độ vài chục năm rồi cũng
hóa ra xương khô, chứ làm cóc gì.”
Rồi
chàng bưng chén và giục:
-
Uống đi các anh.
Mọi
người lại cùng sốt sắng nâng chén lên miệng.
Nhưng
mà vị rượu lúc ấy hình như chỉ rặt những mùi cay đắng, uống thì uống vậy, chẳng
ai thấy có thú hứng gì. Cả nhà khề khà đến gần nửa đêm. Đoàn Bằng, Tiêm Hồng
say dí, say dì, lúc đứng đậy, mấy lần chếnh choáng định ngã. Bữa tiệc dần dần
giải tán một cách âm thầm im lặng.
Sau
khi nằm vào trong chăn, Vân Hạc tự thấy ruột gan nóng như lửa chất; khi thì
mong rằng quan giáo Kinh Môn nói sai, khi thì mong rằng quan trường sẽ cùng làm
sớ kêu oan cho mình, khi thì mong rằng triều định sẽ đem việc mình xét lại, rồi
chữa ngay đạo chỉ dụ đã bắt mình hỏng. Đến khi thấy những điều đó là huyễn tưởng,
thì chàng lại muốn ngày mai sẽ là sang năm, nghĩa là cái năm sắp có kỳ thi, để
chàng lại vật nhau với số mệnh một lần nữa. Mọi đêm trường thi và chàng còn có
quan hệ, mỗi lần nghe tiếng trống ở trường đưa ra, chàng còn phấn khởi trong
lòng. Giờ với trường thi, chàng đã là người cục ngoại, những tiếng trống ấy đều
như có vẻ trêu cợt mỉa mai, mỗi dịp tùng tùng, ấy là mỗi cơn chàng phải đứt từng
khúc ruột.
Cạnh
chàng, Đốc Cung, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng cũng đều vật vã không ngủ, thỉnh thoảng lại
góp một tiếng thở dài, như giúp thêm sự đau đớn của chàng.
Đêm
càng khuya, trời càng lạnh, ngọn đèn trên quang mỗi lúc mỗi lù mù, chàng càng
trằn trọc không thể chợp mắt. Nghĩ đến quang cảnh khi cắp khăn gói về làng,
chàng không biết mặt mũi mình ra thế nào.
Chú
thích của người biên soạn:
① Có
lẽ tác giả nhắc đến “Truyền thuyết Khoa Phụ đuổi theo Mặt Trời”:
Thời
viễn cổ, có một người khổng lồ tên là Khoa Phụ (cháu tám đời của Viêm Đế), sinh
sống ở vùng núi phương Bắc. Khoa Phụ rất thân thiết với loài rắn, theo miêu tả,
trên mỗi vành tai của ông đều vắt vẻo một con rắn vàng, trên mỗi tay cũng cầm một
con.
Khoa
Phụ tuy thân hình to lớn nhưng di chuyển cực kỳ nhanh nhẹn, khi chạy thì nhẹ
nhàng như bay, có thể nói là trên đời chẳng có sinh vật nào chạy nhanh bằng ông
ta lúc đó. Chính vì thế, khi thấy vầng thái dương trôi qua trên bầu trời, Khoa
Phụ nảy sinh ý muốn chạy đua với Mặt Trời. Lại có truyền thuyết thì kể khác rằng
do Mặt Trời nóng quá, khiến vạn vật nóng bức, đất đai khô hạn, dân không chịu
được nên Khoa Phụ muốn đuổi theo bắt lấy Mặt Trời, buộc nó phải nghe theo lệnh
mình.
Thế
là Khoa Phụ đuổi theo hành trình của Mặt Trời từ Đông sang Tây. Hai bên đuổi bắt
nhau bất phân thắng bại. Đến cuối ngày, Khoa Phụ cũng đuổi kịp nhưng ông ta
không lường trước được sức nóng khủng khiếp của Mặt Trời, khiến tất cả nước
trong cơ thể đều bị bốc hơi. Khoa Phụ khát quá chạy một mạch đến bờ sông Hoàng
Hà – con sông lớn bậc nhất Trung Quốc, cúi mặt uống một phát cạn sông nhưng vẫn
không hết được cơn khát, ông ta lại tiếp tục chạy đến uống nước ở sông Vị Hà
(nhánh nhỏ của Hoàng Hà) nhưng cũng không hết khát. Khoa Phụ bèn chạy tiếp về
biển Hãn Hải ở phương Bắc, hi vọng tìm được nguồn nước đủ lớn để thỏa cơn khát
cháy cổ.
Tiếc
thay, không kịp đến được bờ biển thì Khoa Phụ đã kiệt sức do mất nước và chết
trên đường. Cây gậy chống đi đường của Khoa Phụ rơi xuống đất, mọc lên một khu
rừng đào quanh năm xanh mát, cho nhiều quả ngon giúp người đi đường ăn đỡ khát.
Bên cạnh rừng đào, người ta xây dựng một vương quốc gọi là Khoa Phụ (hay Bác Phụ)
để tưởng nhớ ông. Con dân nước này đều có thân hình to lớn và thân thiết với
loài rắn, người nào trên hai tay cũng cầm một con rắn vàng và một con rắn lục.
➖➖➖
Chương
18
Từ
cuối năm ngoái đến đầu năm nay, cô Ngọc chỉ những nẫu nà trong ruột. Nhất là
cái hôm cô ở chợ về nhác thấy Vân Hạc lù lù ngồi trong nhà học với một dáng bộ
thìu thịu, con ruồi đậu mép không buồn đuổi.
Bấy
giờ vào cuối tháng một, trời còn đương rét căm căm, thế mà cái khí phẫn uất ở
đâu nhập vào, khiến cô mồ hôi đổ ra, ướt đẫm cả mấy lần áo.
“Thế
là những sự mong mỏi của mình hơn một năm nay đổ cả xuống sông xuống biển”, cô
tự bảo cô như vậy.
Sau
khi đã cố nén dạ để chào chồng một cách vồn vã cô uể oải đi cất quang gánh vào
buồng và lủi thủi xuống bếp đặt ấm siêu nước. Vừa nhóm bếp cô vừa nghĩ quanh quẩn.
“Quái lạ anh chàng văn hay chữ tốt ai cũng phải khen, làm sao đi thi lại cứ hỏng
mãi? Hay là khi ở Hà Nội, anh ta bê tha với bọn nhà trò, không tưởng gì đến văn
bài, cho nên mới khổ như thế”.
Bếp
củi đã nỏ, cô lại đi lên buồng học với bộ tim gan vô cùng căm hờn. Lúc ấy bà đồ
cô Bích cùng đi vắng, ông đồ thì ở nhà trên, trong nhà khách chỉ có mình cô với
chàng. Muốn chọc tức chàng một hồi cho hả cơn giận, cô liền gượng cười và hỏi:
-
Thế đến hôm nào trường mới xướng danh?
Vân
Hạc ngồi trước mặt vợ, vừa xấu hổ, vừa buồn rầu, lại vừa thương hại chàng tưởng
nàng chưa biết mình hỏng, liền đáp bằng giọng thật thà:
-
Có lẽ xướng danh ngày hôm qua rồi?
Cô
vẫn cười:
-
Sao mình không ở mà nghe xướng danh lại về sớm thế? Nhường cho thiên hạ tất cả
rồi ư?
Bấy
giờ Vân Hạc mới biết là nàng mỉa mai, chàng chỉ chống tay lên má, nín lặng
không nói chi hết. Cô Ngọc cố trêu:
-
Thế khoa này có ai đỗ không?
Vân
Hạc như không buồn cất giọng:
-
Anh tú đỗ lại, anh hai cũng đỗ tú tài.
Thấy
chàng hiểu lầm câu hỏi, cô mới nhớ rằng vì mình giận chồng, thành ra vô ý,
không kịp hỏi thăm đến hai anh chồng, liền xoay ra giọng đứng đắn:
-
Khốn khổ. Một nhà đến ba người vào phúc hạch mà không ai đỗ cử nhân, đáng tức
biết chừng nào! Nhưng thôi, các anh ấy đỗ được một tí tú tài như thế cũng đỡ hổ
lều hổ chõng. Bây giờ gần tối mất rồi, sáng mai tôi phải về mừng các anh ấy chứ?
Vân
Hạc vẫn chẳng nói chẳng rằng. Cô liền đứng dậy súc ấm lau chén, xuống bếp xách
siêu nước lên, rẽ ràng chuyên nước đưa mời chàng uống. Cơn giận vẫn còn chưa hả,
cô lại nói nốt câu chuyện đương dở:
-
Mình ở Hà Nội về hay ở bên Đào Nguyên sang?
-
Tôi ở bên Đào Nguyên sang.
-
Mình về Đào Nguyên từ hôm nào?
-
Tôi về Đào Nguyên hôm qua. Vì thấy bác giáo Kinh Môn ở trong trường ra, nói là
tôi bị hỏng tuột, nên sáng hôm sau, tôi và các anh về ngay, chẳng thiết ở lại
xem bảng.
-
Xem bảng làm quái gì nữa? Tôi chắc khoa này cũng chẳng ai đỗ.
Vân
Hạc phát cáu:
-
Sao mình nói lạ như vậy? Cả khoa không có ai đỗ, thì người ta đặt ra thi cử làm
gì?
Cô
vẫn điềm nhiên:
-
Vẫn còn có người đỗ ư? Thế sao mọi ngày mình thường nói rằng: nếu mình không đỗ,
thiên hạ chẳng thằng nào đỗ?
Vân
Hạc phì cười không nói sao. Cô cầm chén tống sẻ nước vào chén của chàng:
-
Tôi cũng chắc là mình đỗ, có điều tôi vẫn chưa biết mình định cố đeo lều chõng
đến mấy chục năm nữa. Hay là mình muốn bắt chước cụ Lương Hiệu. Ừ khi tôi học
sách Tam tự kinh thấy nói cụ Lương Hiệu tám mươi hai tuổi mới đỗ kia mà. Mình mới
hai mươi hai tuổi, hãy còn trẻ chán, đỗ làm gì vội?
Vân
Hạc nghe mỗi câu nói của vợ, tưởng như mỗi mũi dao găm đâm vào tim phổi, mặt
chàng đã đỏ bừng bừng. Cô càng trêu thêm:
-
Này mình ạ? Tôi nghe ngày xưa có nàng gì đó, khi chồng thi hỏng, có đưa cho chồng
một bài tứ tuyệt hay lắm, tôi đã dịch ra tiếng nôm, thử đọc để mình nghe nhé?
Rồi
không đợi chàng trả lời, cô tiếp:
-
Bài ấy như vầy:
“Văn
quân trích trích hữu kỳ tài,
Hà
sự niên niên bị phóng hồi?
Như
kim thiếp diện tu lang diện
Quân
dục lai thời, đái dạ lai”.
Vân
Hạc gượng hỏi:
-
Mình dịch ra sao?
Cô
đáp:
-
Tôi dịch là:
“Nghe
anh chữ nghĩa cũng bề bề.
Sao
cứ năm năm bị đuổi về?
Rầy
nghĩ mặt chàng, ghê mặt thiếp:
Muốn
vào, anh hãy đợi canh khuya”.
Rồi
cô nói thêm:
-
Hai chữ “bề bề” tôi lấy ở câu phong dao “Văn chương chữ nghĩa bề bề” đấy mà. “Trích
trích hữu kỳ tài” dịch ra “chữ nghĩa bề bề” cũng được chứ gì. Phải không mình?
Vân
Hạc tuy biết là nàng chế mình, nhưng cũng thích rằng nàng có tài dịch thơ, liền
đáp:
-
Vâng, thưa bà được... Song tôi không bị ai ám. Mình phải biết thế.
Chàng
ngừng một lát rồi thêm:
-
Nhưng cũng chưa bằng những câu của ông nào đó dịch bài “lạc đệ” của Tầu.
Và
chàng hỏi:
-
Mình đã học đến hay chưa? Bài ấy thế này:
“Lạc
đệ viễn qui lai,
Thê
tử sắc bất hỷ,
Hoàng
khuyển độc hữu tình,
Đương
môn ngọa dao vỹ”
Rồi
chàng tiếp:
-
Không biết người nào đã dịch ra rằng:
“Thi
hỏng về đến nơi,
Vợ
con mặt không vui,
Chó
vàng riêng có tình,
Giữa
cửa nằm vẫy đuôi”.
Cô
Ngọc thấy chàng mắng mình bằng cách xa xôi, sợ chàng đâm khùng, liền tươi cười
pha trò:
-
Thế ra đối với các ông thi hỏng, vợ con không có tình bằng con chó nhỉ?
Bà
đồ cô Bích vừa về đến sân làm cho câu chuyện bị dứt. Cô Ngọc vội vàng đi ra nơi
khác, nhường chỗ cho mẹ nói chuyện với chồng. Nhưng mà bấy giờ bụng cô cũng vẫn
bồi hồi không nguôi, mỗi lúc trông thấy Vân Hạc, hình như cơn uất lại nghẽn lên
cổ, tuy đối với chàng, cô vẫn nồng nàn kính yêu và ở trước chàng cô vẫn giữ được
vẻ mặt vui vẻ.
Mãi
đến ba, bốn hôm sau, khi được nghe lỏm những câu Vân Hạc nói với ông đồ hoặc
các bạn hữu về cái duyên cớ làm cho chàng hỏng, cô mới băn khoăn hối hận và tự
trách mình đã oán trách chồng một cách vô cớ. Từ đó, cô không trách gì Vân Hạc,
nhưng lại trách cái số phận của mình: “Anh chàng thi cử vất vả thế này, có lẽ
cũng là tại mình. Bởi vì số mình không được làm bà, cho nên anh ta mới bị hỏng
mãi. Có đời nhà ai quyển thi “quán trường”, quan trường đã định lấy đỗ thủ
khoa, rút cục chỉ vì cái tội trẻ tuổi mà đến hỏng tuột? Nếu không vạ lây vì cái
số phận của mình, anh ta có đâu lại bị tai hại như thế”. Bởi cô nghĩ thế, nên
cô lại rất ái ngại cho chàng. Và cô thương chồng bao nhiêu, cô càng đau xót cho
cái số kiếp của cô bấy nhiêu.
Những
lúc đi chợ, nhiều khi cô đã cất lẻn đến hỏi những cô thầy bói, hay là những ông
thày số. Nhưng mỗi người nói mỗi khác, kẻ đoán cô lấy chồng làm nên, người bảo
cô chỉ có số thanh nhàn, chứ không có số phú quý. Chẳng biết tin ai là phải, cô
rất ghê sợ cho cái tương lai của mình. Nhiều lúc vô sự, nhớ đến cái ngày bị bệnh,
mê man, lảm nhảm xưng là bà thám bà bảng tự nhiên cô thấy hổ thẹn vô cùng, chỉ
muốn giấu cái mặt đi, không muốn trông thấy ai nữa. Vì cô không biết sau này đời
mình có được vậy không?
Bây
giờ thì không thế nữa. Những sự phiền uất của cô cũng giống như bát nước nóng,
mỗi ngày nó mỗi nguội dần. Bây giờ cô đã quên hẳn cái việc hỏng thi của chồng,
và chỉ tính ngày tính tháng, mong cho chóng đến tháng mười, để chồng lại đeo lều
chõng vào trường.
Là
vì tháng mười năm nay lại có thi hương, khoa này mới là chính khoa, còn khoa
năm ngoái là ân khoa.
Vì
cô sốt sắng với đường công danh của chồng như vậy cho nên nhiều lần Vân Hạc tỏ
ý chán sự thi cử, thì cô lại cố kiếm lời ngọt ngào khuyên can một cách thấm
thía, khiến cho lòng chàng cũng thêm phấn khởi và lại chịu khó để tâm về việc
sách đèn.
Đêm
nào cũng vậy, cô đều cố thức rất khuya, hoặc dệt vải, hoặc đánh ống, đánh suốt,
hay là khâu vá quần áo, bao giờ Vân Hạc nghỉ học, bấy giờ cô mới đi nằm.
Nhưng
dù thức khuya mặc lòng, những lúc Vân Hạc còn đương đọc sách, xem sách, cô
không bước chân vào trong buồng học, sợ làm ngăn trở việc học của chàng.
Sáng
nay, gà mới cất tiếng gáy thứ nhất, cả nhà còn đương yên giấc, cô đã lật đật trở
dậy. Vì phải quét dọn nhà cửa, và phải sắp sửa mâm bát làm cơm để đến trưa nay
thết đãi các ông trong hội Kính lạc.
Hồi
ấy trong nước đã yên, việc học đã dần dần trở lại cảnh thịnh vượng của đời Lê,
hầu khắp các tỉnh, trung châu, học trò đều có lập ra những hội văn học, người
ta gọi là văn phả. Kính lạc văn phả của vùng Vân Trình cũng như các văn phả của
hạt khác, chủ ý chỉ để làm nơi luyện tập văn chương của các học trò gần đây.
Văn phả ấy dựng lên đã mươi năm nay, người ta mời cụ Nghè Quỳnh Lâm và cụ cử
Mai Định làm trưởng. Thường lệ cứ đến năm nào có khoa thi, thì một tháng hai kỳ,
người trong văn phả họp lại một chỗ để cùng làm văn nhật khắc. Đầu bài do hai cụ
trưởng ra cho, văn làm xong rồi, cũng lại đưa nhờ hai cụ chấm giúp. Các cụ làm
trưởng văn phả, chỉ để khuyến lệ học trò, không có lợi lộc gì cả. Người trong
văn phả, ngoài việc mừng phúng các bạn đồng phả, quanh năm không phải đóng góp
đồng nào. Chỗ hội họp của văn phả cũng không nhất định, nay ở làng này, mai ở
làng khác, hoặc do một người trong hội mới về, hoặc do tổng lý hiếu học mời đến.
Làng nào có người mời, văn phả sẽ làm văn ở làng ấy. Theo lệ, những người sở tại
chỉ phải cung đốn trầu nước, điếu đóm mà thôi. Nhưng nếu ai có hảo tâm, thết
đãi chè rượu, văn phả cũng không từ chối.
Kỳ
này đến lượt Vân Hạc đón về Vân Trình. Mọi lần văn phả vẫn làm văn ở các đình
chùa, vì số anh em trong phả có đến ngoài bốn chục người, nhà tư không đủ chỗ
chứa. Lần này vì ông đồ Vân Trình muốn thết các bạn của rể một tiệc để mua vui
cho cảnh già, cho nên mới bảo Vân Hạc hẹn các anh em về nhà mình.
Từ
mấy hôm trước, ông đồ đã dặn cô Ngọc sắp sẵn các đồ làm rượu và bảo mấy người
con em trong làng phải đến phục dịch.
Lúc
ấy cô Ngọc rửa mặt chải đầu vừa xong, bọn người phục dịch cũng vừa kéo đến. Bấy
giờ cả nhà đã đều trở dậy. Theo lời dặn của ông đồ, cô liền sai bảo bọn đó, mỗi
người giúp đỡ mỗi việc: kẻ thì kê lại giường ghế trên nhà thờ, người thì quét sạch
nền nhà tiền tế và trải chiếu liền, chiếu lỉa la liệt xuống đó.
Các
việc lặt vặt đã yên, cô bảo họ vào chuồng bắt lợn làm thịt.
Mặt
trời lên khỏi mặt đất chừng hai con sào. Đốc Cung và độ hơn mươi người nữa lẻ tẻ
kéo tới. Thấy cô lật đật chạy ra chạy vào, Đốc Cung cười hỏi:
-
Chị giết lợn để thết chúng tôi đấy chắc?
Cô
lễ phép đáp:
-
Phải ạ. Thày em muốn mời các bác hôm nay ở đây xơi rượu.
Đốc
Cung vẫn cười:
-
Cái đó tôi biết rồi. Nhưng chị làm rượu bằng cả con lợn, thì cũng hoang quá.
Cô
vui vẻ nói:
-
Thưa bác có gì mà hoang? Thày em còn muốn mời thêm mấy ông trong họ và trong
làng nữa. “Khách ba chủ nhà bảy”, nếu không giết lợn thì không thể đủ.
Rồi
đó, Đốc Cung và những người kia cùng theo Vân Hạc lên nhà thờ sau khi đã chào
ông đồ ở nhà khách.
Chừng
nửa giờ nữa, anh em văn phả cùng đến đủ mặt. Cũng như bọn Bùi Đốc Cung, ai nấy
kéo lên nhà thờ và ngồi ngổn ngang ở khắp các chỗ. Bút mực lổng chổng bày ở
trên chiếu. Nón sơn nón dứa ngổn ngang úp lên mặt tường. Giữa những tiếng nói
huyên thiên, Nguyễn Khắc Mẫn xăm xăm tiến vào với mảnh giấy đầu bài mới lĩnh ở
nhà cụ nghè Quỳnh Lâm.
Kỳ
này tập theo thể lệ của kỳ đệ tam trong chương trình thi hội, cụ nghè ra cho ba
bài: một bài chiếu, một bài biểu, và một bài luận. Bài thứ nhất là:
“Nghĩ
Đường Thái Tôn quảng học xá tăng sinh viên chiếu”. Bài thứ hai là “Nghĩ Tống
Giao mong tứ cập đệ tạ ân biểu”. Còn bài thứ ba thì là: “Hán văn cung kiệm luận”.
Sau
khi coi các đầu bài, Đốc Cung bảo với Vân Hạc:
-
May được hai bài “tứ lục” đều ít cổ húy.
Khắc
Mẫn chưa làm tứ lục bao giờ, cho nên chưa hiểu lề lối, liền hỏi:
-
Cổ huý là thế nào?
Vân
Hạc đáp:
-
Tức là tên huý của đời cổ. Thí dụ như bài chiếu này, mình làm ra lời vua Thái
Tôn nhà Đường; thì kiêng chữ “uyên” chữ “dân”, vì “dân” là tên “Thái Tôn”, mà “uyên”
thì là tên bố “Thái Tôn”. Còn bài biểu phải làm ra lời Tống Giao, thì không được
dùng chữ “nghĩa” chữ “dận”. Vì Tống Giao là người đời Tống, mà chữ “dận”, chữ “nghĩa”
thì là tên Tống Thái Tổ và Tống Thái Tôn, không lẽ ông Trạng nhà Tống lại không
kiêng tên ông vua Tống hay sao? Đấy là tôi mới nói qua, thực ra còn phải kiêng
nhiều chữ nữa, ví như tên mẹ, tên bà các ông vua kia chẳng hạn.
Khắc
Mẫn lắc đầu:
-
Trời đất ơi! Kiêng một chữ huý đời nay chẳng đủ chết ư? Lại còn kiêng cả chữ
huý đời xưa! Vậy làm thế nào mà biết những của tội ấy?
Đốc
Cung đáp:
-
Vào trường mà quên thì đành chịu phép, nhưng đây là làm văn ở nhà quên đâu cứ
việc giở sách ra đấy, lo gì?
Câu
chuyện vừa hết, một lũ chừng bảy tám cậu học trò tí nhau vừa ở phía nhà khách
lau tau kéo lên.
Cậu
này xách ấm nước, cậu kia bưng chiếc điếu đàn, vài ba cậu khác lễ mễ ôm những
chồng bát hoa cúc.
Sau
một hồi “lạy các bác ạ” nhao nhao tự ngoài đầu thềm đưa vào, các cậu lần lượt đặt
hết đồ đạc vào các ghế chiếu.
Cuộc
hành văn bắt đầu.
Ba
gian nhà thờ và ba gian tiền tế đã thành một khu trường thi, nếu nó có thêm một
ít lều chõng.
Quang
cảnh lúc ấy mới là kỳ dị. Nhà dưới cũng như nhà trên, các ông học trò xúm lại từng
tốp, chỗ năm người, chỗ ba người, có chỗ đến sáu bảy người.
Ông
này rung đùi ngâm nga, ông kia viết lia viết lịa.
Có
ông khom khom cúi gù lưng tôm. Có ông úp ngực sàm sạp xuống chiếu. Bên cạnh mấy
ông nằm ngang, kế đến vài ông nằm dọc. Sau lưng những ông chổng đầu trở ra lại
có các ông quay đít trở vào. Họ bàn nhau, họ bẻ nhau, họ hút thuốc vặt, họ hỏi
nhau về những chỗ sách bị quên. Trong nhà, lúc thì im lặng như tờ, lúc lại ầm ầm
như chợ vỡ.
Mặt
trời từ từ lên khỏi ngọn bưởi, ánh nắng lui xuống nửa bức mành mành, tự nhiên
thấy mất Khắc Mẫn. Vân Hạc tưởng thầy trốn lên nhà học làm văn cho tĩnh cho nên
cũng không để ý. Nhưng khi chàng về nhà học thì cũng không thấy hỏi khắp mọi
người chẳng ai biết thầy đâu cả. Gần trưa, Vân Hạc đã viết xong một bài chiếu
và nửa bài biểu. Khắc Mẫn vẫn chưa về.
Cả
nhà đều lấy làm lạ. Người ta cho là Khắc Mẫn không quen nghề văn tứ lục nên thầy
bỏ không viết nữa. Thình lình có cậu học trò bé con ngơ ngác chạy vào nói nhỏ với
Vân Hạc:
-
Thưa cậu, ông Mẫn làm sao không biết, cháu thấy ông ấy vào trong chuồng tiêu từ
sáng đến giờ chưa ra.
Vân
Hạc phì cười:
-
Không lẽ nó định chiếm cái nhà xí của mình?
Rồi
chàng lật đật chạy ra sau vườn và gọi thật lớn:
-
Mẫn ơi, mày ngủ trong ấy đấy à?
Khắc
Mẫn huỳnh huỵch từ trong chuồng tiêu chui ra và khì khì cười không trả lời.
Thì
ra thầy đương cố nghĩ một câu tứ lục, mà không nghĩ ra, tâm thần mải miết đi
theo tư tưởng, khiến thầy không ngửi thấy mùi hôi nồng và quên rằng mình đương
ngồi ở trong nhà xí. Nếu như Vân Hạc không gọi, chưa biết thày sẽ ở đó đến bao
giờ.
Trở
về nhà thờ, Vân Hạc vừa cười vừa nói với đông cả đám:
-
Té ra ông ấy nghĩ văn ở chuồng tiêu. Thật không kém gì Âu Dương Tu.
Rồi
chàng tiếp:
-
Ở sách Quy điền lục, ông Âu Dương Tu có nói: bình sinh ông ấy làm văn, phần nhiều
ở ba chỗ “trên”, trên gối, trên chuồng xí và trên lưng ngựa. Vì những chỗ đó đều
rất có thể nảy ra tứ văn. Có lẽ ông Mẫn nhà mình cũng định đi tìm tứ văn như cụ
Âu Dương đây hẳn?
Khắc
Mẫn vừa vào. Cả đám đều phá lên cười. Đốc Cung nói thêm:
-
Thằng nào vô phúc hôm nay ngửi văn ông Nguyễn Khắc Mẫn?
Trời
đã đúng trưa, quyển của học trò đóng dấu nhật trung gần hết. Người nhà ông đồ
nghễu nghện bưng lên những mâm xôi chè đầy lù. Sau khi xin phép các ông học
trò, bọn đó lần lượt đặt hết các mâm vào khắp các dãy giường chiếu.
Ông
đồ với bộ khăn áo chỉnh tề, cung kính đi khắp các chiếu để mời anh em điểm tâm.
Rồi ông cũng ngồi luôn đó uống nước với họ.
Tiệc
nước cử hành trong khoảng nửa khắc, cuộc hành văn lại tiếp tục một cách sốt sắng.
Nhiều người đã xong bài chiếu, có người xong cả bài biểu, tiếng ngâm vang mấy
gian nhà, như muốn làm xô các lớp mái ngói.
Vân
Hạc như mọi khi làm văn rất nhanh, hôm nay vì phải luôn luôn chạy đi chạy lại,
cho nên cũng mất thì giờ. Mặt trời tà tà, chàng mới viết được đủ quyển, lại phải
trở về nhà khách xem sóc cỗ bàn.
Ngôi
chùa đầu làng văng vẳng điểm tiếng chuông chiều. Ngoài nẻo điếm tuần, dịp trống
thu không, mỗi lúc mỗi rút ngắn lại.
Bấy
giờ hơn ba phần tư học trò đã viết xong quyển. Mấy ông chưa xong cũng phải viết
quấy viết quá cho xong.
Trong
mấy bộ dạ dày đựng chữ, hình như mấy bát xôi chè đã cùng theo chữ mà hóa ra
văn, lắm ông đã thấy đói cuống đói cuồng. Những ông sỗ sàng càng thúc Vân Hạc
có cho uống rượu thì bảo bưng mâm mau mau.
Các
quyển đã được thu vào một đống, trường văn liền biến ra một đám khao. Dưới tiền
tế cũng như ở trên nhà thờ, những dãy mâm giàn thẳng tắp chạy suốt từ ngoài cửa
vào trong vách.
Một
lần nữa, ông đồ chỉnh tề khăn áo ân cần mời bọn hậu sinh.
Mấy
ông già trong họ ngoài làng của ông cũng bị mời cả lên đó.
Dưới
ánh sáng rực rỡ của hai dãy quang đèn, tiệc rượu răm rắp khai cuộc trong một cảnh
tượng lễ độ và thân mật sau khi mấy người hơn tuổi đã thay mặt anh em đi chào
cô Ngọc và bà đồ. Mặt trăng lên đến đỉnh đầu, cuộc rượu mới tan.
Bấy
giờ đã cuối tháng hai, tiết trời bắt đầu ấm áp.
Hết
thảy mấy chục học trò đều ngủ lại đó. Mờ sáng hôm sau, mọi người lẻ tẻ ra về,
trừ mấy ông bạn thân của Vân Hạc.
Trước
sự sốt sắng của nhà vợ, Vân Hạc vô cùng cảm động. Chàng tự thấy rằng nếu mình
không đỗ, thật là một kẻ đại tội với gia đình. Vì vậy chàng càng cố gắng, mỗi
tháng ngoài những kỳ tập ở trường cụ bảng Tiên Kiều, chàng không bỏ một kỳ văn
nào của anh em văn phả. Từ đấy đến ngày sắp thi, ròng rã trong bảy tám tháng,
trừ những lúc ăn lúc ngủ, tay chàng cơ hồ không rời quyển sách lúc nào.
Thấy
chàng mải miết về việc đèn sách, cô Ngọc sung sướng rất mực.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét