2022-10-01
Dế mèn
phiêu lưu ký (7, 8)
Tô
Hoài
~
Chương 7: Tâm sự bác Xiến Tóc chán
đời - cái cớ khiến cho Mèn lại lên đường
Chương 8: Mèn bị tù - Những sự xảy
ra cho Mèn khi phải giam trong hầm kín của lão chim Trả - Xa nhau lại gặp nhau
~
Chương 7: Tâm sự bác Xiến Tóc chán đời - cái cớ khiến
cho Mèn lại lên đường
Ròng
rã mấy mùa rồi, không nhớ mà cũng không nghe được một tin tức gì về Trũi. Càng
đi càng thăm thẳm, càng sốt ruột. Ðã qua nhiều miền khác nhau, đã hỏi thăm nhiều
dân cư dọc đường. Chẳng ai biết tông tích đoàn Châu Chấu Voi bí mật kia.
Lủi
thủ một mình, chán không! Nghĩ lại xưa kia, điếm cỏ cầu sương, vui buồn anh em
có nhau, gian nan biết mấy cũng vẫn vững lòng tin, mà lúc cùng nhau sung sướng
thì càng hể hả, nức lòng. Than ôi! Giờ một mình tôi lẽo đẽo đường dài, đơn thân
độc bóng. Có lúc nhớ lại cái lần cùng nhau trên chiếc bè sen nhật lênh đênh lạc
ra nước lớn, Trũi khẩn khoản đưa càng của mình cho tôi ăn; nước mắt tôi muốn ứa
ra. Thấm thoắt, lại đã hết một mùa đông. Những ngày xuân mới bắt đầu. Chim hót
ơi ới đầu cành. Ánh nắng lụa nõn nà phủ trên cây. Những vạt cỏ trở lại non
tươi, xanh mơn mởn khắp mặt đất, cỏ xuân nhấm ngọt như đường phèn.
Một
hôm tôi dừng chân bên dòng nước nhỏ. Bỗng nghe trên những cây dó đã nở hoa như
treo đèn thơm khắp cánh rừng trước mặt, có tiến ồn ào. Không phảit tiếng ong rạo
rực tìm hoa làm mật mà những tiếng nhịp nhàng khi xa khi gần, khi réo rắt như
ai đàn hát. Trèo lên tảng đá, nhìn sang bờ bên kia thì thấy trên một đám cỏ
non, có đàn các cô Bướm Vàng, Bướm Trắng, Bướm Hồng, Bướm Nhung đang nối cánh
nhau, nhảy thành vòng. Vừa nhảy vừa hát. Thì ra đấy là tiếng hát ca ngợi mùa
xuân.
Cảnh
hay như vẽ
Gió
hây hây
Ðào
mỉm miệng
Liễu
giương mày
Bướm
nhặng bay
Trong
bụi
Oanh
vàng ríu rít
Ðầu
nhà
Có
mấy anh chàng Ve Sầu, mặt mũi vằn vèo và sần sùi mà lại ăn mặc chải chuốt, đứng
nghẹo đầu cạnh các ả Bướm, đương giơ cái mõ dưới cánh lên kéo bài o o i i dài dằng
dặc, hoà nhịp với lời ca trong trẻo của các cô Bướm.
Chắc
bọn này đương tiệc múa hát mừng xuân mới. Ðầu mùa xuân, đâu đâu cũng tưng bừng
tết nhất. Lòng tôi bỗng vui lây. Tôi bèn leo lên cao để nghe tiếng hát cho được
thú vị hơn. Tôi trông thấy bên cạnh các ả Bướm và chàng Ve Sầu còn có những đàn
Bướm khác ở các bãi cỏ phía xa cũng đương múa hát. Tiếng hát mùa xuân trong như
nước chảy, ngân vào mãi rừng xanh.
Tôi
trông kỹ lại thấy ra đàn Bướm nhảy múa xung quanh một bác Xiến Tóc to gồ, cao
lêu đêu. Mỗi chân bác Xiến Tóc nắm một Bướm Trắng, sáu chân bác Xiến tóc nắm sắu
chị Bướm Trắng, tất cả Bướm Trắng cùng múa cánh lên như tung hoa. Lúc cái đầu kềnh
càng của bác Xiến Tóc ngả xuống, khiến cho chiếc đàn tự nhiên xưa nay bác vẫn
đeo trong cổ bỗng kêu lên kin kít, thì hai ả Bướm Trắng khác lại đến nghịch ngợm
leo lên vít khấc râu cứng quếu của bác. Họ nhảy và hát linh tinh vui nhộn như
trẻ nhỏ chơi.
Tôi
nghển xem bác Xiến Tóc ấy thế nào, già trẻ ra sao mà nghịch lối con nít thế.
Xưa nay, các tay Xiến Tóc vẫn được tiếng đạo mạo cơ mà. Nhìn kỹ... Tưởng ai!
Hoá ra cái bác Xiến Tóc năm xưa. Vẫn nét mặt nghiêm nghiêm và trầm tĩnh, vẫn
hai tảng răng đen sắc ghê gớm, xiến đứt cả tóc - vì thế mà bác được tên là Xiến
Tóc, và bác đã chỉ xiến một cách nhẹ nhàng mà hai sợi râu tốt đẹp trên đầu tôi
đã đứt béng từ ngày ấy.
Tôi
xin thưa cùng bạn đọc yêu quý của tôi rằng, từ ngày bị bác Xiến Tóc cắt mất
râu, tuy vì thế mà vẻ mặt tôi có già đi một tẹo, nhưng không, tôi chẳng mảy may
thù oán bác Xiến Tóc, mà tôi còn phục bác là người giỏi, bụng dạ rộng rãi, đường
đường một đấng anh hào côn quyền đủ sức, lược thao gồm tài, tôi đã học được ở
bác ấy nhiều điều lắm. Thế mà thật lạ lùng chẳng ngờ cái bác Xiến Tóc gai ngạnh,
khắc khổ, tư lự, mấy năm chả gặp, bây giờ hoá ra ngây ngô, nhí nhảnh nỡm đời,
đi rong chơi dông dài với lũ Ve Sầu và Bướm. Mà điệu bộ này thì họ tiệc tùng
thâu đêm suốt sáng đây. Tôi đã từng chơi những trò phí thì giờ này, tôi chẳng lạ!
Còn
đương phân vân, biết có nên sang ra mắt bác Xiến Tóc hay là lủi đi, thì bỗng cả
mấy ả Bướm cùng im bặt tiếng. Rồi các ả hốt hoảng chạy trốn hết vào nép im
trong bụi. Xiến Tóc lừ đừ ngẩng đầu lên, ề à hỏi:
-
Ai đâu mà các em sợ thế?
Xiến
Tóc cũng đảo đầu tìm kiếm, ngơ ngác. Chợt trông thấy tôi, bác ta định thần nhìn
kỹ rồi reo lên:
-
A Dế Mèn! Ði đâu thế? Xuống đây đã nào! Có phải Dế Mèn đấy không?
Dáng
chơi bời, thức đêm nhiều, mắt Xiến Tóc có phần toét nhoèn, nhìn mãi vẫn chưa nhận
rõ hẳn ra tôi. Tôi liền bay sang. Bấy giờ bọn Bướm núp trong bờ cỏ mới ngấp
nghé mon men ra gần. Lúc nãy, đương hát, thoáng thấy tôi lạ, họ sợ xấu hổ, bỏ
chạy. Bây giờ biết quen, lại sấn đến và quá bạo, cứ khoác vai tôi ra nhảy múa.
Nhưng tôi từ chối khéo. Cả bọn họ lại chạy ra bãi nô giỡn, những chàng Ve Sầu lại
lên tiếng nhạc mõ o o i i rầu rĩ nhức tai.
Còn
lại hai chúng tôi, Xiến Tóc nhìn tôi, hỏi đùa:
-
Thế ra bộ râu chú mình không mọc nữa nhỉ?
Tôi
lắc đầu mỉm cười. Tôi hỏi thăm Xiến Tóc độ rày ra sao mà coi bộ rỗi rãi nhàn hạ
thế. Bác Xiến Tóc thở dài, đàn răng đàn cổ lên điệu xiến ken két, rồi im, ra
chiều tư lự. Một lát sau bác cất tiếng buồn buồn kể rằng:
-
Có phải anh trông tôi bây giờ khác trước nhiều lắm không. Chính tôi, tôi cũng tự
cảm thấy khác lắm. Tôi cũng biết tôi đổ đốn đâm ra chơi bời dông dài, thế mà
tôi buồn bã không muốn xoay chuyển nữa. Cuộc đời éo le đã khiến tôi chán lắm,
chán quá. Sau ngày gặp anh, tôi đương rất khoái vì ngày ấy tôi đã làm được nhiều
việc ngẫm nghĩ thấy có ích. Một lần, tôi đến xóm kia. Không dè ở đấy đương có
cuộc săn đuổi do bọn trẻ nghịch ngợm khởi xướng, cũng như cái bọn trẻ đã bắt
anh để đem đi đánh chọi và làm giải thưởng bóng đá ấy. Ðó là mấy cậu bé trong
thành phố về quê mùa hè, chúng đi rình bắt Xiến Tóc về chơi. Chẳng may, tôi bị
bắt một buổi sớm trên một cành dướng.
Bọn
trẻ đem tôi về thành phố. Ðường xa những bao nhiêu ngày, tôi không biết. Vì họ
nhốt tôi vào một cái hộp kín bưng cùng với năm bạn xấu số nữa và cứ nhốt mãi
như thế. Có bạn tôi chết vì ngạt thở. Vốn quen ăn vỏ cây, giờ bọn trẻ ngớ ngẩn
không biết gì về thức ăn Xiến Tóc, cứ nhét đầy cỏ, có khi cả cục cơm, miếng
xương, tôi không nuốt được. Tôi nhịn ăn hàng tháng trời mà họ cũng vô tình,
không biết nốt.
Rồi
may quá, trốn thoát. Bởi vì, tôi để ý xem xét biết cái giam tôi bằng giấy bìa cứng.
Từ hôm ấy tôi cứ nhả nước bọt vào một chỗ rồi lấy chân bới, cái tường giấy mủn
dần. Một hôm tôi cố lấy tất cả bao nhiêu hơi sức còn lại, húc một cái, thế là cả
người tôi bật lọt ra ngoài hộp. Tôi giương cánh, bay thẳng. Phúc đức nhà tôi vẫn
còn nguyên hai chiếc cánh lót lụa. Các bạn khác đều bị lũ trẻ nghịch ngợm bứt cụt
hai cánh lụa mỏng ở trong thành thử, dang hai cánh tàu bay vỏ gỗ ở ngoài ra,
không thể cất mình lên được, không bay được. Rồi các bạn ấy bò trốn đi đâu tôi
không biết.
"Tôi
bay bất kể ngày đêm. Ròng rã lâu ngày lắm mới vượt ra khỏi được cái thành phố
xù xì u ám gớm ghiếc ấy. Khi ra đến vùng có vườn bãi xanh tươi, thì, vì lao lực
quá không cố hơn được nữa, tôi ốm mất mấy tháng. Không hiểu sao lúc ốm khỏi thì
tính nết thay đổi dần, tôi sinh chán đời, không thiết gì nữa. Có lẽ vì đã có
phen quá sợ, có lẽ vì buồn. Thôi tôi mặc kệ cả. Tôi tìm về nơi am thanh cảnh vắng
này. Tôi bỏ ăn vỏ cây, tập ăn cỏ thanh đạm cho dễ kiếm và tự coi như mình đã đi
tu. Ngày tháng tiêu dao, bạn cùng mây nước, không gặp ai, không quản ai, chỉ
còn biết rong chơi với bốn mùa cảnh, bốn mùa tình, bỏ thói quen soi gương ngắm
mặt, cố quên biết trời đất ngoài kia bây giờ thay đổi vần xoay thế nào... Từ bấy
tới nay..."
Im
lặng. Nghe mà não lòng! Cái lão chán đời này bị một vố đau điếng thì kệch chứ
gì. Có thế mà không cắt nghĩa được tại sao, rõ chán! Rồi Xiến Tóc gật gù hỏi
tôi, vẫn giọng rầu rĩ:
-
Còn anh, chẳng hay bấy lâu nay anh mưa gió đường đời ra sao?
Tôi
cũng kể gót đầu cho Xiến Tóc nghe. Chốc chốc, bác chán đời lại điểm vào câu
chuyện một tiếng thở dài nghe đến phát phiền. Tới đoạn tôi bỏ khe dứa trú đông
đi dò la tin tức Châu Chấu Voi để tìm Trũi thì Xiến Tóc nói:
-
Châu Chấu Voi? Châu Chấu Voi! Nhớ ra rồi. ờ ờ... Cách đây ít lâu. Châu Chấu Voi
đi qua có tạt vào đây. Ừ thấy có cả một gã Dế Trũi...
-
Thế a?
-
Ừ Dế Trũi
-
Em tôi, em tôi rồi! Thế bây giờ cả bọn... Khổ em tôi bị bắt...
-
Không, Trũi có phải tù đâu. Nó đi đứng cũng như Châu Chấu Voi thôi. Phải rồi,
không...
-
Không thế nào?
-
Không, không... Chà Chà, ít lâu nay tôi hay quên quá. Phải, tôi nhớ ra rồi. Cái
hôm Châu Chấu Voi và Trũi qua đây, mục đích họ muốn rủ tôi cùng đi làm một công
việc. Chao ôi! Cái công việc tưởng tượng là sẽ đi khắp quê hương các loài trên
trái đất. Nghe khó lắm!
Tôi
kêu lên:
-
Hay lắm!
Xiến
Tóc thong thả nói tiếp:
-
Tôi xua tay, lắc đầu và bảo với những kẻ viển vông ấy rằng "tôi xin thôi
nghe việc đó". Tôi đã sợ đời rồi. Tôi bây giờ đội mũ ni. Sự đời đã bỏ nó
ra ngoài hai cái râu. Sự đời đã tắt lửa lòng, còn chen vào chốn bụi hồng làm
chi.
Tôi
sốt ruột:
-
Thế bây giờ họ đâu?
-
Không rủ được tôi, họ đi.
-
Ði đâu?
-
Họ có hẹn đi một vòng cánh đồng bên kia rồi họ sẽ trở lại, qua đây sang phía
tây. Anh cứ ở đây mà đợi, chắc sẽ gặp. Trũi không hề gì đâu. Nhưng anh cũng
thích bay nhảy thế thì anh thật là ngông cuồng. Chao ôi!
Bác
Xiến Tóc không biết rằng công việc Châu Chấu Voi đương mưu đồ cũng chính là điều
tôi mơ tưởng. Từ khi mẹ tôi căn dặn lúc ra đi, dần dà tôi đã hiểu rộng ra ý
nghĩa cuộc sống. Tôi và Trũi cũng định đi khắp thế gian này. Vậy nên, dù chỉ
nghe mang máng, tôi đã cảm tình ngay với Châu Chấu Voi. Và tôi ân hận quá chừng
về cuộc đánh nhau dạo trước. Cũng lại chỉ vì tôi nóng nảy và nông nổi nên mới
nên nỗi thế. Nếu tôi chịu khó thăm hỏi trước thì đã chẳng sao. Tuy vậy, tôi
cũng đỡ phần áy náy vì chắc Trũi được vô sự.
Ở
lại đây đợi hay đi? Tôi phân vân. Tôi có tranh luận việc đời với bác Xiến Tóc mấy
lần nữa. Nhưng óc bác Xiến Tóc dễ đã mủn ra thành miếng bột, không gợn một nếp
nghĩ. Tuy nhiên nếu ở lại đây mà gặp được Trũi như Xiến Tóc mách thì tôi cũng
chịu khó đợi. Thế là tôi dừng chân và nương náu trong cái lều cỏ của ẩn sĩ Xiến
Tóc vừa chán đời vừa đá lẩm cẩm. Ngày ngày bên tôi vo ve lèo nhèo những cuộc ca
hát vẩn vơ của các nàng Bướm và chàng Ve Sầu. Nghe mãi, và chỉ nghe đàn hát và
chơi không thì cũng chối tai. Ở đây, không một cái gì đáng gọi là công việc cả.
Nói tóm lại, những ngày trú chân chỗ này tôi thấy cảnh sống xung quanh không
khác thủa còn bé tỉ ti khi tôi mới được mẹ cho ra ở riêng, cứ tối đến, mê mải
đi nhảy múa hát hỏng với bè bạn, ngày tháng ăn chơi lêu lổng.
Chơi
không thì bao giờ cũng chóng chán - tất nhiên. Tôi không ưa bọn này. Huống chi,
tôi là kẻ hay bay nhảy, lại càng lấy việc phải dừng chân là khó chịu. Dần dà,
tôi thấy thì giờ tôi với họ thậm vô tích sự. Bướm và Ve Sầu là lũ ăn hại, trốn
việc. Bác Xiến Tóc đã từ lâu sinh mất nết, đâm lười, ăn hại nốt. Nếu không mong
chút hy vọng ở lại có thể gặp Trũi thì chắc tôi đã cuốn gói đi rồi. Nhưng ngày
ngày, nếu đời sống biếng nhác xung quanh càng khiến tôi bực dọc thì ý nghĩ về
việc của Châu Chấu Voi định đi khắp nơi để kết giao với người tốt càng nung nấu,
thấm thía trong tôi, tưởng tượng ra tôi sắo được đi cùng đoàn bè bạn có chí lớn
ấy. Ngày mai, ngày kia hay chốc nữa? Mỗi buổi sáng, bừng mắt lại thấy bồn chồn
và tha thiết muốn đi.
Chẳng
còn mấy ngày nữa thì mùa xuân đã hết. Rồi mùa hạ qua đi, bây giờ hoa sen trong
đầm nước cũng tàn rồi. Lá xanh bắt đầu úa đỏ. Trời đã ngả sang mùa thu. Buổi sớm
ấy, các ả Bướm rủ tôi vào rừng dự cuộc múa hát thi. Tôi lắc đầu từ chối rồi một
mình lững thững dạo ra bờ suối, đứng ngẩng trông chờ. Lòng hiu hiu nhớ Trũi và
bâng khuâng mong ước xa xôi. Bỗng đằng phương tây tràn đến những tiếng reo à à.
Một đàn ong bay ào đến đậu trên những bụi trúc và những cây cối xay nở hoa vàng
choé. Ði kiếm ăn về, nghỉ chân đấy, ong nào cũng nặng phấn và đầy những tiếng
vo ve chuyện vui, những bài hát hùng tráng thúc giục của ngày đường. Không khí
yên tĩnh nơi quạnh vắng, bỗng nhộn nhịp hẳn lên.
Nghỉ
một lát, đàn ong lại bay vù. Tấm lòng náo nức của tôi nhộn nhịp cũng như bay
theo. Tôi ngơ ngẩn nhìn. Ðàn ong đó hẳn vừa qua một quãng đường dài. Họ đi xây
dựng đời sống, họ đổi chỗ ở. Phải sống ở đời có biết đi đây đi đó, biết làm việc
thì mới là đáng sống. Tôi bồi hồi, khao khát. Những tiếng: giang hồ hoạt động,
đi hết anh em trong thiên hạ, đến nhảy múa trong óc tôi. Chân tôi ngứa ngáy, giậm
giật. Lại đi, lại đi thôi! Tiếng gọi tôi lên đường mà đàn ong vừa thổi kèn vừa
bay tung trời kia đương vang vang trước mắt tôi. Vả chăng, tôi cũng đã chán cảnh,
ngấy tình ở đây lắm.
Tôi
còn đương suy tính, lưỡng lự khi bước qua rừng thưa. Cạnh bụi trúc, tôi thấy
bác Xiến Tóc gật gù trầm ngâm. Bác ta vốn lực lưỡng, vai rộng vuông vắn, rất
khoẻ mà nay lúc nào cũng ủ dột, trông thật không khớp với dáng vốn nhanh nhẹn,
thành thử nom bác ta đâm ra vẻ buồn cười. Bác ta ngước mắt nhìn vơ vẩn rồi gật
gù cất giọng vịt đực ngâm ư ử?
...Chi
bằng
đến
thẳng
giậu
cúc thơm
Ngồi
khểnh
vỗ
đàn
gảy
một khúc
Cha
mẹ trời đất! Những nghe đã phát ngán. Hai cảnh nối nhau vừa bày ra trước mắt
tôi: đàn ong mải mê rầm rộ; một bác Xiến Tóc to xác, quá lười cứ ra ngẩn vào
ngơ. Tôi vốn ít mơ mộng, không thích lối sống phất phơ. Càng thêm ngấy và bực.
Tôi
quyết bỏ các bọn vô tích sự này và lại ra đi ngay hôm ấy. Không từ biệt ai,
không ai trông thấy, tôi cứ thế đi. Ði mươi hôm thì đến chân một con đê. Dốc đê
cao, leo mãi mới tới được mặt đê. Ðứng nhìn ra sông thấy làn nước đỏ ngòm băng
băng chảy. Lắng nghe có tiếng hét "quých quých!" dữ dội ngay trên đầu.
Ngẩng đầu thì thấy một lão chim Trả loắt choắt mà rất diện vừa bay tới. Ôi
chao, lão ta làm bộ điệu mới bảnh bao và oai vệ làm sao!
Tên
lão là Trả. Có lẽ vì lão chỉ ăn cá - chả cá và gỏi cá! Mỗi khi định bắt một con
cá, lão vỗ cánh đứng ngắm nghía trên không rồi thình lình đâm bổ xuống mặt nước,
túm cá lên. Vì cách câu cá đặc biệt ấy, lão còn có biệt hiệu là tiên sinh Bói
Cá. Tôi trông lão này có nhẽ cũng nhiều tuổi, người đã hom hem quắt lại rồi.
Song lão Bói Cá xưa nay nổi tiếng là già mà hay làm đỏm trái mùa. Ðã hóp má rồi
lại hay tỏ vẻ hơ hớ trai tơ. Lão sắm đâu được bộ cánh màu sặc sỡ không hợp tí
nào với bộ mặt âm thầm của lão. Bụng trắng, lưng xanh thắt đáy, đôi cánh nuột
nà biếc tím. Chân lão đi đôi hia đỏ hắt. Lão sẽ đôi chút đẹp trai đấy nếu lão
có cái mỏ vừa phải. Nhưng, cơ khổ, lão phải vác giữa mặt một cặp mỏ kếch xù mà
đen quá, dài quá, xấu quá. Mỏ lão dài hơn người lão và to đến nỗi trông giống
như có ai nghịch ác đem đóng cả một chiếc cọc tre gộc vào giữa mặt lão. Cả
ngày, lão nhăn nhó méo mặt vác mỏ chẳng khác gì anh cu Sên suốt đời phải đội
toà đình đá nặng trên lưng vậy.
Tôi
ngắm cái mỏ lão chim Trả mà cười thầm là đáng đời cái anh già hay làm điệu mà
không thể cất cái mỏ xấu xí kia đi đâu. Nhưng, quả báo, cái mỏ to tướng tôi
đương chế nhạo thầm đó sắp sửa đến hỏi tội tôi đây.
Nguyên
do thế này:
Lão
chim Trả đương bay, bỗng sà xuống đậu trên tấm phên nứa cửa cống trước mặt tôi.
Cái phên lung lay, lão cứ ngất ngưởng đứng lấy đà nhưng vẫn không quên chăm chú
trông ra mặt nước rình cá. Gật gù một lát lão chợt trông thấy tôi nhô lên trên
đê.
-
Ðây rồi! Ðây rồi!
Như
gặp lại bạn chí thân! (Rồi tôi mới biết lão kêu lên thế vì đấy là lão vừa nảy một
ý rất hay của lão).
Hai
tròng mắt lão đỏ lòm lộn lên rất nhanh. Lão bay chéo thẳng xuống đầu tôi. Lão
giương cặp mỏ to tướng ra. Tôi trông vào thấy cả cái lưỡi lão nhọn hoắt và thắm
như máu. Tôi hơi luống cuống. Nhưng có điều danh dự đáng tự hào này, xin thưa
cùng bạn đọc yêu quý: tôi thường đắc ý rằng đã từ lâu, dù trong cơn nguy hiểm,
dù chết ngay tôi cũng không hề một lần nào nữa hạ mình lạy lục ai, như hồi xưa
tôi có lần lạy bác Xiến Tóc khi bị Xiến Tóc doạ nạt.
Bây
giờ, trước mặt lão chim Trả, tôi loay hoay tìm cách chống đỡ. Lão chim Trả đã
có tiếng là cục tính, khi lão phát cáu hoặc khi ham muốn điều gì. Nhưng tôi nhất
quyết không sợ. Tôi lấy hết gân, bạnh người, giương cánh, giang chân khuỳnh
càng ra. Cả thân mình tôi nở bung, như con cua càng.
Thấy
chưa chi tôi đã tỏ ý kháng cự, lão chim Trả gầm lên:
-
Hè...hè...Oắt! Oắt!... Giỏi! Giỏi!
Lão
bổ thượng xuống một mỏ. Chưa bao giờ tôi bị một đòn khiếp thế. Nhưng đầu tôi vốn
đội mũ trụ, nổi tảng, cứng lắm. Tôi chỉ đau mà không xây xát tí gì. Thấy không
đánh ngã nổi tôi, đáng lẽ phải cáu hơn, nhưng lão chợt nhớ lại cái ý hay mà lão
đã kêu "đây rồi, đây rồi" lúc nãy. Lão bèn quắp tôi, bay bổng lên.
Chao chao. Gió rú trên cao đến lộng óc. Từ lọt lòng mẹ chưa bao giờ tôi bị tung
lên tận lưng trời như thế!
➖➖➖
Chương 8: Mèn bị tù - Những sự xảy ra cho Mèn khi phải
giam trong hầm kín của lão chim Trả - Xa nhau lại gặp nhau
Nhưng
cuộc đời Mèn tôi chưa phải đến đây đã bị phết cái dấu chấm sau cùng. Tôi còn sống.
Vẫn sống. Để hôm nay ngồi kỳ khu chép những ngày giang hồ lên trang giấy trắng
cho bạn đọc yêu quý cùng nếm với Mèn tôi chút phong vị và ý nghĩa một quãng đời
luân lạc.
Thế
nghĩa là, tôi không chết. Tôi nằm bẹp dí trong cặp mỏ lão chim Trả và bây giờ
lão đương bay là là xuống sát mặt dòng sông phù sa đỏ ối. Qua sông rồi, lão đỗ
vào một bãi dâu xanh lưa thưa. Lão vừa buông tôi xuống đất, tôi đã giơ ngay
chân và càng lên gai ngạnh thủ thế và nghênh địch, như lúc nãy.
Lão
ngoác mỏ ra cười khà khà rồi nói:
-
A i chà! Diễu võ giương oai cứng đấy! Nhưng thôi, hãy cụp chân xuống mà nghe
đây. Tớ vừa tậu được ngôi nhà mới, tớ đương cần quản gia. Đằng ấy về làm quản
gia cho biệt thự của tớ. Bằng lòng không?
Cái
ý hay đã khiến lúc nãy lão chim Trả kêu lên: "đây rồi, đây rồi" là thế
đấy. Tôi lắc đầu cãi rằng tôi đương tự do đi trên đường cái, không ai có quyền
lấy mất chân tay của tôi, nếu ông có lòng tốt và biết ân hận về sự tình ức hiếp
nhau vừa rồi thì chỉ việc ông kệ tôi đứng đây rồi tôi đi đâu mặc tôi, đừng thở
ra câu nói trái tai nào nữa.
Nhưng
lão chim Trả nheo mắt lại bảo:
-
Này này, chớ lảm nhảm lý sự vô nghĩa. Hỏi chơi thế thôi chứ dù chú mình không
muốn, ta bắt chú mình phải muốn.
Tôi
cứ thản nhiên, đến khi lão hỏi dồn thì tôi chỉ lắc đầu. Lão liền hé mỏ quắp tôi
bay đến cái nhà mới của lão. Cái nhà mới, hay nói cho oai, biệt thự của lão
chim Trả là một cái hang sâu hỏm vào giữa một mô đất cát trên bờ sông. Cũng
không phải tự tay lão đào cái hang này. Lão không biết đào mà lão chỉ có tài
láu vặt. Nghĩa là cái tài đi cướp nhà của chú chuột.
Chim
Trả chuyên tìm hang sẵn. Được cái bỏ hoang thì tốt, nếu không lão rình chú Chuột
đi vắng lâu ngày, lão vào giả vờ đào bới khoét tí ti trong ngoài, đến khi chủ
hang về, lão chim Trả sinh sự tống ra ngoài, cứ nói xưng xưng là vào mà xem!
Vào mà xem! Có phải nhà mày đây không. Chú Chuột nọ bực mình, nhưng cũng ngại
lôi thôi, thế là bỏ quách. Tuy vậy, không phải chú chuột nào cũng dễ tính. Có
chú Chuột còn đến cãi nhau mãi. Thế ra bây giờ lão chim Trả nghĩ cách bắt mình
giữ hang và có thể còn cãi nhau hộ đây.
Lâu
nay, lão đã có ý tìm một quản gia như thế. Trong cùng hang, lão đã đào thêm một
ngách nhỏ vừa cái lỗ con con. Lão đẩy tôi vào đó. Tôi lùi ra, đạp hậu vào mặt
lão. Nhưng chỉ đạp trúng cái mỏ cứng như đá, chẳng ăn thua gì. Lão bèn đưa cả cặp
mỏ to tướng, hẩy phắt tôi vào. Tôi ngã chúi đầu vào tường cát. Lập tức lão nhặt
viên gạch, chặn kín cửa ngách. Tôi mất đường ra. Trong ngách tối như hũ nút.
Cái khe hở tí ti không đủ thò một chân ra. Lão chim Trả đứng ngoài truyền lệnh
vào cho tôi:
-
Việc của đằng ấy từ nay là chung thân coi nhà. Làm khá thì được thưởng. Làm
không nên thì được ăn đòn. Bây giờ dỏng tai nghe tớ dạy cách coi nhà: muốn
không cho bọn chuột bọ rắn rết nào vào trộm cắp được thì cứ dóng cổ lên hò hét
tất cả những lúc tớ vắng nhà. Đứa nào đi ngoài cửa sẽ hiểu rằng trong hang có
chủ, không dám vào. Có thế thôi! Mỗi bữa tớ sẽ đem về các thức cỏ ngon cho mà
ăn. Sướng nhé!
Tôi
không hát, không hét, không kêu la như lão muốn. Lão rình mấy lần, không thấy
tôi động tĩnh. Thấy thế, lão không đem cỏ về cho tôi ăn. Đói quá. Sau tôi nghĩ
thế là dại, chẳng nhẽ chịu chết ở đây, ta phải gắng ăn để sống, để có sức tìm
cách thoát khỏi hang hùm, thế mới là thượng sách.
Từ
hôm ấy, cả ngày tôi hò hét trong hang, nhiêu lúc lão có ở nhà tôi cũng kêu ầm
ĩ, lão không ngủ được phải quát lên, tôi mới thôi. Ngày cũng như đêm, tôi quanh
quẩn trong cái hang kín. Ngày cũng như đêm, tôi hát rống cò ke chẳng ra đâu vào
đâu, như đứa dở hơi. Để bọn đi ngoài kia biết hang có chủ, khỏi vào nhà nhầm. Để
cậu Chuột chủ cũ có về tưởng trong hang lắm thứ chen chúc, nào Dế nào chim Trả
lộn xộn, cũng sợ lôi thôi, không vào đòi nữa.
Lão
chim Trả đi vắng cả ngày, không mấy khi có nhà. Ban đêm, lão ta ngủ, tôi nghỉ
hò la hát hỏng thì tôi lại cặm cụi bí mật đào ngách. Nhưng trong cái tường bịt
trước mặt tôi, lão ta đã tha đâu về được nhiều hòn sỏi lèn vào đấy, sức móng
chân tôi không khoét nổi. Mà đằng sau lưng thì chịu. Tuy vậy, tôi vẫn chịu đựng
và nuôi hy vọng. Mặc dầu không biết sẽ ra sao, nhưng vẫn tin và chờ. Lòng tin
và hy vọng ở với tôi, an ủi tôi, xua đuổi cái buồn nản trong tôi đi.
Trong
cái âm thầm bóng tối ghê gớm ấy, trò hò hát vẫn là công việc bó buộc hàng ngày.
Nào ai cần đâu tôi hát hay hát dở, đây lão ta chỉ bắt tôi mở miệng, rồi tôi kêu
hay hát, hay quát tháo cũng được, miễn tiếng động ấy chứng tỏ trong hang có chủ.
Tôi nghêu ngao hát, tôi gáy. Để tìm cách sống, để nghĩ kế. Tôi cũng tưởng tượng
biết đâu mình kêu như thế, ai tò mò vào, rõ nỗi oái oăm mình bị cầm tù, có thể
tìm cách cứu được mình chăng. Tôi nghĩ kế, tôi nghĩ...
Bởi
vậy, tôi không hát những câu nhảm nhí nữa. Tôi đặt ra các câu hát có hồn. Tôi
hát cho tôi nghe. Những bài hát mới, những bài hát ai oán thân phận, những bài
hát tâm sự, những bài hát mang hy vọng xa.
Ai
làm chi nổi
Có
dại mới nên khôn
Nước
nước với non non
Năm
canh hồn ngơ ngác.
Ngày
kia như lệ thường, lão chim Trả bay ra sông kiếm ăn từ sáng sớm. Tôi bâng
khuâng hát đi hát lại:
...Nước
nước với non non
Năm
canh hồn ngơ ngác.
Mình
lại nghe tiếng hát của mình chìm vào bóng tối, lòng tôi lìm lịm thấm thía và cứ
hát mãi.
Tôi
hát lại:
Ai
làm chi nổi
Có
dại mới nên khôn...
Vừa
dứt tiếng, nghe ngoài cửa có tiếng hỏi vọng vào:
-
Tiếng ai như tiếng anh Mèn phải không?
Tôi
vội kêu:
-
Ai đó? Tôi đây! Tôi đây! Mèn đây!
Ở
ngoài dội vào tiếng kêu to hơn:
-
Ô i! ối! Anh Mèn ư! Trũi đây! Em Trũi đây. Anh đâu? Anh đâu? Anh ở chỗ nào?
Tôi
bàng hoàng cả người. Đúng tiếng Trũi. Dù xa nhau tôi vẫn không quên cái giọng ồ
ồ của nó. Cũng như Trũi, bấy lâu dù sơn khê cách trở, Trũi vẫn nhớ ngay tiếng
tôi.
Tôi
bảo vọng ra:
-
Anh ở đây. Anh phải tù trong đáy hang này. Có ai đương đi với em ngoài đó
không?
-
Thưa anh, các bác Châu Chấu Voi với bác...Em vào cứu anh ngay tức khắc...
Tôi
nói lớn:
-
Ấy chớ! Cứu anh thì đã đành, nhưng đừng vào bây giờ. Tường nhà tù chắc chắn lắm,
mà sắp đến buổi lão chim Trả đi kiếm ăn về rồi. Em chịu khó ra ngoài đợi, sáng
mai, lúc lão ta trở dậy lại bay đi, lão đi rồi, ta vào thì chắc chắn hơn.
Lát
sau, quả nhiên lão chim Trả từ ngoài bờ sông bay về, chui tọt vào hang. Anh em
ngoài ấy hẳn đã núp đâu quanh, chắc là lão ta không biết. Lão ngồi tựa cái tường
đất ngay ngoài buồn giam tôi, lão ngủ. Bấy giờ đã tối. Tôi chỉ nhấm được tí cỏ,
rồi cả đêm lòng rộn rực. Bao nhiêu câu hỏi rối ren trong trí. Làm sao Trũi lần
mò qua đây? Ngày mai mình thoát chốn này ư? Ôi chao, lại sắp thấy trời, trời
xanh, lại thấy ánh sáng, ánh sáng vàng những nắng. Anh em lại gặp nhau. Sao cái
đêm chờ đợi lê thê, dài đến là dài.
Sáng
hôm sau, lão chim Trả bay đi kiếm ăn từ lúc sương chưa tan. Vào lúc ấy dễ đón
cá đi ăn rạng đông. Tin chắc lão không trở lại bất chợt, lão tính cẩn thận
không bỏ quên cái gì bao giờ.
Lão
chim Trả vừa ra khỏi, tôi gọi ầm:
-
Trũi ơi! Trũi đâu?
Tiếng
đáp lại ngay: "Dạ..dạ...Em đây..." Hình như các bạn đã nấp quanh đấy
cả đêm qua. Lập tức, mấy cái bóng lổn ngổm bò vào hang, hì hục đào bới cậy
khoét moi đất ra. Lão chim Trả lèn gạch đá cẩn thận lắm, phải bới một lúc mới hở
tẹo lỗ. Ở trong, tôi nghe các cu cậu thở phì phò.
Nhưng
cái lỗ tí tẹo cứ to dần. Tôi thò được đầu... Tôi nhoi được vai...Rồi tôi quờ cả
hai chân trước ra. Đến đấy tôi giở món sở trường đạp hậu phanh phách một cái a
lê hấp! Người tôi bật như bay bổng ra phía cửa hang. Các bạn cùng reo lên. Chợt
nhớ đến lão chim Trả, tôi bảo các bạn chạy đi, phải chạy ngay. Được một quãng,
đến bụi thài lài kín đáo, chúng tôi đứng lại. Đã lâu bây giờ mới được chuyến chạy
và bay, đạp thoả hai cái càng. Sau tôi, cả lũ theo, tôi chạy nhanh quá.
Cả
lũ, có Trũi và các bạn Châu Chấu Voi. Nhưng cái anh chạy nhanh đầu tiên không
phải Trũi mà là...bác Xiến Tóc. Ẩn sĩ Xiến Tóc ở lều cỏ dạo trước ấy! Bác Xiến Tóc
vừa chạy vừa bay, rất gọn. Không còn chút nào cái dáng đủng đỉnh chán đời bữa nọ.
Tôi
chưa kịp ngạc nhiên, bác Xiến Tóc đã vuốt sừng cười rộ:
-
Tệ quá! Bỏ đi mà không nói ai biết. Đằng ấy đi mấy hôm thì Châu Chấu Voi và
Trũi trở về. Tôi kể chuyện đằng ấy đi mấy hôm thì họ hoảng hốt lên. Ồ, bạn Trũi
giỏi lắm. Ngày trước Châu Chấu Voi đã giảng giải cho tôi, đến khi đằng ấy tới
cũng nói là đời sống giang hồ thì vui thích như thế nào, tôi cứ u mê cãi lại,
tôi tưởng cái số mình lắm tai hoạ, không bao giờ dứt nổi bệnh chán đời nữa. Thế
mà đến khi Trũi nói, bạn Trũi nói có một lần, mình đã tỉnh. Tôi xấu hổ nhận ra
trong đời mình chỉ mới khó khăn một tí mà đã sợ. Từ nay tôi hiểu rằng chán đời
là tính xấu, kẻ chán đời nghĩ là ta cao thượng, nhưng thật không cao thượng
chút nào mà chỉ là trốn việc rong chơi. Nghĩ được thế, tôi liền tống cổ bọn Bướm,
bọn Ve Sầu lười biếng lại hay kêu ca phàn nàn và cả mấy gã Sên rề rà chuyên ăn
bám, tôi cũng đuổi nốt và bảo họ rằng từ nay đi kiếm lấy mà ăn chứ cái thân ăn
nhờ ở cậy là xấu xa nhất trên đời. Tôi đốt cái lều cỏ rồi tôi theo anh em đi từ
độ ấy.
Trũi
giới thiệu tôi với các bạn:
-
Anh Mèn tôi đây. Anh Mèn mà tôi vẫn kể chuyện các bạn nghe đó. Anh ơi! Từ khi
anh em ta xa nhau. Chắc anh tưởng em chết rồi chứ còn đâu ngày nay. Nhưng
không, khi em bị các anh Châu Chấu Voi bắt rồi mang đi thì em hiểu ngay các anh
ấy là bạn tốt thế nào. Hôm đánh nhau, nếu chúng ta đừng hấp tấp và chúng ta đừng
bị những đứa nhát sợ và nóng nảy cứ đẩy lung tung lên, mà ta chịu khó, bình
tĩnh hỏi han trước thì không thể xảy ra sự đáng tiếc và chúng ta đã hiểu nhau
ngay từ lúc ấy. Các anh Châu Chấu Voi với chúng ta đều thích giang hồ phóng
khoáng.
"Em
nghe ra những lời chí lý ấy, em phục lắm. Tuy chẳng lúc nào em quên tình anh
em, nhưng em cũng tình nguyện đi với các anh Châu Chấu Voi và em tin chắc ngày
kia anh em sẽ gặp nhau. Được ít lâu, em cùng các bạn trở lại rặng dứa dại trên
đê, định nói với anh, em tin chắc anh sẽ thích ngay, bởi vì em vẫn nhớ anh đã dạy
cho em biết ý nghĩa bước phiêu lưu của anh em mình ngày trước cũng giống thế.
Nhưng các bạn Châu Chấu Voi nói anh đã đi tìm em. Em có trình bày cho cả vùng
Châu Chấu nghe cái mơ ước mà em đương theo đuổi. Ai nấy vỗ tay, nhảy mừng. Bởi
vì nếu mơ ước đó thành sự thật thì không bao giờ trong đời còn gặp rủi ro, chỉ
vì đi tìm khe lá tránh rét."
"Rồi
em lại đi. Thời gian sau, có lúc chúng em qua chỗ cái chùa, tại gia của bác Xiến
Tóc, thấy bác ấy bảo anh đến đây đợi em từ lâu và mấy bữa rày chẳng biết anh đi
đâu. Em mừng quá. Nhưng đợi mãi chẳng thấy anh về. Chỉ ở có ít ngày em cũng có
thể đoán được tại sao anh đi. Em đã biết tính anh, trước cảnh ăn chơi dông dài
anh không chịu được. Thế là không đợi anh về nữa, em lại cùng các bạn Châu Chấu
Voi đi."
"Chúng
em đương trên đường sang vùng Kiến. May mắn biết bao, gặp anh đây...
Tôi
và Trũi nhìn nhau, lúc ấy bỗng nhớ ra và càng thấm thía tâm sự câu thề ngày trước
rằng từ đây sống chết có nhau. Một anh Châu Chấu Voi cất tiếng. Tiếng Châu Chấu
Voi sang sang như chiêng đồng:
-
Phải, các bạn đã nói rất đúng rằng chúng ta đương cùng nhau đi khắp thế giới kết
làm anh em.
Trũi
cảm động nói:
-
Em tin đây cũng là bước đường anh em ta đi, chẳng hay ý kiến anh...
Tôi
vui sướng thấy Trũi bây giờ khác hẳn trước. Trũi đã hết tính hấp tấp, nóng nảy,
xốc nổi. Trũi giờ nói năng điềm đạm, chắc chắn.
Tôi
âu yếm ôm Trũi mà rằng:
-
Em yêu quý! Các bạn Châu Chấu Voi tri kỷ ơi! Điều các bạn nghĩ, cũng là điều
xưa nay tôi mộng tưởng. Nay tôi xin cùng các bạn đi khắp thế gian, làm cho được
những gì ta đương mơ ước.
Cả
bọn reo lên. Và lập tức chúng tôi khởi hành.
Có
lúc đương đi đường, Trũi dường như lấy làm lạ dừng lại ngắm tôi rồi hỏi tôi:
-
Ơ hay! Sao bây giờ anh trắng trẻo như học trò, không đen trậm trụi như xưa.
Tôi
cười:
-
Vì anh phải tù trong cái hang của lão chim Trả, lâu không biết mấy mùa sương nắng
đã qua, nên thân mình anh mới bệch một vẻ công tử bột như thế. Chắc chỉ dầu dãi
ít lâu thì lại như thường thôi, bởi vì sức khoẻ anh thì vẫn nguyên và tấm lòng
anh thì đương hăng hái lắm.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét