HOÀI ÂM HẦU liệt truyện - Tư Mã Thiên
2024-05-04
HOÀI
ÂM HẦU liệt truyện
Tư
Mã Thiên
Dịch và chú giải: Phan Ngọc Nhữ Thành
1.
Thời hàn vi của Hàn Tín
2.
Được phong thượng tướng quân
3.
Đánh lấy các nước Ngụy, Triệu, Yên
4.
Đánh lấy Tề, đánh bại quân Sở
5.
Không nghe theo lời Vũ Thiệp, Khoái Thông
6.
Hai lần bị vu làm phản, bị giáng chức rồi bị giết
7.
Lời bàn
---
1. Thời hàn vi của Hàn Tín
Hoài
Âm Hầu Hàn Tín là người huyện Hoài Âm. Khi còn hàn vi, nhà nghèo, tài năng đức
hạnh không có gì để được cử làm quan, lại không biết lo công việc làm ăn buôn
bán. Thường theo người ta ăn bám, nhiều người chán ghét. Tín thường ăn bám ở
nhà đình trưởng đình Nam Xương làng Hạ Hương. Được mấy tháng, người vợ của đình
trưởng lo phiền, bèn nấu cơm từ sáng ngồi trên giường mà ăn. Đang lúc ăn thì
Tín đến, họ không để Tín cùng ăn. Tín cũng biết ý họ, nổi giận tuyệt giao ra
đi. Tín câu cá ở dưới thành, trong số những người đàn bà đập vải, có một bà thấy
Tín đói, cho Tín ăn cơm suất mấy mươi ngày cho đến khi đập vải xong. Tín mừng
nói với bà: - Thế nào tôi cũng đền ơn bà xứng đáng.
Bà
ta giận nói: -Kẻ đại trượng phu không có thể nuôi nổi thân mình, tôi thương cậu
nên mời ăn, chứ có phải mong cậu báo đáp đâu?
Trong
số những người hàng thịt ở Hoài Âm, có một người trẻ tuổi trêu Tín nói: -Mày
tuy cao lớn lại thích mang đao kiếm, nhưng trong lòng thì nhát thôi.
Y
làm nhục Tín trước mặt mọi người: -Tín? Mày dám chết thì hãy đâm tao, nếu không
dám chết thì luồn dưới háng tao đây.
Thế
là [Ý nói vội vàng.] Tín nhìn người kia đăm đăm, cúi xuống bò qua háng.
Cả chợ đều cười Tín là nhát gan.
Đến
khi Hạng Lương qua sông Hoài, Tin chống gươm đi theo, ở dưới cờ chẳng có tiếng
tăm gì. Hạng Vương bại trận, Tín lại theo Hạng Vũ. Hạng Vũ cho làm lang trung.
Tín nhiều lần bày mưu cho Hạng Vũ, nhưng Vũ không dùng. Khi Hán Vương vào đất
Thục, Tín bỏ Sở theo về Hán. Cũng không có tiếng tăm gì [Dùng phản phúc
pháp, trong một trang nhắc năm lần “không có tiếng tăm gì”, khiến người đọc
càng yên chí rằng Hàn bất tài.], được làm chức liên ngao [Liên ngao: chức
coi việc tiếp tân.]. Tín phạm tội bị xử chém, cả bè lũ mười ba người đều đã
chém hết, đến lượt Tín, Tín ngẩng đầu lên nhìn, chợt thấy Đằng Công liền nói:
-Nhà vua không muốn lấy thiên hạ hay sao? Tại sao chém tráng sĩ?
Đằng
Công thấy lời nói kỳ lạ, dung mạo hiên ngang nên tha mà không chém.
Đằng
Công cùng nói chuyện, rất hài lòng. Đằng Công nói với nhà vua, được cho làm đô
úy, coi về thóc, nhưng vẫn chưa thấy có tài gì lạ.
~
2. Được phong thượng tướng quân và trình bày đường lối của mình
Tín
thường nói chuyện với Tiêu Hà. Tiêu Hà rất phục. Khi vua Hán đến đất Nam Trịnh,
trên đường đi, các tướng bỏ trốn đến mấy chục người. Tín xem chừng bọn Hà đã mấy
lần tâu với nhà vua, nhưng nhà vua không dùng mình, cho nên bỏ trốn. Hà nghe
tin Tín bỏ trốn liền thân hành theo tìm, không kịp báo cho vua biết. Có người
nói với nhà vua: -Thừa tướng Tiêu Hà bỏ trốn rồi!
Nhà
vua cả giận như người mất tay phải, tay trái. Được hai ngày, Tiêu Hà đến ra mắt
nhà vua. Nhà vua vui mừng vừa mừng vừa giận mắng [Một nét điển hình của tính
cách Lưu Bang: hay mắng người, ăn nói suồng sã.] Hà: -Tại sao nhà ngươi lại
bỏ trốn?
Hà
đáp: -Thưa thần không dám bỏ trốn, thần theo bắt người bỏ trốn đấy ạ.
Nhà
vua hỏi: -Nhà ngươi theo bắt ai?
Hà
đáp: -Theo Hàn Tín.
Nhà
vua lại mắng: -Các tướng bỏ trốn đến hàng chục, nhà ngươi không đuổi theo ai, lại
đuổi theo Hàn Tín, nói láo!
Hà
đáp: -Các tướng đều dễ kiếm thôi, còn như Tín là kẻ quốc sĩ [Quốc sĩ: người
kiệt xuất nhất nước.] có một không hai. Nhà vua nếu cứ muốn làm vương mãi ở
Hán Trung, thì chẳng cần Tín làm gì chứ nếu muốn tranh lấy thiên hạ thì ngoài
Tín ra chẳng có thể bàn công việc với ai [Tất cả then chốt của bài là ở câu
này.]. Chẳng hiểu nhà vua định đi theo đường nào?
Vua
nói: -Ta cũng muốn sang Đông chứ lẽ nào lại bực bội ngồi ở đây mãi được ư?
Hà
nói: -Nhà vua nhất định muốn sang Đông, dùng được Hàn Tín, Tín sẽ ở lại, nếu
không dùng được thì Tín thế nào cũng bỏ trốn đấy [Câu nói kỳ lạ. Trong mắt
Tiêu Hà phải là người có chí nguyện phi thường mới dùng được con người phi thường
như Hàn Tín. Cái khó là ở Lưu Bang.].
Nhà
vua nói: -Ta sẽ vì ông, cho hắn làm tướng.
Hà
nói: -Tuy được làm tướng, Tín cũng không ở lại đâu.
Nhà
vua nói: -Thì cho làm đại tướng.
Hà
nói: -May lắm!
Vua
bèn muốn mời Hàn Tín vào để phong. Tiêu Hà nói: -Tính nhà vua vốn ngạo mạn, vô
lễ, phong một đại tướng như gọi một đứa trẻ con đến, chính vì thế mà Tín bỏ đi
đấy. Nếu nhà vua quả thật muốn phong cho ông ta thì phải chọn ngày tốt, trai giới,
lập đàn, bày đủ lễ mới được.
Nhà
vua bằng lòng. Các tướng đều mừng, ai cũng cho rằng mình sẽ được làm đại tướng.
Đến khi phong đại tướng lại là Hàn Tín, cả ba quân đều ngơ nác [Bài Hoài Âm
Hầu liệt truyện là một bài rất thành công xét về mặt biến hóa của câu chuyện. Từ
sự kiện này sang sự kiện kia thực là đột ngột, hấp dẫn, lạ thường, như ảo mà lại
là sự thực nhưng tại khó tin. Người đời sau gọi vần của Tử Trường trùng trùng
như núi, luôn luôn mới, luôn luôn lạ là vì vậy.].
Tín
lạy xong, lên ngồi ở trên đàn, nhà vua nói: -Thừa tướng nhiều lần nói đến tướng
quân, tướng quân có kế gì để dạy bảo quả nhân?
Tín
từ tạ, nhân đấy hỏi nhà vua: -Nay nhà vua sang Đông tranh quyền thiên hạ, có phải
là tranh với Hạng Vương không?
Hán
Vương nói: -Phải.
Hàn
Tín nói: -Đại vương thử xem mình với Hạng Vương, ai dũng cảm, dữ tợn, nhân từ
và hùng mạnh hơn [Tín dùng phương pháp thuyết phục của các thuyết khách đời
Chiến Quốc, đặt câu hỏi để nhà vua tìm thấy sự thật.]?
Hán
Vương im lặng hồi lâu, nói: -Tôi không bằng.
Tín
lạy hai lạy [Ngày xưa các vua cầu hiền khi nghe lời nói hay thì phải lạy.
Tín lạy là lạy lời nói “Tôi không bằng”. Tín cho đó là lời nói của bậc đế
vương. Hạng Vũ trong con mắt của Hàn Tín cũng như của Tư Mã Thiên hơn hẳn Lưu
Bang về cái tài cũng như về đạo đức cá nhân, nhưng kém mặt nhận thức về tình thế
và không biết dùng người.] và nói: -Tín cũng nghĩ rằng đại vương không bằng,
nhưng thần đã từng thờ y, vậy xin nói Hạng Vương là người như thế nào. Hạng
Vương khi hò hét, quát tháo, nghìn người đều khiếp vía, nhưng ông ta không biết
tin dùng tướng tài, thì đó chẳng qua là cái dũng của kẻ thất phu mà thôi. Hạng
Vương tiếp người thì cung kính, thương yêu, nói năng dịu dàng, người ta đau ốm
thì chảy nước mắt khóc, cùng chia thức ăn, thức uống. Nhưng khi người ta có
công đáng được phong tước thì để cho ấn khắc bị hư mòn, tiếc mà không đem cho.
Như thế thì gọi là lòng nhân của đàn bà vậy. Hạng Vương tuy làm bá trong thiên
hạ, các chư hầu thần phục, nhưng không ở đất Quan Trung, lại đóng đô ở Bành
Thành. Hạng Vương trái lời giao ước của Nghĩa Đế phong những người thân tín của
mình làm vương. Chư hầu bất bình, thấy Hạng Vương dời đuổi Nghĩa Đế đến Giang
Nam nên cũng trở về đuổi chủ của mình mà tự lập làm vương ở nơi địa thế tốt. Hễ
đi qua đâu Hạng Vương cũng tàn sát người ta, thiên hạ đều oán, trăm họ không gần
gũi chỉ sợ uy mà miễn cưỡng theo đấy thôi. Tiếng tuy là lớn nhưng thực ra thì mất
lòng thiên hạ. Cho nên nói rằng cái mạnh của ông ta dễ làm yếu đi. Nay nếu như
đại vương có thể làm trái hẳn điều ông ta đã làm, dùng những người vũ dũng
trong thiên hạ thì đánh đâu mà chẳng được? Lấy thành ấp trong thiên hạ, phong
cho các công thần thì ai mà chẳng theo? Lấy nghĩa binh đi theo những quan sĩ muốn
về Đông thì phá chỗ nào mà chẳng tan [Trong mấy câu tóm tắt tất cả chỗ mạnh
và chỗ yếu của Hạng Vũ. Tất cả đường lối của Hàn Tín giúp Lưu Bang là ở chỗ này.]?
Vả chăng những người làm vương ở Tam Tần [Xem Hạng Vũ bản kỷ: Đây nói Chương
Hàm làm Ung Vương, Tư Mã Hân làm Tắc Vương. Đồng Ế làm Địch Vương. Ba nước Ung,
Tắc, Địch nói gộp lại là Tam Tần.] nguyên là các tướng Tần cai quản con em
người Tần đã mấy năm, giết hại con em không kể xiết, lại lừa dối quân sĩ, đầu
hàng chư hầu. Khi đến Tân An, Hạng Vương lừa chôn sống hai mươi vạn quân Tần đã
đầu hàng, chỉ có Hàm, Hân và Ế là được thoát, bọn cha anh ở Tần oán ba người
này đến tận xương tủy. Nay nước Sở dùng uy lực ép nhân dân đem ba người ấy làm
vương, dân Tần chẳng ai ưa cả. Trái lại đại vương vào Quan Trung tơ hào không
phạm đến, trừ bỏ những thứ luật pháp hà khắc của Tần, cùng với nhân dân Tần
giao ước. Pháp luật theo ba khoản [Xem Cao Tổ bản kỷ.], dân Tần ai cũng
muốn được đại vương làm vua đất Tần. Theo lời giao ước của chư hầu thì đại vương
đáng làm vương ở Quan Trung, dân Quan Trung đều biết như thế. Đại vương mất chức
vương ở Quang Trung phải vào Hán Trung, dân Tần ai cũng tiếc. Nay đại vương đem
quân sang Đông, có thể truyền hịch mà bình địch được Tam Tần.
Hán
Vương cả mừng, tự cho là gặp Hàn Tín quá muộn, bèn nghe theo lời Hàn Tín, sắp đặt
các tướng để nhằm tấn công.
~
3. Đánh lấy các nước Ngụy, Triệu, Yên
Tháng
tám, Hán Vương đem binh sang Đông, đi ra khỏi huyện Trần Thương, bình định đất
Tam Tần. Năm thứ hai nhà Hán (năm 205 trước Công nguyên), đem quân ra cửa
ải thu đất Hà Nam của Ngụy. Hàn Vương và Ân Vương đều đầu hàng. Hán Vương hợp với
Tề và Triệu cùng đánh Sở. Tháng tư đến Bành Thành, quân của Hán bị đánh bại,
tan tác trở về. Tín thu binh họp với Hán Vương ở Huỳnh Dương, lại đánh phá quân
Sở ở miền giữa đất Kinh và đất Sách. Quân Sở vì vậy vẫn không thể đi ra hướng
Tây.
Sau
khi quân Hán bị thua trận ở Bành Thành, Tắc Vương là Hân và Địch Vương là Ế bỏ
Hán đầu hàng Sở. Nước Tề, nước Triệu cũng phản lại Hán mà hòa với Sở. Tháng sáu
Ngụy Vương là Báo xin nghỉ để về thăm cha bị bệnh. Về đến nước, Ngụy Vương liền
cắt đường giao thông ở Hà Quan, phản lại Hán, giao hiếu với Sở. Vua Hán sai Lịch
Sinh thuyết phục Báo, nhưng Báo không nghe. Tháng tám năm ấy nhà vua phong Tín
làm tả thừa tướng để đánh Ngụy. Vua Ngụy đem nhiều binh đến Bồ Bản chặn cửa
sông Lâm Tấn, Tín dàn thêm nghi binh, bày thuyền bè như muốn vượt qua sông Lâm
Tấn, nhưng trái lại dùng phục binh đi đường đất Hạ Dương, lấy thùng gỗ để cho quân
vượt qua sông, đánh úp đất An Ấp. Ngụy Vương Báo cả kinh, đem binh đến đánh
Tín. Tín liền bắt Báo cầm tù, bình định đất Ngụy, làm thành quận Hà Đông. Hán
Vương sai Trương Nhĩ cùng với Hàn Tín đem binh sang Đông đi về hướng Bắc, đánh
nước Triệu, nước Đại. Tháng chín nhuận năm ấy, Tín phá quân Đại, bắt được Hạ
Duyệt ở đất Ứ Dự. Sau khi Tín lấy được nước Nguỵ phá được nước Đại, Hán Vương
liền sai người thu tinh binh của Tín đem đến Huỳnh Dương để chống Sở.
Tín
và Trương Nhĩ cầm quân mấy vạn, muốn đi về phía Đông xuống Tỉnh Hình để đánh
Triệu. Vua Triệu và Thành An Quân là Trần Dư nghe tin quân Hán sắp đánh úp, bèn
tụ tập quân đội ở Tỉnh Hình, phao là hai mươi vạn. Quảng Vũ Quân là Lý Tả Xa
nói với Thành An Quân: -Nghe nói tướng Hán là Hàn Tín vượt Tây Hà bắt Ngụy
Vương, bắt sống Hạ Duyệt, vừa mới đổ máu ở Ứ Dự, nay lại thêm Trương Nhĩ giúp sức,
ý muốn lấy nước Triệu. Đó là họ thừa thắng và đi xa nước mà đánh, tình thế khó
đương đầu với nó. Tôi nghe nói: vận lương nghìn dặm, quân sĩ có dáng đói, đợi
hái củi cắt cỏ mà nấu ăn, lính tráng không được no. Nay đường ở Tỉnh Hình không
thể cùng đi hai xe một lần. Quân kỵ không thể sắp thành hàng, đi vài trăm dặm thì
thế nào lương thực cũng tụt lại sau. Xin túc hạ cho tôi ba vạn kỳ binh, đi theo
đường tắt để chẹn đường vận tải, còn túc hạ thì đào hào cho sâu, đắp thành cho
cao, giữ chặt lấy thành, đừng đánh với họ. Quân của họ tiến lên trước không được
đánh, mà rút lui lại không được về, tôi dùng kỳ binh chẹn đằng sau, khiến cho họ
không thể cướp được gì ở ngoài đồng. Như thế không đầy mười ngày, đầu hai tướng
sẽ nộp ở dưới cờ. Xin ngài lưu ý đến kế của tôi. Nếu không thế nào cũng bị hai
tên ấy bắt.
Thành
An Quân vốn là nhà nho, thường nói rằng: “Nghĩa binh thì không dùng mẹo lừa dối,
mưu kỳ lạ”, nói: -Tôi nghe nói theo binh pháp “mình gấp mười thì vây, gấp đôi
thì đánh” [Câu trích trong “Tôn Tử binh pháp”.]. Nay Hàn Tín binh phao
là mấy vạn người nhưng thực ra chẳng qua chỉ mấy nghìn. Họ vượt nghìn dặm đánh
úp chúng ta thì cũng đã mỏi mệt lắm rồi. Nếu như chúng ta trốn tránh không
đánh, về sau có quân địch đông hơn, ta làm sao thắng được? Như thế chư hầu sẽ bảo
ta là nhát và coi thường việc đánh ta.
Vì
vậy không nghe mưu kế của Quảng Vũ Quân. Hàn Tín sai người sang thám thính, biết
mưu của Quảng Vũ Quân không được dùng, cả mừng, bèn đem quân thẳng xuống. Chưa
đến cửa Tỉnh Hình, cách ba mươi dặm, dừng lại cắm trại. Nửa đêm truyền lệnh xuất
phát. Chọn hai nghìn quân kỵ trang bị nhẹ, mỗi người cầm một lá cờ đỏ đi theo
đường tắt lén lút sang nói theo dõi quân Triệu. Tín ra lệnh: “Triệu thấy ta chạy,
thế nào cũng bỏ trống thành mà đuổi ra. Chúng mày tiến vào ngay trong thành, nhổ
cờ của Triệu dựng cờ đỏ của Hán”. Khiến bọn tý tướng truyền bảo ăn cơm lót lòng
thôi, và nói: -Hôm nay phá quân Triệu xong sẽ họp nhau ăn tiệc.
Các
tướng không ai tin, giả vờ đáp: -Dạ.
Lại
nói với tướng sĩ: -Quân Triệu đã giữ địa thế tiện lợi trước để xây đồn lũy,
chúng lại chưa thấy cờ trống, đại tướng của ta nên chưa chịu tiến lên đánh đội
tiên phong vì chúng sợ ta đến nơi đường hẹp, hiểm trở thì quay lại.
Tín
bèn sai một vạn người đi trước bày trận quay lưng ra sông.
Quân
Triệu ở xa nhìn thấy, cười vang.
Lúc
bình minh, Tín dựng cờ đại tướng, đánh trống lên, kéo quân ra cửa Tỉnh Hình.
Quân Triệu mở cửa lũy, đánh nhau to một hồi lâu. Bấy giờ Hàn Tín, Trương Nhĩ vờ
bỏ cờ trống chạy đến đạo quân gần sông. Đạo quân gần sông rẽ ra, đón lấy họ, rồi
lại chiến đấu dữ dội. Quân Triệu quả nhiên bỏ thành ra tranh lấy cờ trống của
Hán, đuổi theo Hàn Tín, Trương Nhĩ. Sau khi Hàn Tín, Trương Nhĩ đã nhập vào đạo
quân ở gần sông thì quân đội đều liều chết chiến đấu không thể nào đánh bại được.
Hai nghìn quân kỵ mà Tín đã cho đi từ trước chờ đến khi quân Triệu bỏ lũy trống
để đuổi theo để lấy cờ trống của Hán, liền ruổi nhanh vào trong thành, nhổ tất
cả cờ xí của Triệu để dựng hai nghìn lá cờ đỏ của Hán. Quân Triệu đã không thắng
không bắt được bọn Tín, muốn quay trở về đồn, nhưng trong thành toàn là cờ đỏ của
Hán thì cả sợ, cho rằng quân Hán đã bắt được tướng của Triệu Vương rồi. Quân sĩ
hỗn loạn bỏ chạy. Tướng Triệu chém cũng không ngăn được. Quân Hán hai bên áp lại,
phá tan quân Triệu, chém Thành An Quân trên sông Chi Thủy, bắt Triệu Vương là Yết.
Tín
ra lệnh cho quân đội không được giết Quảng Vũ Quân, ai bắt sống được ông ta thì
thưởng ngàn vàng. Có người trói Quảng Vũ Quân nộp dưới cờ, Tín bèn cởi trói cho
ông ta và cho ngồi quay mặt về hướng Đông [Khi tiếp khách để khách quay mặt
về hướng Đông là tỏ ý tôn kính.], còn mình ngồi quay mặt về hướng Tây, thờ
làm thầy.
Các
tướng đem thủ cấp và tù binh đến nộp đâu đấy và chúc mừng. Các tướng nhân dịp hỏi
Tín: -Binh pháp nói “Bên phải sau lưng thì núi gò, trước mặt bên trái thì sông
đầm” [Trong thiên “Tôn Tử hành quân” nói: khi đóng quân thì trước mặt là
sông đầm, sau lưng và bên phải gần núi gò. Ý nói như thế thì tránh được việc bất
trắc.] nay tướng quân lại sai bọn chúng tôi quay lưng ra sông mà bày trận,
nói rằng phá xong quân Triệu sẽ ăn cơm. Bọn chúng tôi không phục nhưng kết quả
lại thắng, không biết đó là thuật gì?
Tín
nói: -Điều đó ở trong binh pháp, chỉ có điều các anh không xét đến mà thôi. Chẳng
phải binh pháp có nói: “Hãm vào đất chết thì sau nó mới sống, dắt vào chỗ mất
thì sau nó mới còn” [Thiên “Cửa địa” cũng của “Tôn Tử binh pháp”. Ý nói để
cho quân đội ở vào địa thế bất lợi thì nó sẽ chiến đấu hăng.] đó sao? Vả
chăng Tín không phải có những tướng sĩ đã từng được huấn luyện. Đây cũng như
người ta nói là kéo những người ngoài chợ bắt họ đi đánh. Tình thế này nếu
không đặt họ vào nơi đất chết khiến cho người nào cũng vì mình mà chiến đấu thì
không được. Nếu như ta để cho họ vào nơi đất sống thì họ đều bỏ chạy, ta còn
làm sao dùng họ được nữa.
Các
tướng đều phục mà rằng: -Hay lắm, quả chúng tôi không nghĩ đến được.
Tín
bèn bỏi Quảng Vũ Quân: -Tôi muốn phía Bắc đánh nước Yên, phía Đông đánh nước Tề,
làm thế nào thì thành công?
Quảng
Vũ Quân từ tạ mà rằng: -Tôi nghe nói “làm tướng mà quân đã thua trận thì không
thể nói là dũng cảm, quan đại phu của nước đã mất thì không thể bàn đến việc bảo
tồn nước” [Một câu thành ngữ đương thời.]. Nay tôi là tên tù bại trận
đâu có xứng đáng bàn đến việc đại sự.
Tín
nói: -Tôi nghe nói Bách Lý Hề ở nước Ngu thì nước Ngu mất, ở nước Tần thì nước
Tần làm bá, không phải ông ta ở nước Ngu thì ngu mà về nước Tần thì khôn, chỉ
vì ông ta được dùng hay không, được nghe hay không đó thôi. Giả sử Thành An
Quân nghe theo kế của túc hạ thì bọn Tín cũng đã bị bắt rồi. Chỉ vì ông ta
không đùng mưu của túc hạ cho nên Tín mới được hầu chuyện đó thôi.
Tín
bèn van nài mãi: -Tôi hết lòng nguyện theo kế của túc hạ xin túc hạ chớ từ chối.
Quảng
Vu Quân nói: -Tôi nghe nói “người khôn nghĩ một nghìn điều, thế nào cũng có một
điều sai, người ngu nghĩ một nghìn điều, thế nào cũng có một điều đúng” [Đó
là những câu tục ngữ đương thời.], cho nên có câu “lời nói của người cuồng
cũng được thánh nhận xét đến” chỉ sợ mưu kế của tôi chưa chắc đã dùng được,
nhưng cũng xin bày chút trung thành dại dột. Thành An Quân có kế bách chiến
bách thắng, không may phút chốc thất bại, quân đội bị thua ở gần đất Cảo Thành,
thân chết trên sông Chi Thủy. Nay tướng quân vượt Tây Hà, cầm tù vua Ngụy, bắt
sống Hạ Duyệt ở Ứ Dự, đánh một trận lấy Tỉnh Hình, chưa trọn buổi sáng đã phá
được hai mươi vạn quân Triệu, giết Thành An Quân. Danh tiếng nổi trong nước, uy
thế rung động thiên hạ. Người nông phu không ai không nghỉ việc, buông cày, mặc
áo đẹp, đem thức ăn ngon, nghiêng tai để chờ quyết định vận mệnh [Ý nói dân
không biết sống chết thế nào nên dừng làm việc, đem đồ đẹp ra mặc, thức ăn ngon
ra ăn, để chờ quyết định số phận của mình.]. Đó là cái sở trường của tướng
quân. Nhưng nay quân mệt, lính mỏi, đóng lâu ở dưới chân thành kiên cố của nước
Yên. Muốn đánh thì sợ đánh lâu mà sức không thể lấy được. Thực tình sẽ lộ ra uy
thế bị giảm, lâu ngày hết lương mà nước Yên yếu thế kia vẫn không phục, nước Tề
thế nào cũng giữ biên giới để tự cường. Nước Yên, nước Tề đều chống cự không chịu
đầu hàng, thì chưa biết họ Lưu hay họ Hạng sẽ nắm phần thắng lợi. Đó là sở đoản
của tướng quân. Tôi là người ngu, trộm cho kế của ngài là sai. Vì vậy kẻ giỏi
dùng binh không lấy cái sở đoản để đánh cái sở trường mà lấy cái sở trường để
đánh cái sở đoản.
Hàn
Tín nói: -Như vậy thì làm thế nào?
Quảng
Vũ Quân đáp: -Nay tính mưu kế cho tướng quân, không gì bằng xếp giáp cho quân
nghỉ ngơi, bình định nước Triệu, vỗ về những người con mất cha, trong vòng trăm
dặm, vò rượu ngày nào cũng đem đến để thết sĩ phu, khao quân lính, hướng về nước
Yên ở phía Bắc mà đóng quân. Sau đó sai người biện sĩ mang một bức thư, nói rõ
cái sở trường của mình với nước Yên, chắc chắn nước Yên không dám không nghe
theo. Nước Yên đã nghe theo, sai người biện sĩ đi về hướng Đông nói với Tề, nước
Tề thế nào cũng nghe theo như cỏ lướt trước ngọn gió dẫu có người mưu trí cũng
không biết bày cách gì cho Tề. Như thế thì có thể lấy được thiên hạ. Việc binh
vốn có cái thuật “trước hư trương thanh thế rồi sau mới dùng thực lực”, tức là
như thế [Ý nói trước hết phải làm cho người ta sợ uy lực của mình, sau đó mới
đánh.].
Hàn
Tín nói: -Phải [Đoạn này văn lại biến hóa một từng nữa. Sau khi kể những chiến
công oanh liệt và tài dùng binh của Hàn Tín nói ngay đến việc Quảng Vũ Quân “dạy”
binh pháp cho Hán Tín.].
Tín
theo theo mưu kế ấy, cho sứ sang nước Yên, nước Yên như ngọn cỏ lướt trước ngọn
gió. Tín lại sai sứ báo với Hán, nhân tiện xin lập Trương Nhĩ làm Triệu Vương để
cai trị và vỗ về nước này. Vua Hán ưng thuận, bèn lập Trương Nhĩ làm Triệu
Vương.
~
4. Đánh lấy Tề, đánh bại quân Sở
Nước
Sở mấy lần sai kỳ binh vượt qua sông Hà đánh Triệu. Triệu Vương là Nhĩ và Hàn
Tín đi đi lại lại để cứu Triệu, nhân lúc đi lại bình định các thành ấp ở Triệu,
đem binh đến giúp Hán Vương. Nước Sở đang bận vào việc vây Hán Vương ở Huỳnh
Dương, Hán Vương đi ra về phía Nam, đến giữa miền Uyển và Diệp, gặp được Kình Bố,
chạy vào Thành Cao. Quân Sở lại bao vây rất gấp. Tháng sáu, Hán Vương ra khỏi
Thành Cao, đi về hướng Đông, vượt qua sông Hoàng Hà, chỉ có một mình Đằng Công
cùng đi. Hán Vương theo quân của Trương Nhĩ đến Tu Vũ. Đến nơi, Hán Vương nghỉ ở
ngoài quán trọ. Sáng sớm, Hán Vương tự xưng là sứ thần nhà Hán, phi ngựa vào
trong thành Triệu. Trương Nhĩ, Hàn Tín chưa dậy, Hán Vương vào trong phòng ngủ
[Lưu Bang phải “cướp ấn”, vì sợ các tướng thấy mình ở trong cảnh khốn đốn sẽ
không nghe theo. Tác giả nêu lên một cách kín đáo thái độ sợ Hàn Tín của Lưu
Bang.], cướp ấn tín và binh phù, dùng cờ mao [Cờ dùng để triệu tập các
tướng.] để triệu tập các tướng, thay đổi chức vị các tướng. Tín và Nhĩ thức
dậy, mới biết là Hán Vương đã đến, cả sợ. Hán Vương sau khi đoạt quân của hai
người liền ra lệnh cho Trương Nhĩ giữ lấy đất Triệu, phong Hàn Tín làm tướng quốc,
thu quân đội của Triệu chưa phái đến Huỳnh Dương để đánh Tề [Hán Vương sau
khi thu quân đội của Triệu thì trao quân cho Hàn Tín đem đi đánh Tề.].
Tín
đem quân sang Đông, chưa vượt qua bến sông Bình Nguyên thì nghe tin sứ thần của
Hán Vương là Lịch Tự Cơ đã thuyết phục được nước Tề đầu hàng. Hàn Tín muốn dừng
lại. Người biện sĩ đất Phạm Dương là Khoái Thông [Khoái Thông tên là Triệt,
nhưng vì sau này Vũ Đế tên là Triệt nên tác giả hủy chữ Triệt mà đổi là Thông.]
bàn với Hàn Tín: -Tướng quân nhận chiếu đánh nước Tề, nay Hán Vương chỉ sai một
người ly gián mà khiến nước Tề đầu hàng, nhưng đã có chiếu chỉ bảo tướng quân dừng
lại đâu? Tại sao tướng quân lại không đi? Vả chăng Lịch Sinh là một kẻ sĩ kính
cẩn múa ba tấc lưỡi mà hạ được hơn bảy mươi thành của nước Tề, tướng quân cầm mấy
vạn quân hơn một năm mới hạ được hơn năm mươi thành của Triệu. Làm tướng quân mấy
năm mà công không bằng một anh nhà nho hay sao?
Tín
cho là phải, theo kế của Thông, vượt qua sông Hoàng Hà, nước Tề đã nghe lời Lịch
Sinh nên giữ Lịch Sinh ở lại uống rượu, triệt bỏ các quân đội để phòng ngự quân
Hán.
Tín
nhân đó đánh úp quân Tề ở Lịch Hạ, đi đến Lâm Tri. Vua Tề là Điền Quảng cho rằng
Lịch Sinh lừa mình nên nấu Lịch Sinh và trốn đến đất Cao Mật, sai sứ đến nước Sở
để cầu cứu. Sau khi đã bình định Lâm Tri, Hàn Tín đi về hướng Đông, đuổi Quảng
đến phía Tây đất Cao Mật. Sở cũng sai Long Thư làm tướng, phao là hai mươi vạn
quân, đem quân đến cứu Tề.
Vua
Tề là Quảng cùng Long Thư dồn quân để đánh nhau với Tín. Lúc chưa giao chiến,
có người bàn với Long Thư: -Quân Hán thừa thắng đi đánh xa, xuất toàn lực để
chiến đấu ở đất mình thì quân dễ thua và rối loạn. Chi bằng đào hào sâu, đắp
lũy cao, bảo vua Tề cho người tôi tin cẩn kêu gọi vỗ về những thành đã mất. Các
thành đã mất, nghe tin vua mình vẫn còn, quân Sở lại đến cứu thì thế nào cũng
phản lại quân Hán. Quân Hán ở nơi đất khách, cách quê nhà hai nghìn dặm, các
thành của Tề lại làm phản, thì thế nào cũng không có gì ăn, có thể không đánh
mà bắt họ đầu hàng.
Long
Thư nói: -Ta bình sinh biết Hàn Tín là người như thế nào rồi. Nó cũng xoàng
thôi! Vả chăng, cứu Tề mà không đánh nó, khiến nó hàng thì không có công cán
gì? Nay ta đánh thắng nó thì có thể được một nửa nước Tề, tại sao lại không
đánh?
Rồi
bày trận hai bên sông Tuy Thủy. Hàn Tín đang đêm sai người làm hơn một vạn cái
đẫy đổ đầy cát chặn lấy thượng lưu dòng sông rồi đem quân qua nửa chừng đánh
Long Thư, giả vờ không thắng, quay lưng bỏ chạy về. Long Thư quả nhiên mừng rỡ
nói: -Ta biết Hàn Tín nhát gan mà?
Bèn
đuổi theo, qua sông. Tín cho người phá các bao đựng cát, nước sông chảy ào ào,
đại quân của Long Thư quá nửa không qua được, quân Tín liền đánh gấp, giết Long
Thư. Bộ phận quân của Long Thư phía Đông dòng sông bỏ chạy toán loạn. Vua Tề là
Quảng chạy trốn. Tín liền đuổi theo đến đất Thành Dương, bắt bỏ tù tất cả lính
Sở.
Năm
thứ tư nhà Hán (năm 203 trước Công nguyên) tất cả đều đầu hàng. Hàn Tín
bình định nước Tề, sai người nói với vua Hán: -Nước Tề là nước gian dối, hay
gây biến, tráo trở. Biên giới phía Nam là nước Sở, nếu không lập giả vương [Giả
vương: Người tạm làm vương.] để giữ thì không thể bình định được. Xin cho
làm giả vương.
Lúc
bấy giờ quân Sở đang vây Hán Vương rất gấp ở thành Huỳnh Dương. Sứ giả của Hàn
Tín đến, Hán Vương mở phong thư ra, cả giận mắng: -Tao đang nguy khốn ở đây, sớm
chiều trông mày đến giúp, thế mà mày lại muốn tự lập làm vương à?
Trương
Lương, Trần Bình giẫm vào chân Hán Vương, nhân đấy ghé vào tai Hán Vương nói:
-Nhà Hán hiện nay bất lợi, có thể cấm không cho Tín làm vương được không? Chi bằng
nhân đấy mà lập, đối xử với ông ta cho tử tế, khiến ông ta vì mình mà giữ. Nếu
không sẽ sinh biến.
Hán
vương tỉnh ngộ, nhân đấy lại mắng [Chú ý: Cách ăn nói của Lưu Bang, Tư Mã
Thiên không vì có Lưu Bang là vua của mình mà che giấu tính tình lỗ mãng của
ông, thái độ can đảm ấy đã giúp ông điển hình hóa Lưu Bang một cách cao độ. Hễ
Lưu Bang mở miệng là mắng.]: -Đại trượng phu đã bình định được chư hầu tức
là vua “thật” rồi, chứ làm vua “giả” gì nữa?
Hán
Vương liền sai Trương Lương đi lập Tín làm Tề Vương, trưng dụng binh của Tín đến
đánh Sở.
~
5. Không nghe theo lời Vũ Thiệp, Khoái Thông
Sau
khi Sở mất Long Thư, Hạng Vương sợ sai Vũ Thiệp, người Vu Thai đến nói với Tề
Vương Tín: -Thiên hạ đều khổ vì nhà Tần đã lâu rồi, nên cùng nhau chung sức
đánh Tần. Tần đã bị phá, định công, cắt đất làm vương, để cho sĩ tốt nghỉ ngơi.
Nay Hán Vương lại dấy binh, đem quân sang Đông, lấy phần đất của người khác, cướp
đất đai của người ta. Hán đã phá Tam Tần, đem binh ra cửa ải, thu quán đội của
chư hầu để sang Đông đánh Sở. Ý của ông ta là chưa nuốt hết cả thiên hạ thì
chưa chịu thôi, không biết thế nào là vừa, thực là quá đáng. Vả chăng, số mệnh
của Hán Vương chưa có gì là chắc chắn. Đã mấy lần chính ông ta nằm trong tay Hạng
Vương, Hạng Vương thương hại tha cho sống, nhưng vừa thoát ra đã bội ước ngay,
lại đánh Hạng Vương. Ông ta là người không thể thân tín như vậy, nay túc hạ tuy
tự cho rằng Hán Vương đối đãi với mình rất hậu, nên đem hết sức ra cầm quân,
nhưng rốt cục thế nào túc hạ cũng bị ông ta bắt mà thôi. Túc hạ sở dĩ còn được
sống sót đến nay là vì Hạng Vương hãy còn. Hiện nay Hán Vương, Hạng Vương ai thắng,
ai bại là ở túc hạ. Túc hạ theo về phía bên phải thì Hán Vương thắng, theo về
phía bên trái thì Hạng Vương thắng. Hôm nay Hạng Vương mất thì hôm sau đến lượt
túc hạ đấy. Túc hạ sao lại không phản lại Hán mà hòa với Sở, chia thiên hạ làm
ba mà làm vương một phần? Nay túc hạ có cơ hội này, đem hết tâm lực để theo Hán
đánh Sở. Làm người mưu trí lại như thế ư?
Hàn
Tín từ chối mà rằng: -Tôi thờ Hạng Vương, quan chẳng qua là lang trung, địa vị
chẳng qua là cầm kích đứng hầu ở điện, lời nói ra không được nghe, mưu kế đưa
ra không được dùng, cho nên tôi bỏ Sở mà theo Hán. Hán Vương trao cho tôi ấn
thượng tướng quân, giao cho tôi mấy vạn binh, cởi áo của mình để cho tôi được
dùng. Cho nên tôi mới được như thế này. Phàm người ta hết sức tin cậy mình
thành thực như thế mà mình phản lại là điều chẳng lành. Tôi dù chết cũng không
thay lòng đổi dạ. Nhờ ông thưa lại với Hạng Vương rằng Tín từ chối.
Sau
khi Vũ Thiệp đi rồi, người nước Tề là Khoái Thông biết rằng thiên hạ ai thắng
ai bại là ở Hàn Tín, muốn dùng kế lạ để làm Tín cảm động nên dùng thuật xem tướng
để thuyết phục Hàn Tín. Khoái Thông nói: -Tôi đã từng học thuật xem tướng.
Hàn
Tín nói: -Phép xem tướng của tiên sinh như thế nào?
Thông
đáp: -Sang hay hèn là ở cốt cách. Vui hay buồn là nét mặt, được hay thua là ở
quyết đoán. Gộp cả ba điều ấy mà xem thì vạn người không sai một [Theo phép du
thuyết điều quan trọng là phải có kế lạ để bắt người nghe để ý đến mình ngay.
Cách tả lời của Thông về thuật xem tướng có thể xem là kế lạ. Đoạn xem tướng
này hết sức sinh động, quá khứ sống lại như hiện ra trước mắt.].
Hàn
Tín nói: -Hay đấy! Tiên sinh xem quả nhân như thế nào?
Thông
đáp: -Xin cho vãn người chút đã.
Tín
nói: -Tả hữu lui ra rồi.
Thông
nói: -Mặt của tướng quân chẳng qua chỉ được phong hầu, lại còn nguy hiểm không
yên. Lưng [Lưng là “bối” có thể đọc là “bội”. Ý nói phản là Hán Vương đấy
dùng lối chơi chữ.] của tướng quân thì sang không thể nói hết.
Hàn
Tín nói: -Tại sao lại nói như vậy?
Khoái
Thông nói: -Lúc thiên hạ mới khởi sự, các anh hùng hào kiệt đều xưng vương, hiệu
triệu kẻ sĩ trong thiên hạ như mây họp, sương mù tụ lại, nhan nhản như vẩy cá,
tấp nập như lửa bốc, như gió thổi. Lúc bấy giờ, họ chỉ lo nghĩ đến việc tiêu diệt
nhà Tần đang suy vong mà thôi. Nay Sở và Hán tranh giành nhau khiến cho gan mật
của những người trong thiên hạ phơi dầy đất, cha con bỏ xương ở ngoài đồng nội,
kể không sao xiết. Người Sở nổi lên ở Bành Thành, vừa đánh vừa đuổi mãi đến
thành Huỳnh Dương, thừa tình thế thuận lợi, cuốn như cuốn chiếu, uy thế vang lừng
trong thiên hạ. Tuy vậy, quân của họ bị khốn ở giữa miền đất Kinh, đất Sách, bị
núi Tây cản trở không sao tiến lên được [Ý nói bị chặn ở ngọn núi phía Tây
Thành Cao.], đã ba năm nay rồi. Vua Hán cầm mấy chục vạn quân, giữ đất Củng,
đất Lạc, dựa vào núi sông hiểm trở, nhưng một ngày đánh mấy lần vẫn không được chút
công lao gì, thua chạy không sao tự cứu, bị đánh bại ở Huỳnh Dương, bị thương ở
Thành Cao, sau đó chạy sang giữa miền đất Uyển đất Diệp, có thể nói là người
khôn hay người mạnh cũng đều bị khốn [Ý nói cả hai đều nguy khốn, người khôn
là chỉ Lưu Bang, người mạnh chỉ Hạng Vũ.]. Nay nhuệ khí bị nhụt ở trước cửa
ải hiểm trở, lương thực ở trong kho lại hết, trăm họ mỏi mệt, hết sức oán giận,
nháo nhác không nơi nương tựa. Theo tôi, tình thế này nếu không có kẻ hiền
thánh trong thiên hạ thì không sao dẹp nổi tai họa trong thiên hạ. Hiện nay
tính mạng của hai vua đều treo ở tay túc hạ. Túc hạ theo Hán thì Hán thắng,
theo Sở thì Sở thắng. Tôi xin phơi bày gan ruột, nói rõ lòng thành, trình bày
cái kế ngu muội của tôi, chỉ sợ túc hạ không biết dùng. Nếu quả túc hạ nghe
theo mưu kế của tôi, thì không gì bằng làm lợi cho cả đôi bên khiến họ đều sống,
chia ba thiên hạ, đứng theo thế vạc ba chân. Trong tình thế ấy thì cả hai bên
không ai dám động binh trước. Túc hạ là người hiền thánh, quân sĩ đông, giữ lấy
nước Tề hùng mạnh, bắt nước Yên, nước Triệu theo mình, xuất quân ra miền đất trống
ở đằng sau lưng họ mà kiềm chế hậu phương họ [Đây là nói đem quân từ Yên,
Triệu xuống phía Nam uy hiếp hậu phương của Lưu Bang và Hạng Vũ. Đó là nơi đất
trống vì không có quân đội của hai bên.], thuận theo dân mong muốn quay đầu
về hướng Tây để cho trăm họ được sống [Ý nói đem binh về hướng Tây khiến cho
quân Hán và quân Sở phải thôi không đánh nhau nữa do đó cứu sống được trăm họ.]
thì thiên hạ thế nào cũng chạy theo như gió thổi, như tiếng vang, còn ai dám
không nghe! Túc hạ cắt đất nước lớn, làm yếu nước mạnh, để lập chư hầu. Sau khi
chư hầu đã được lập, thiên hạ lại nghe theo mà cảm tạ ân đức của nước Tề. Túc hạ
cứ giữ lấy nước Tề cũ, nắm lấy đất Giao, đất Tứ, lấy đức của mình để vỗ về chư
hầu, kín đáo nhún nhường [Bên ngoài tỏ vẻ khiêm nhường để bảo vệ thực lực
bên trong.] thì các vua trong thiên hạ thế nào cũng kéo nhau đến chầu vua Tề
vậy. Tôi được nghe: “Trời cho mà không lấy, thì sẽ mang lấy tội, thời cơ đến mà
không theo thì sẽ mang lấy họa, xin túc hạ suy nghĩ cho kỹ”.
Hàn
Tín nói: -Vua Hán đối đãi tôi rất hậu, lấy xe của mình để cho tôi đi, lấy áo của
mình để cho tôi mặc, lấy cơm của mình để cho tôi ăn. Tôi nghe nói “đi xe người
ta thì lo điều lo của người ta, mặc áo của người ta thì mang điều lo nghĩ của
người ta, ăn cơm người ta thì chết cho công việc của người ta” [Lại dùng một
thành ngữ để đáp lại thành ngữ của Khoái Thông.]. Tôi lẽ nào lại chạy theo
lợi mà quên nghĩa?
Khoái
Thông nói: -Túc hạ tự cho là mình thân với vua Hán, muốn xây dựng cái công nghiệp
muôn đời. Tôi trộm cho thế là lầm [Vì Hàn Tín nói đến chuyện trung thành,
nên Khoái Thông đem những thí dụ về sự trung thành và thân tín ra bẻ lại.].
Xưa kia, lúc Thường Sơn Vương và Thành An Quân [Thường Sơn Vương tức là
Trương Nhĩ, Thành An Quân là Trần Dư (xem Hạng Vũ bản kỷ và Trương Nhĩ, Trần Dư
liệt truyện)] còn là kẻ áo vải thì cùng kết nghĩa, làm bạn sống chết có
nhau. Sau đó, vì câu chuyện cãi nhau về Trương Yêm, Trần Trạch mà hai người thù
oán nhau. Thường Sơn Vương phản lại Hạng Vương, mang đầu Hạng Anh bỏ trốn về với
Hán Vương. Hán Vương phái Thường Sơn Vương đem quân xuống miền Đông, giết Thành
An Quân ở phía Nam sông Kỳ, đầu một nơi, chân một nẻo. Rốt cục làm trò cười cho
thiên hạ. Hai người ấy chơi với nhau thân thiết nhất trong thiên hạ, rốt cục lại
giết lẫn nhau. Tại sao thế? Đó là vì ham muốn nhiều thì sinh lo nghĩ và lòng
người khó lường. Nay túc hạ muốn làm việc trung tín để kết giao với Hán Vương
thì thế nào tình bạn cũng không vững chắc hơn tình bạn của hai người kia. Đã thế,
công việc lại nhiều và lớn hơn việc Trương Yêm, Trần Trạch, cho nên tôi cho rằng
nếu túc hạ tin rằng Hán Vương thế nào cũng không làm hại mình là lầm to. Ngày
xưa, Phạm Lãi, đại phu Chủng làm cho nước Việt sắp mất được tồn tại, làm cho
Câu Tiễn dựng nên nghiệp bá, lập nên công, thành được danh, thế mà người thì chết,
kẻ thì bỏ trốn. Thú trong đồng nội đã hết thì chó săn bị nấu. Nói về mặt bạn bè
thân thiết thì túc hạ với Hán Vương không bằng Trương Nhĩ đối với Thành An
Quân. Nói về mặt trung tín thì chẳng qua như đại phu Chủng, Phạm Lãi đối với
Câu Tiễn là cùng, Túc hạ cứ xem hai người đó là đủ rõ. Xin túc hạ suy nghĩ cho
sâu. [Câu này nhắc đi nhắc lại nhiều lần có chủ ý.] Vả chăng, tôi nghe
nói [Một biện pháp khác của các thuyết khách không nói thẳng đó là ý của mình
mà gói ghém nói dưới hình thức châm ngôn, tục ngữ cho nó có cái vẻ dễ tin.]
dũng cảm mưu lược át cả chủ thì nguy đến thân, công lớn bao trùm cả thiên hạ
thì sẽ không được thưởng. Tôi xin nói về công lao và mưu lược của túc hạ. Túc hạ
vượt Tây Hà, cầm tù Ngụy vương, bắt Hạ Duyệt, đem quân xuống Tỉnh Hình, giết
Thành An Quân, chiêu hàng đất Triệu, uy hiếp đất Yên, bình định đất Tề, sang đất
Nam đánh gãy hai mươi vạn quân Sở, sang Đông giết Long Thư, quay về Tây để báo
công. Như thế có thể nói công ấy không có hai ở trong thiên hạ mà mưu lược ấy
không phải đời nào cũng có. Bây giờ túc hạ mang cái uy lấn át cả chủ, ôm cái
công không có cách nào thưởng, theo Sở thì người Sở không tin, về Hán thì người
Hán hoảng sợ. Túc hạ muốn mang cái công lao, cái mưu lược ấy về đâu? Mình ở địa
vị bầy tôi mà có cái uy lấn át cả chủ, có cái danh cao nhất trong thiên hạ, tôi
trộm thấy làm nguy cho túc hạ.
Hàn
Tín cảm ơn nói: -Tiên sinh hãy về nghỉ, tôi sẽ nghĩ lại xem.
Vài
ngày sau Khoái Thông lại đến, nói: -Nghe là để chuẩn bị mà làm [Tác giả lột
tả hết sức công phu ngôn ngữ của hạng thuyết khách. Họ thường gói ghém ý của họ
ở trong hình thức châm ngôn, nhìn bên ngoài cái vẻ khách quan vĩnh viễn bình thản
như một quyển sách đạo lý, nhưng có sức thuyết phục rất mạnh. Chỉ thấy bàn là
cách ngôn tục ngữ, so sánh vu vơ, không nhắc một chữ đến đối tượng. Mạnh Tử nhiều
lúc cũng viết như thế. Chú ý phần lớn là câu không chủ ngữ.], kế là then chất
của việc. Nghe sai, kế hỏng mà vẫn ở yên được lâu là việc ít có vậy. Người nghe
mà phân biệt được việc nên chăng, thì không thể dùng lời nói để làm rối loạn.
Bàn mưu mà không bỏ quên điều gốc và điều ngọn thì không thể lấy lời lẽ văn hoa
để làm rối loạn. Cam tâm làm phận sự của bọn tôi tớ thì sẽ mất cái quyền của người
muôn cỗ xe, cứ bo bo lấy cái lộc ít ỏi thì bỏ lỡ địa vị khanh tướng. Cho nên
kiên quyết là cái quyết định người khôn. Ngờ vực làm hại công việc, cứ xét cái
kế nhỏ tủn mủn thì sẽ bỏ sót việc lớn trong thiên hạ. Một khi trí đã biết rõ mà
không dám làm thì đó là điều gây nên mọi thứ tai họa. Cho nên có câu nói “con
mãnh hổ do dự không bằng con ong, con bọ cạp liều đốt. Ngựa ký dùng dằng không
bằng ngựa hèn bước chắc chắn. Mạnh Bôn hồ nghi không bằng con người tầm thường
kiên quyết đi đến mục đích. Khôn như Nghiêu, Thuấn mà ngậm miệng không nói thì
không bằng kẻ câm người điếc lấy ngón tay chỉ trỏ”. Những điều trên đây, nói rằng
cái quý là ở chỗ biết hành động. Đại phàm công lao thì khó thành mà dễ bại, thời
cơ thì khó được mà dễ mất. Ôi! Thời cơ không trở lại. Xin túc hạ xét rõ cho.
Hàn
Tín do dự không nỡ phản lại nhà Hán. Lại tự cho rằng mình lập được nhiều chiến
công, nhà Hán dẫu sao cũng không lấy mất nước Tề của mình. Bèn từ tạ Khoái
Thông.
Khoái
Thông nói không được, bèn giả điên, làm người thầy cúng.
Hán
Vương bị nguy khốn ở Cố Lăng, dùng kế của Trương Lương, triệu Tề Vương là Tín,
rồi đem binh họp nhau ở Cai Hạ. Sau khi Hạng Vũ đã bị phá, Cao Tổ cướp mất [Nguyên
văn: “Tập đoạt Tề Vương quân” theo nghĩa đen là đánh úp cướp mất quân của Tề
Vương. tức là nhân lúc Hàn Tín không phòng bị, Lưu Bang cướp mất binh quyền.
Câu này ám chỉ Lưu Bang đã xem Tín là đối thủ của mình.] quân của Tề Vương.
Năm thứ năm tháng giêng đời Hán (năm 202 trước Công nguyên) Cao Tổ dời Tề
Vương Tín làm Sở Vương, đóng đô ở Hạ Bì.
~
6. Hai lần bị vu làm phản, bị giáng chức rồi bị giết
Tín
về nước, cho gọi bà giặt vải đã cho mình ăn để thưởng ngàn vàng. Lại gọi đình
trưởng Nam Xương ở Hạ Hương thưởng một trăm quan tiền nói: -Ông là kẻ tiểu
nhân, làm ơn không trót.
Sai
gọi người thanh niên đã bắt Tín luồn qua háng cho làm trung úy nước Sở. Tín nói
với các tướng văn võ: -Hắn là tráng sĩ đấy, lúc hắn làm nhục ta, ta có phải
không giết được hắn đâu? Nhưng giết hắn thì không có danh nghĩa gì [Cũng như
nói không có lý do xác đáng.].
Viên
tướng bỏ trốn của Hạng Vương là Chung Ly Muội nhà ở núi Y Lô, Chung Ly Muội vốn
chơi thân với Tín. Sau khi Hạng Vương chết, Ly Muội bỏ trốn về với Tín. Hán
Vương giận Muội, nghe nói Muội ở Sở, ra chiếu cho Sở Vương bắt Muội. Tín mới về
đến nước, đi tuần hành ở các huyện các ấp nơi ra vào đều dàn binh sĩ hộ vệ. Năm
thứ sáu đời nhà Hán (năm 201 trước Công nguyên) có người đưa thư lên báo Sở
Vương Tín làm phản. Cao Đế dùng mưu kế của Trần Bình, thiên tử đi tuần thú hội
họp chư hầu. Ở phương Nam có đất Vân Mộng, Hán Vương sai sứ báo cho chư hầu sẽ
họp ở đất Trần: “Ta sẽ đi chơi Vân Mộng”. Kỳ thực nhà vua muốn bắt Tín, nhưng
Tín không biết.
Cao
Tổ sắp đến Sở, Tín muốn khởi binh làm phản, tự nghĩ mình vô tội [Hai câu này
ở liền nhau, trái hẳn nhau, chứng tỏ Tín không những không có tội mà lại không
có làm phản. Tất cả bài này đều có những câu biểu lộ tác giả không tin rằng Tín
làm phản.], muốn yết kiến nhà vua, nhưng sợ bị bắt.
Có
người nói với Tín: -Chém Muội để ra mắt nhà vua, nhà vua thế nào cũng mừng,
không có gì phải lo.
Tín
đến gặp Muội để bàn việc ấy, Muội nói: -Nhà Hán sở dĩ không dám đánh lấy Sở là
vì Muội ở nhà ông. Nay ông muốn bắt ta để nịnh nhà Hán, thì ta hôm nay chết
nhưng ông cũng chết theo như trở tay mà thôi.
Bèn
mắng Tín: -Nhà ngươi không phải bậc trưởng giả.
Sau
đó đâm cổ chết.
Tín
ôm đầu Muội ra mắt Cao Tổ ở đất Trần. Nhà vua sai võ sĩ trói Tín lại chở ở xe
sau.
Tín
nói: -Đúng như người ta nói: “Thỏ khôn hết thì chó giỏi bị nấu, chim cao hết
thì cung tốt bị cất, nước địch bị phá thì mưu thần hết đời”. Thiên hạ đã bình định
rồi, ta bị nấu là đáng lắm.
Nhà
vua nói: -Người ta bảo nhà ngươi làm phản.
Bèn
trói Tín. Đến Lạc Dương thì tha tội [Vì không có tội nên mới tha.] cho
Tín làm Hoài Âm Hầu. Tín biết Hán Vương sợ và ghét tài năng mình, cho nên thường
cáo bệnh không đi chầu. Tín vì vậy ngày đêm oán giận, vẫn thường bực bội, thẹn
thùng vì thấy mình đứng ngang hàng bọn Giáng, Quán [Giáng tức là Giáng Hầu Chu
Bột, Quán là Quán Anh.]. Tín thường qua chơi nhà tướng quân Phàn Khoái. Khoái
quỳ lạy đón và tiễn ra cửa, xưng là “thần”, nói: -Đại vương lại chịu quá bộ đến
nhà “thần” sao?
Tín
bước ra cửa, cười mà rằng: -Ta nay hóa ra ngang hàng với bọn Khoái.
Nhà
vua có lúc thung dung nói chuyện với Tín về tài năng của các tướng, xem tài
năng họ như thế nào. Nhà vua hỏi: -Như ta thì có thể cầm được bao nhiêu quân?
Tín
nói: -Bệ hạ chẳng qua chỉ cầm được mười van.
Nhà
vua hỏi: -Thế còn nhà ngươi thì cầm được bao nhiêu?
-Thần
thì càng nhiều càng tốt?
Nhà
vua cười nói: -Càng nhiều càng tốt thì sao lại bị ta bắt.
Tín
nói: -Bệ hạ không thể cầm quân, nhưng giỏi chỉ huy các tướng, vì vậy cho nên
Tín mới bị bệ hạ bắt. Vả chăng có thể nói là trời trao cho bệ hạ, chứ không phải
sức người có thể làm được.
Trần
Hy được bổ làm thái thú ở Cự Lộc. Hy từ giã Hoài Âm Hầu. Hoài Âm Hầu nắm lấy
tay Hy, đuổi những người xung quanh, cùng Hy dạo bước ở ngoài sân. Tín ngẩng đầu
lên trời thở dài mà rằng: -Ta có thể nói với nhà ngươi được không? Ta muốn nói
với nhà ngươi một lời.
Hy
đáp: -Xin tướng quân chỉ giáo.
Hoài
Âm Hầu nói: -Chỗ nhà ngươi ở là nơi tinh binh trong thiên hạ ở đấy. Nhà ngươi lại
là người tôi được bệ hạ tin yêu. Nếu người ta nói nhà ngươi làm phản thì thế
nào bệ hạ cũng không tin. Nói lần thứ hai thì bệ hạ sẽ nghi. Nói lần thứ ba thì
thế nào bệ hạ cũng nổi giận, mà thân hành cầm quân. Ta vì nhà ngươi từ bên
trong nổi dậy, thì có thể lấy được thiên hạ.
Trần
Hy vốn biết tài năng Hàn Tín cho nên tin theo, nói: -Xin vâng lời chỉ giáo [Về
cái tội của Tín đó là một nghi án. Sách Sử ký chí nghi của Lương Ngọc Thắng
nói: Tín chết oan vậy! Những người hiền ngày trước đều thấy ông không có tội trạng
gì tỏ ra làm phản chỉ có mấy lời tố giác vu vơ đấy thôi ... Qua Sử ký, dựa vào
giấy tờ làm án mà viết ra cũng thấy rõ là sai. Bữa cơm ngàn vàng, cởi áo nhường
cơm, lẽ nào phụ bạc Cao Đế. Không nghe Thiệp, Thông, không giữ quân làm vua đất
Tề thì thế nào cũng không làm liều khi nhà ở Hoài Âm. Không nghĩ đến việc liên
kết các vua lớn như Kinh Bố, Bành Việt thì ắt không giao ước dễ dàng với viên
tướng ở ngoài biên giới xa xôi ... Ai nghe lời nói “khi nắm tay đuổi người xung
quanh ra”, việc mưu phản chưa chắc lại sơ xuất như vậy? Số người và năng lực bọn
tôi tớ bao lăm, Tín tất không dùng họ một cách liều lĩnh. Mới hay Cao Tổ sợ Tín
không phải một sớm một chiều, Trương Lương giẫm vào gót chân, ghé tai mà nói ở
Vu Thai, Cao Tổ cướp binh phù, đoạt quân dội, bắt trói cũng chưa cho là vừa, giết
cả họ mới mừng. Xét câu: “Dẹp xong quân Trần Hy trở về vừa mừng vừa thương”, đủ
rõ Tín không có tội mà chết.].
Năm
thứ mười một nhà Hán (năm 116 trước Công nguyên). Trần Hy quả nhiên làm phản.
Nhà vua thân hành làm tướng, đem quân đi. Tín cáo bệnh không đi theo, ngầm sai
người đến nói với Trần Hy: -Ông cứ cử binh, tôi ở đây sẽ giúp ông.
Tín
bèn bàn mưu với các gia thần đang đêm giả làm chiếu nhà vua tha những người phạm
tội và làm nô lệ của nhà nước, muốn dùng họ để đánh úp Lữ Hậu và thái tử. Bố
trí đã xong xuôi, đợi Hy báo tin. Người môn hạ có tội với Tín bị Tín bỏ tù, muốn
giết đi. Em của người này ra đầu thú báo tin, tố cáo Tín muốn làm phản. Lữ Hậu
muốn gọi Tín vào, nhưng sợ đảng của Tín đông, Tín không đến, nên bàn với tướng
quốc Tiêu Hà, giả vờ sai người từ chỗ vua ở về nói rằng Hy đã chết, các chư hầu,
các quan đều đến mừng. Tướng quốc lừa Tín: -Tuy ngài ốm, cũng xin cố gắng vào mừng.
Tín
vào, Lữ Hậu sai võ sĩ trói Tín, chém ở nhà treo chuông trong cung Trường Lạc.
Lúc sắp bị chém, Tín nói: -Ta hối hận không dùng mưu kế của Khoái Thông, cho
nên mới bị bọn đàn bà con nít lừa dối. Há chẳng phái là vì trời muốn thế hay
sao?
Lữ
Hậu bèn giết cả ba họ nhà Tín. Sau khi Cao Tổ đã dẹp xong quân của Trần Hy trở
về kinh đô, thấy Tín đã chết nhà vua vừa mừng vừa thương hỏi: -Lúc chết, Tín có
nói gì?
Lữ
Hậu nói: -Tín nói tiếc không dùng mưu kế của Khoải Thông.
Cao
Tổ nói: -Khoái Thông là người biện sĩ của nước Tề.
Bèn
ra chiếu cho nước Tề bắt Khoái Thông. Khoái Thông đến, nhà vua nói: -Nhà ngươi
dạy cho Hoài Âm Hầu làm phản phải không?
-Vâng,
tôi có dạy cho hắn, thằng trẻ ranh kia không dùng kế của tôi cho nên đến nông nỗi
này. Giá nó dùng kế của tôi thì bệ hạ làm sao diệt nó được.
Nhà
vua nổi giận nói: -Đem nấu nó đi.
Thông
nói: -Trời ơi! Bị nấu thật là oan.
Nhà
vua nói: -Nhà ngươi dạy cho Hàn Tín làm phản còn oan uổng nỗi gì nữa?
Thông
nói: -Kỷ cương nhà Tần bị đứt, miền Sơn Đông nổi loạn, các miền khác đều nổi
lên. Các anh hùng tuấn kiệt họp lại nhiều như quạ. Nhà Tần mất con hươu, thiên
hạ cùng nhau đuổi bắt [Lộc: Con hươu chỉ địa vị đế vương, vì nó đồng âm với
lộc là tước lộc lại có nghĩa là địa vị.]. Lúc bấy giờ ai tài cao, chân
nhanh thì bắt được trước. “Chó của Chích [Chích: Tên người ăn trộm hung ác
trong truyền thuyết cổ.] cắn vua Nghiêu không phải vì vua Nghiêu bất nhân,
nhưng là chó thì bất kỳ ai không phải chủ của nó là nó cắn”. Lúc bấy giờ thần
chỉ biết có Hàn Tín, không biết có bệ hạ. Vả chăng những kẻ mài giáo, cầm mũi
nhọn, muốn làm điều bệ hạ đã làm cũng rất nhiều, nhưng chỉ vì họ không đủ sức đấy
thôi. Bệ hạ có thể nấu tất cả dược không?
Cao
Đế nói: -Tha cho hắn.
Bèn
tha tội cho Thông.
~
7. Lời bàn
Thái
sử công nói: -Tôi sang đất Hoài Âm, người Hoài Âm nói với tôi: lúc Hàn Tín còn
là kẻ áo vải, chí khí ông ta khác người thường. Mẹ ông mất, nhà nghèo không có
gì chôn, nhưng ông vẫn sang sửa cất vào chỗ cao ráo để bên cạnh mộ có thể chứa
nổi vạn nhà. Tôi xem mả người mẹ ông ta, quả có thế thực. Cứ gì Hàn Tín biết học
đạo [Đạo: Đây chỉ đạo của Lão Tử: Đạo đức kinh: “Không khoe nịnh nên có
công, không tự phụ nên sống láu”. Ý trách Hàn Tín sao không làm như Trương
Lương.] nhún nhường, không khoe công lao của mình không tự phụ tài năng của
mình, thì ngõ hầu công ông ta đối với nhà Hán có thể sánh ngang với Chu Công,
Thái Công, Thiệu Công và đến đời sau vẫn được cúng tế. Nhưng ông không lo làm
thế. Thiên hạ đã định rồi, lại mưu việc phản nghịch kia chứ! Dòng họ bị giết,
chẳng phải đáng đời sao! [Văn của Tư Mã Thiên bắt chước văn Xuân Thu. Lời
nói kín đáo, nếu đọc qua thì hiểu lệch ngay. Đây là văn mỉa mai, cảm thương cho
cái tài, cái công vô song của Hàn Tín và uất ức cho cảnh ngộ của vị anh hùng.
Cho nên nói: “đã định rồi lại mưu phản nghịch kia chứ”, thực ra Hàn Tín đâu đến
nỗi ngu như vậy. Vì vậy nói “đáng đời”. Đó là giọng nói uất ức trách Lưu Bang,
tệ bạc không đối xử với Tín như Vũ Vương đối xử với Chu Công. Thái độ cho Hàn
Tín ngang với Chu Công xứng đáng xếp Tư Mã Thiên vào hàng du hiệp!].
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét