2023-02-25

Tôn Tử binh pháp: V. Thiên thế - Tôn Vũ

2023-02-25

Tôn Tử binh pháp: V. Thiên thế

Tôn Vũ

Dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện

~

·      V. Thiên thế (dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện)

·      Chapter V. ENERGY (in “Sun Tzŭ on The Art of War”, translator: Lionel Giles) – nguồn: https://www.gutenberg.org/

~


 

V. Thiên hình

Tào-Công rằng: dùng binh khiến thế.

Vương-Tích rằng: thế là dồn tích cái thế nó biến đổi. Người thiện chiến thì biết dùng thế để thu lấy phần thắng không phải nhọc sức.

Trương Dự rằng: thế binh gây thành, rồi sau dùng thế để thu lấy phần thắng cho nên ở dưới thiên hình.

 

Tôn tử nói: phàm trị nhiều như trị ít, bởi vì đã có phân số.

Tào-Công rằng: bộ khúc là phân; thập ngũ là số.

Lý-Thuyên rằng: phàm giỏi dùng binh, tướng khua một tiếng chiêng, cất một ngọn cờ thì ba quân đều ứng theo hết, hiệu lịnh đã định thì tuy nhiều cũng như ít vậy.

Đỗ-Mục rằng: phân là chia biệt, số là số người, nói bộ khúc hàng ngũ đều phân biệt số người nhiều ít, cất dùng các chức thiên, tỳ, trưởng, ngũ, mọi sự huấn luyện thăng giáng đều giao phó cho, cho nên ta chỉ phải trông coi có ít. Tức như Hàn Tín nói nhiều nhiều càng tốt đó.

Trần Hạo rằng: số binh tụ họp đã nhiều thì nên chia ra nhiều bộ ngũ, trong mỗi bộ ngũ, đều có một kẻ tiểu lại để chủ trương, cho nên chia ra số người khiến giữ việc huấn luyện quyết đoán, gặp giặc, ra trận thì trao cho phương lược, như vậy thì ta thống quản tuy nhiều mà chỉ phải coi trị có ít.

Vương-Tích rằng: phân số là nói bộ khúc, những chức thiên tỳ đều có bộ phận cùng nhân số ở dưới quyền mình như sư, lữ, tốt, lưỡng chẳng hạn.

Trương-Dự rằng: thống quân đã nhiều, tất trước phải chia ra những chức thiên tỳ, định ra cái số hàng ngũ, khiến không lộn xộn rồi sau mới có thể dùng được. Cho nên cái phép trị binh, một người là độc hai người là ty, ba người là tham, ty cùng tham hợp lại là ngũ, năm người là liệt, hai liệt là hỏa, năm hỏa là đội, hai đội là quan, hai quan là khúc, hai khúc là bộ, hai bộ là hiệu, hai hiệu là tỳ, hai tỳ là quân, bậc nọ thống thuộc vào bậc kia, đều riêng giữ việc huấn luyện, tuy trị quân trăm vạn cũng như là trị ít vậy.

 

Ba quân đông đúc, có thể khiến thụ địch cả mà không thua, bởi vì đã có kỳ chính.

Tào-Công rằng: ra trước hợp đánh là chính, ra sau là kỳ.

Lý-Thuyên rằng: đạo quân đối địch giữa mặt giặc là chính, đạo quân chà chạnh là kỳ. Đem ba quân đi mà không có kỳ binh, chưa thể cùng người tranh giành phần lợi được. Đời Hán, Ngô-vương-Ty đem quân vào thành Đại-lương, tướng Ngô là Điền-bá-Lộc nói với Ngô-vương rằng: quân chụm cả lại để tiến về phía tây, không có một đạo kỳ binh nào thì khó mà lập công được. Thần xin được đem 5 vạn người, do ngả sông Giang sông Hoài mà tiến lên thu lấy Hoài-nam, Tràng-sa rồi tiến vào Võ-quan, cùng với Đại-vương hội họp. Đó cũng là một đạo kỳ binh. Ngô-vương không nghe, bèn bị Chu Á-Phu đánh bại. Đó là có chính mà không kỳ.

Giả-Lâm rằng: cản giặc thì dùng chính trận, thủ thắng thì dùng kỳ binh, trước sau tả hữu đều có thể tiếp ứng nhau được, như thế thì thường được mà không thua vậy.

Mai Nghiêu-Thần rằng: động là kỳ, tĩnh là chính, tĩnh để đợi, động để thắng.

Trương Dự rằng: Ba quân tuy đông, nhưng khiến người người đều thụ địch cả mà không thua là bởi ở có kỳ có chính. Cái thuyết kỳ chính, các nhà nói không giống nhau. Úy-liêu-tử thì nói: Chính binh quý ở đi trước, kỳ binh quý ở đi sau; Tào Công thì nói: ra trước hợp đánh là chính, ra sau là kỳ; Lý Vệ-công thì nói: binh lấy tiến về trước là chính, lùi lại sau là kỳ, đó đều là lấy chính làm chính, lấy kỳ làm kỳ, chứ không nói đến cái nghĩa tuần hoàn biến đổi. Duy Đường Thái-tông nói: lấy kỳ làm chính, khiến cho kẻ địch coi làm kỳ, rồi ta mới lấy chính mà đánh, hỗn hợp lại làm một phép, khiến cho quân địch không lường được. Lời nói ấy thật là rất tường.

 

Binh đánh vào đâu, như lấy hòn đá gieo vào quả trứng, cái hư cái thực như vậy.

Tào-Công rằng: Lấy cái chí thực đánh cái chí hư.

Họ Mạnh rằng: Binh nếu huấn luyện thành thục, bộ đội phân minh, lại biết liệu rõ địch tình, biết tường hư thực, sau mới đem binh tới đánh, thực không khác gì lấy hòn đá đập vào quả trứng.

Trương Dự rằng: Thiên dưới nói: Người thiện chiến thì làm cho người phải đến mà mình không phải tự đến, ấy là cái phép hư với thực, người với ta đó. Nhử bên địch đến thì thế họ thường lui mình không phải đến thì thế mình thường thực, lấy thực đánh hư như cầm hòn đá đập quả trứng, sự vỡ là chắc chắn lắm. Nay hợp quân tụ lính, trước phải định về phân số, phân số rõ rồi sau tập về hình danh hình danh chính rồi sau chia ra kỳ chính, kỳ chính tỏ rồi sau hư thực sẽ rõ vậy. Ấy bốn việc sở dĩ thứ tự là như thế.

 

Phàm chiến đấu, lấy đạo chính để hợp, lấy đạo kỳ để thắng.

Tào Công rằng: Chính thì trọi thẳng với quân địch kỳ thì do bên cạnh mà đánh chỗ họ không phòng bị.

Mai Nghiêu-Thần rằng: dùng quân chính để hợp chiến [1], dùng quân kỳ để thắng địch.

Họ Hà rằng: Như đời Chiến-quốc, Liêm Pha làm tướng nước Triệu, sứ-giả nước Tần đến nói phản gián rằng: Tần chỉ sợ nhất có Triệu Quát mà thôi, chứ Liêm Pha thì dễ trị lắm, sẽ hàng ngay đấy. Nhân lúc quân Pha trốn bỏ mất nhiều, đánh nhau thường bị thua luôn, Pha bèn đóng vững không ra đánh. Vua Triệu thấy thế lại nghe lời phản gián của Tần, bèn cử Quát để thay cho Pha. Quát đến thì đem quân đánh Tần, quân Tần giả vờ thua mà chạy rồi phái hai đạo kỳ binh để chờ đánh úp. Quân Triệu đuổi tràn đến sát tận lũy Tần, lũy bền chống vững không thể vào được, rồi chợt 2 vạn 5 nghìn kỳ binh của Tần chặn sau quân Triệu, lại 5 nghìn quân kỵ nữa chặn gần lũy Triệu. Quân Triệu bị chia làm hai, đường lương nghẽn đứt, Quát phải thua vỡ.

Trương Dự rằng: Hai quân gặp nhau, trước lấy quân chiến để cùng nhau hợp chiến, rồi mới phái những kỳ binh, hoặc sấn vào bên cạnh, hoặc đánh vào phía sau, để mà thủ thắng, như Trịnh Bá chống quân nước Yên lấy ba quân dàn ở mặt trước, rồi đem quân ngầm đánh ở mặt sau đó.

 

Cho nên người giỏi đánh lối kỳ-binh thì vô cùng như là giời đất.

Lý-Thuyên rằng: Nói sự động tĩnh.

 

Bất kiệt như là sông nguồn.

Đỗ Hựu rằng: Nói sự ứng biến xuất kỳ không biết đâu là cùng kiệt.

Lý Thuyên rằng: nói lưu thông bất tuyệt.

 

Sau rồi lại trước là nhật nguyệt, chết rồi lại sống là bốn mùa.

Trương Dự rằng: Nhật nguyệt vần xoay, lặn rồi lại mọc, bốn mùa thay đổi, thịnh rồi lại suy, nói ví với kỳ chính hóa, phân vân trẫn trộn, sau trước không cùng vậy.

 

Tiếng không quá năm.

Lý Thuyên rằng: Tiếng có năm bậc là cung, thương, giốc, chủy, vũ.

 

Thế mà năm tiếng biến hóa thì không thể xiết nghe.

Lý Thuyên rằng: Khi năm tiếng ấy biến vào bát âm thì những khúc nhạc tấu thật không nghe hết.

 

Sắc không quá năm.

Lý Thuyên rằng: sắc có năm là xanh, vàng, đỏ, trắng, đen.

 

Thế mà năm sắc biến hóa thì không thể xiết xem.

 

Vị không quá năm.

Lý-Thuyên rằng: năm vị là chua, cay, mặn, ngọt, đắng.

 

Thế mà năm vị biến hóa thì không thể xiết nếm.

Tào-Công rằng: từ câu vô cùng như giời đất trở xuống đều là ví sự vô cùng của kỳ với chính.

Đỗ-Mục rằng: từ câu vô cùng như giời đất giở xuống đều là ví sự kỳ chính của bát trận.

Trương-Dự rằng: dẫn nói sự biến hóa của năm tiếng, năm sắc, năm vị để ví những phép kỳ chính sinh đẻ ra vô cùng.

 

Kỳ chính cái nọ đẻ ra cái kia, như cái vòng xoay tròn không có đầu mối, chẳng thể nào cùng được.

Lý-Thuyên rằng: kỳ chính dựa vào nhau mà sinh ra như cái vòng xoay tròn không biết đến đâu là chỗ cùng.

Trương-Dự rằng: kỳ cùng là chính, chính cùng là kỳ, biến hóa mà cùng sinh ra nhau, như quay một cái vòng không có gốc ngọn, còn đi đến chỗ cùng sao được.

 

Loạn sinh ra ở trị, nhát sinh ra ở mạnh, yếu sinh ra ở khỏe.

Lý Thuyên rằng: Cậy rằng đã trị, không chịu vỗ về người dưới để nhiều người oán, loạn tất phải sinh.

Đỗ Mục rằng: Nói muốn vờ làm vẻ loạn để nhử kẻ địch, trước phải rất trị, rồi sau mới có thể vờ loạn được; muốn vờ làm vẻ nhát để dò kẻ địch trước phải rất mạnh, rồi sau mới có thể vờ nhát được; muốn vờ làm vẻ yếu để nống kẻ địch, trước phải rất khỏe, rồi sau mới có thể vờ yếu được.

Mai Nghiêu Thần rằng: Trị thì có thể giả làm loạn, mạnh thì có thể giả làm nhát, khỏe thì có thể giả làm yếu.

Họ Hà rằng: Đó là nói khi giao chiến làm ra những binh thế kỳ chính để phá quân địch. Quân ta vốn trị tướng ta vốn mạnh, thế ta vốn khỏe, nhưng nếu không giấu cái trị, cái mạnh, cái khỏe, thì sao nhử được quân địch đến?

 

Mạnh nhát là ở thế.

Lý Thuyên rằng: Việc binh hễ được thế thì nhát cũng hóa mạnh, mất thế thì mạnh cũng hóa nhát. Binh pháp không có nhất định, chỉ nhân ở thế mà thành đó mà thôi.

Trần Hạo rằng: Mạnh là hăm hở, nhát là rụt rè. Kẻ địch thấy ta muốn tiến lại không tiến, bèn cho ta là nhát, tất có cái bụng khinh thường.

Ta nhân sự trễ nải của họ, mượn thế để đánh.

Trương Dự rằng: thực mạnh mà giả vờ là nhát, nhân ở cái thế. Tướng Ngụy là Bàng-Quyên đi đánh nước Hàn, tướng Tề là Điền Kỵ đi cứu, Tôn Tẫn bảo với Kỵ rằng: quân Tam Tấn vốn mạnh tợn mà khinh nước Tề, Tề vẫn mang tiếng là nhát. Kẻ thiện chiến là phải biết nhân cái thế mà khơi lấy lối lợi cho mình. Bèn đem quân Tề vào đất Ngụy, rồi hằng ngày cứ giảm dần số bếp. Quyên nghe thấy cả mừng mà rằng: Ta vốn biết Tề vẫn nhát mà! Bèn đi gấp đường đuổi theo, rồi bị đánh thua ở Mã-lăng.

 

Khỏe yếu là ở hình.

Đỗ-Mục rằng: lấy khỏe làm yếu, phải tỏ ra ở hình, như chúa Hung-nô đem những quân già yếu phô ra với Lâu-Kính đó.

Vương-Tích rằng: khỏe yếu là ở cái hình biến đổi.

Trương-Dự rằng: thực khỏe mà vờ tỏ ra yếu là thấy ở hình. Hán-Cao-Tổ muốn đánh Hung-nô, sai sứ đi dò thăm xem. Hung-nô giấu hết những lính khỏe ngựa béo, chỉ bầy ra những người gầy vật ốm. Sứ giả mười bọn đi về, đều nói là nên đánh. Duy Lâu-Kính nói: hai nước đánh nhau, nên phô phang ra những cái giỏi cái hay, nay họ chỉ phô bầy những cái già yếu, vậy chắc là có kỳ binh, ta không nên đánh. Vua không nghe, rồi quả bị vây ở Bạch-đăng.

 

Cho nên hễ khéo khêu động bên địch, phải tỏ ra ở cái hình, bên địch tất theo.

Tào-Công rằng: tỏ ra cái hình gầy yếu.

Lý-Thuyên rằng: khéo nhử kẻ địch thì có thể khiến kẻ địch phải tiến hay phải thoái. Quân Tấn sang đánh Tề, dọn dẹp núi đầm, tuy chỗ không đến cũng cắm cờ dàn trận lưa thưa, lại kéo củi theo nữa. Người Tề trèo lên núi để trông quân Tấn, thấy cờ quạt phơi phới và cát bụi mịt mù, cho là quân Tấn rất nhiều, đương đêm phải lẻn trốn. Nước Tề sang đánh nước Ngụy, tướng Tề là Điền-Kỵ dùng mưu của Tôn-Tẫn, giảm bếp mà kéo đến Đại-Lương. Tướng Ngụy là Bàng-Quyên đuổi theo và nói: quân Tề sao mà nhát thế? Vào cõi nước ta, trốn đi dần dõi mất đến nửa. Rồi đến Mã-lăng, bị quân Tề đánh bại, Bàng-Quyên phải giết, và Thái-tử Ngụy bị bắt sống. Ấy cái hình tỏ ra yếu kém, mà quân địch theo ngay như thế đấy.

Đỗ-Mục rằng: không phải chỉ phô ra cái hình gầy yếu mà thôi. Đây nói ta mạnh mà địch yếu thì ta phô ra cái hình gầy yếu, để khêu động cho họ lại; nhưng nếu ta yếu mà địch mạnh thì ta phải phô ra cái hình khỏe mạnh để khêu động cho họ đi. Sự động tác của kẻ địch, đều phải theo ta chầm chập. Tôn-Tẫn nói: nước Tề mang tiếng là nhát, bọn ba nước Tấn họ vẫn coi khinh. Nay sai vào cõi đất nước Ngụy làm 10 vạn bếp ngày hôm sau làm rút xuống 5 vạn bếp. Bàng Quyên nước Ngụy thấy thế đem quân đuổi mà nói: Quân Tề sao mà nhát thế, vào nước ta, lính tráng bỏ trốn đến quá nửa. Nhân đuổi theo gấp, đến con đường hẹp ở Mã-lăng. Tại đấy, Tẫn đã đẽo vỏ thân cây viết vào mấy chữ rằng: « Bàng-Quyên chết ở dưới cây này ». Và cho những tay nỏ phục ở cạnh đấy, ra lệnh rằng: hễ thấy lửa sáng thì tức là Quyên đến, bật lửa để đọc, vậy muôn nỏ đều chĩa cả vào mà bắn. Bàng-Quyên quả phải chết ở đấy. Đó là tỏ cái hình gầy yếu để khêu động Bàng-Quyên, khiến phải theo mình mà đi vào đường chết.

 

Ta cho, kẻ địch tất lấy.

Tào-Công rằng: lấy lợi nhử kẻ địch, họ sẽ phải rời bỏ đồn lũy, ta lấy cái thế tiện mà đánh vào chỗ trống trải trơ trọi.

Đỗ-Mục rằng: Tào-Công cùng Viên-Thiệu giữ nhau ở Quan-độ, Tào-Công men sông đi về phía tây, Thiệu qua sông đuổi theo. Công đóng trại ở Nam-bản, xuống ngựa cổi yên. Bấy giờ xe ngựa đồ đạc bừa bãi ở đường, các tướng bảo quân kỵ của địch kéo đến rất nhiều, chi bằng thu xếp đem về trại. Tuân-Du nói: các đó cốt để nhử quân địch, sao lại đem về. Tướng Thiệu là Văn-Xú cùng Lưu-Bị đem 5, 6 nghìn quân kỵ trước sau tiếp đến, có những toán xô nhau đến lấy các đồ quân dụng. Tào-Công nói: được rồi. Bèn đều lên ngựa. Quân kỵ của Tào chỉ có không đầy 6 trăm người mà cả phá được quân Viên-Thiệu, chém chết Văn-Xú.

 

Cho nên kẻ thiện chiến, chỉ tìm ở thế chứ không trách ở người.

Đỗ-Hựu rằng: nói cái đạo được thua tự mưu ở trong chứ không trách ở người dưới. Trách ở người dưới là gắt gưởi tướng sĩ bắt phải cố đánh.

Chú thích

[1] Hai bên dàn trận rồi xô vào đánh nhau là hợp chiến.

 

➖➖➖


Chapter V. ENERGY

Sun Tzŭ on The Art of War

Translator: Lionel Giles

~

1. Sun Tzŭ said: The control of a large force is the same principle as the control of a few men: it is merely a question of dividing up their numbers.

[That is, cutting up the army into regiments, companies, etc., with subordinate officers in command of each. Tu Mu reminds us of Han Hsin’s famous reply to the first Han Emperor, who once said to him: "How large an army do you think I could lead?" "Not more than 100,000 men, your Majesty." "And you?" asked the Emperor. "Oh!" he answered, "the more the better."]

2. Fighting with a large army under your command is nowise different from fighting with a small one: it is merely a question of instituting signs and signals.

3. To ensure that your whole host may withstand the brunt of the enemy’s attack and remain unshaken—this is effected by manœuvers direct and indirect.

[We now come to one of the most interesting parts of Sun Tzŭ’s treatise, the discussion of the cheng and the ch’i." As it is by no means easy to grasp the full significance of these two terms, or to render them consistently by good English equivalents; it may be as well to tabulate some of the commentators’ remarks on the subject before proceeding further. Li Ch’uan: "Facing the enemy is cheng, making lateral diversion is ch’i. Chia Lin: "In presence of the enemy, your troops should be arrayed in normal fashion, but in order to secure victory abnormal manœuvers must be employed." Mei Yao-ch’en: "Ch’i is active, cheng is passive; passivity means waiting for an opportunity, activity brings the victory itself." Ho Shih: "We must cause the enemy to regard our straightforward attack as one that is secretly designed, and vice versa; thus cheng may also be ch’i, and ch’i may also be cheng." He instances the famous exploit of Han Hsin, who when marching ostensibly against Lin-chin (now Chao-i in Shensi), suddenly threw a large force across the Yellow River in wooden tubs, utterly disconcerting his opponent. [Ch’ien Han Shu, ch. 3.] Here, we are told, the march on Lin-chin was cheng, and the surprise manœuver was ch’i." Chang Yu gives the following summary of opinions on the words: "Military writers do not agree with regard to the meaning of ch’i and cheng. Wei Liao Tzŭ [4th cent. B.C.] says: ‘Direct warfare favours frontal attacks, indirect warfare attacks from the rear.’ Ts’ao Kung says: ‘Going straight out to join battle is a direct operation; appearing on the enemy’s rear is an indirect manœuver.’ Li Wei-kung [6th and 7th cent. A.D.] says: ‘In war, to march straight ahead is cheng; turning movements, on the other hand, are ch’i.’ These writers simply regard cheng as cheng, and ch’i as ch’i; they do not note that the two are mutually interchangeable and run into each other like the two sides of a circle [see infra, § 11]. A comment on the T’ang Emperor T’ai Tsung goes to the root of the matter: ‘A ch’i manœuver may be cheng, if we make the enemy look upon it as cheng; then our real attack will be ch’i, and vice versa. The whole secret lies in confusing the enemy, so that he cannot fathom our real intent.’" To put it perhaps a little more clearly: any attack or other operation is cheng, on which the enemy has had his attention fixed; whereas that is ch’i," which takes him by surprise or comes from an unexpected quarter. If the enemy perceives a movement which is meant to be ch’i," it immediately becomes cheng."]

4. That the impact of your army may be like a grindstone dashed against an egg—this is effected by the science of weak points and strong.

5. In all fighting, the direct method may be used for joining battle, but indirect methods will be needed in order to secure victory.

[Chang Yu says: "Steadily develop indirect tactics, either by pounding the enemy’s flanks or falling on his rear." A brilliant example of "indirect tactics" which decided the fortunes of a campaign was Lord Roberts’ night march round the Peiwar Kotal in the second Afghan war. [1]]

6. Indirect tactics, efficiently applied, are inexhausible as Heaven and Earth, unending as the flow of rivers and streams; like the sun and moon, they end but to begin anew; like the four seasons, they pass away but to return once more.

[Tu Yu and Chang Yu understand this of the permutations of ch’i and cheng. But at present Sun Tzŭ is not speaking of cheng at all, unless, indeed, we suppose with Cheng Yu-hsien that a clause relating to it has fallen out of the text. Of course, as has already been pointed out, the two are so inextricably interwoven in all military operations, that they cannot really be considered apart. Here we simply have an expression, in figurative language, of the almost infinite resource of a great leader.]

7. There are not more than five musical notes, yet the combinations of these five give rise to more melodies than can ever be heard.

8. There are not more than five primary colours (blue, yellow, red, white, and black), yet in combination they produce more hues than can ever be seen.

9 There are not more than five cardinal tastes (sour, acrid, salt, sweet, bitter), yet combinations of them yield more flavours than can ever be tasted.

10. In battle, there are not more than two methods of attack—the direct and the indirect; yet these two in combination give rise to an endless series of manœuvers.

11. The direct and the indirect lead on to each other in turn. It is like moving in a circle—you never come to an end. Who can exhaust the possibilities of their combination?

12. The onset of troops is like the rush of a torrent which will even roll stones along in its course.

13. The quality of decision is like the well-timed swoop of a falcon which enables it to strike and destroy its victim.

[The Chinese here is tricky and a certain key word in the context it is used defies the best efforts of the translator. Tu Mu defines this word as "the measurement or estimation of distance." But this meaning does not quite fit the illustrative simile in §. 15. Applying this definition to the falcon, it seems to me to denote that instinct of self-restraint which keeps the bird from swooping on its quarry until the right moment, together with the power of judging when the right moment has arrived. The analogous quality in soldiers is the highly important one of being able to reserve their fire until the very instant at which it will be most effective. When the "Victory" went into action at Trafalgar at hardly more than drifting pace, she was for several minutes exposed to a storm of shot and shell before replying with a single gun. Nelson coolly waited until he was within close range, when the broadside he brought to bear worked fearful havoc on the enemy’s nearest ships.]

14. Therefore the good fighter will be terrible in his onset, and prompt in his decision.

[The word "decision" would have reference to the measurement of distance mentioned above, letting the enemy get near before striking. But I cannot help thinking that Sun Tzŭ meant to use the word in a figurative sense comparable to our own idiom "short and sharp." Cf. Wang Hsi’s note, which after describing the falcon’s mode of attack, proceeds: "This is just how the ‘psychological moment’ should be seized in war."]

15. Energy may be likened to the bending of a crossbow; decision, to the releasing of the trigger.

[None of the commentators seem to grasp the real point of the simile of energy and the force stored up in the bent cross-bow until released by the finger on the trigger.]

16. Amid the turmoil and tumult of battle, there may be seeming disorder and yet no real disorder at all; amid confusion and chaos, your array may be without head or tail, yet it will be proof against defeat.

[Mei Yao-ch’en says: "The subdivisions of the army having been previously fixed, and the various signals agreed upon, the separating and joining, the dispersing and collecting which will take place in the course of a battle, may give the appearance of disorder when no real disorder is possible. Your formation may be without head or tail, your dispositions all topsy-turvy, and yet a rout of your forces quite out of the question."]

17. Simulated disorder postulates perfect discipline; simulated fear postulates courage; simulated weakness postulates strength.

[In order to make the translation intelligible, it is necessary to tone down the sharply paradoxical form of the original. Ts’ao Kung throws out a hint of the meaning in his brief note: "These things all serve to destroy formation and conceal one’s condition." But Tu Mu is the first to put it quite plainly: "If you wish to feign confusion in order to lure the enemy on, you must first have perfect discipline; if you wish to display timidity in order to entrap the enemy, you must have extreme courage; if you wish to parade your weakness in order to make the enemy over-confident, you must have exceeding strength."]

18. Hiding order beneath the cloak of disorder is simply a question of subdivision;

[See supra, § 1.]

concealing courage under a show of timidity presupposes a fund of latent energy;

[The commentators strongly understand a certain Chinese word here differently than anywhere else in this chapter. Thus Tu Mu says: "seeing that we are favourably circumstanced and yet make no move, the enemy will believe that we are really afraid."]

masking strength with weakness is to be effected by tactical dispositions.

[Chang Yu relates the following anecdote of Kao Tsu, the first Han Emperor: “Wishing to crush the Hsiung-nu, he sent out spies to report on their condition. But the Hsiung-nu, forewarned, carefully concealed all their able-bodied men and well-fed horses, and only allowed infirm soldiers and emaciated cattle to be seen. The result was that spies one and all recommended the Emperor to deliver his attack. Lou Ching alone opposed them, saying: ‘When two countries go to war, they are naturally inclined to make an ostentatious display of their strength. Yet our spies have seen nothing but old age and infirmity. This is surely some ruse on the part of the enemy, and it would be unwise for us to attack.’ The Emperor, however, disregarding this advice, fell into the trap and found himself surrounded at Po-teng.”]

19. Thus one who is skilful at keeping the enemy on the move maintains deceitful appearances, according to which the enemy will act.

[Ts’ao Kung’s note is "Make a display of weakness and want." Tu Mu says: "If our force happens to be superior to the enemy’s, weakness may be simulated in order to lure him on; but if inferior, he must be led to believe that we are strong, in order that he may keep off. In fact, all the enemy’s movements should be determined by the signs that we choose to give him." Note the following anecdote of Sun Pin, a descendent of Sun Wu: In 341 B.C., the Ch’i State being at war with Wei, sent T’ien Chi and Sun Pin against the general P’ang Chuan, who happened to be a deadly personal enemy of the later. Sun Pin said: "The Ch’i State has a reputation for cowardice, and therefore our adversary despises us. Let us turn this circumstance to account." Accordingly, when the army had crossed the border into Wei territory, he gave orders to show 100,000 fires on the first night, 50,000 on the next, and the night after only 20,000. P’ang Chuan pursued them hotly, saying to himself: "I knew these men of Ch’i were cowards: their numbers have already fallen away by more than half." In his retreat, Sun Pin came to a narrow defile, which he calculated that his pursuers would reach after dark. Here he had a tree stripped of its bark, and inscribed upon it the words: "Under this tree shall P’ang Chuan die." Then, as night began to fall, he placed a strong body of archers in ambush near by, with orders to shoot directly if they saw a light. Later on, P’ang Chuan arrived at the spot, and noticing the tree, struck a light in order to read what was written on it. His body was immediately riddled by a volley of arrows, and his whole army thrown into confusion. [The above is Tu Mu’s version of the story; the Shih Chi, less dramatically but probably with more historical truth, makes P’ang Chuan cut his own throat with an exclamation of despair, after the rout of his army.] ]

He sacrifices something, that the enemy may snatch at it.

20. By holding out baits, he keeps him on the march; then with a body of picked men he lies in wait for him.

[With an emendation suggested by Li Ching, this then reads, "He lies in wait with the main body of his troops."]

21. The clever combatant looks to the effect of combined energy, and does not require too much from individuals.

[Tu Mu says: "He first of all considers the power of his army in the bulk; afterwards he takes individual talent into account, and uses each men according to his capabilities. He does not demand perfection from the untalented."]

Hence his ability to pick out the right men and utilise combined energy.

22. When he utilises combined energy, his fighting men become as it were like unto rolling logs or stones. For it is the nature of a log or stone to remain motionless on level ground, and to move when on a slope; if four-cornered, to come to a standstill, but if round-shaped, to go rolling down.

[Ts’au Kung calls this "the use of natural or inherent power."]

23. Thus the energy developed by good fighting men is as the momentum of a round stone rolled down a mountain thousands of feet in height. So much on the subject of energy.

[The chief lesson of this chapter, in Tu Mu’s opinion, is the paramount importance in war of rapid evolutions and sudden rushes. "Great results," he adds, "can thus be achieved with small forces."]

[1] "Forty-one Years in India," chapter 46.

 

➖➖➖

 

2023-02-18

Tôn Tử binh pháp: IV. Thiên hình - Tôn Vũ

2023-02-18

Tôn Tử binh pháp: IV. Thiên hình

Tôn Vũ

Dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện

~

·      IV. Thiên hình (dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện)

·      Chapter IV. TACTICAL DISPOSITIONS (in “Sun Tzŭ on The Art of War”, translator: Lionel Giles) – nguồn: https://www.gutenberg.org/

~


 

IV. Thiên hình

Tào Công rằng: nói cái hình của quân. Ta hành động, họ ứng lại, hai bên địch cùng dò xét nhau.

Lý Thuyên rằng: hình là nói cái hình chủ khách đánh giữ, tám trận năm dinh, âm dương thuận trái.

Đỗ-Mục rằng: nhân hình thấy tình, không hình thì tình kín, có hình thì tình hở, kín thì thắng hở thì bại.

Vương-Tích rằng: hình là cái hình nhất định, bảo hai địch mạnh yếu có cái hình nhất định. Người giỏi dùng binh thì có thể biến hóa cái hình, nhân bên địch mà giành lấy phần thắng lợi.

Trương-Dự rằng: nói cái hình đánh giữ của hai quân, ẩn vào trong thì người ta không thể biết, hiện ra ngoài thì bên địch lần tìm chỗ hở mà vào. Hình nhân đánh giữ mà tỏ ra, cho nên ở dưới Mưu-công.

 

Tôn-Tử nói: ngày xưa người thiện chiến, trước phải làm cách không thể thắng.

Trương-Dự rằng: ấy gọi là biết mình đó.

 

Để đợi cái chỗ có thể đánh thắng được bên địch.

Mai-Nghiêu-Thần rằng: tàng hình ở trong, để rình khi quân địch trống trải trễ biếng.

Trương-Dự rằng: ấy gọi là biết người đó.

 

Không thể thắng ở mình, có thể thắng ở kẻ địch.

Tào-Công rằng: nói tự sửa trị để chờ khi quân địch trống-trải, trễ-nải.

Đỗ-Hựu rằng: trước bàn hỏi ở chỗ miếu đường để tính sẵn sự nguy nan, rồi sau mới sâu hào cao lũy, khiến binh luyện tập. Lấy sự phòng giữ vững bền ấy để chờ khi quân giặc trống hở thì có thể thắng được. Nói sự chế biến ở ta, ta tự sửa trị để đợi khi quân địch trống-trải trễ-nải, khi thấy họ có cái hình trống-hở, bấy giờ mới có thể thắng được.

 

Cho nên người thiện chiến, có thể làm cách không thể thắng.

Đỗ-Mục rằng: không thể thắng, trên đây đã chú giải, tức là bảo sửa sang quân sự, giấu vết ẩn hình. Việc ấy ở mình, cho nên nói là có thể làm.

Trương-Dự rằng: giấu hình ẩn tích, ngày thường cũng phòng bị nghiêm cẩn, đó là việc mình có thể làm.

 

Không thể khiến được bên địch có cái cơ để mình tất thắng.

Đỗ-Hựu rằng: Nếu bên địch biết luyện tập binh lính, tính toán phải đường, lưu-ý phòng bị, thì cũng không thể cố cưỡng mà thắng được.

Đỗ-Mục rằng: kẻ địch nếu không có cái hình có thể nhòm được, không có sự trống-trải, trễ-nải có thể lấn được, thì ta tuy sẵn sàng những cái khí cụ để thắng, nhưng dễ hồ mà thắng được kẻ địch ư?

Trương-Dự rằng: nếu cái hình mạnh yếu của họ không tỏ ra ngoài thì ta cũng chẳng thể nhất định sẽ thắng được họ.

 

Cho nên nói rằng: thắng có thể biết.

Tào-Công rằng: thấy cái hình nó rõ ra.

Đỗ-Mục rằng: biết là biết cái sức của mình có thể thắng được bên địch.

 

Mà không có thể làm.

Tào-Công rằng: vì kẻ địch đã có phòng bị.

Đỗ-Mục rằng: nói ta không thể khiến kẻ địch trống trải, trễ nải để giúp cho sự thắng của mình.

Họ Hà rằng: cái thắng có thể biết là ở về ta, vì ta có phòng bị, cái thắng không thể làm là ở bên địch, vì địch không có hình.

 

Không thể thắng được thì giữ.

Đỗ-Mục rằng: nói chưa thấy bên địch có cái hình để mình có thể thắng được thì mình tàng hình làm ra bộ không thể đánh thắng để chỉ tự phòng giữ mà thôi.

Họ Hà rằng: chưa thấy cái hình thế hư thực của bên địch để mình có thể thắng được thì nên bền giữ.

 

Có thể thắng được thì đánh.

Lý-Thuyên rằng: người giỏi dùng binh giữ thì cao lũy bền vách, đánh thành thì sắm giá cao, thang dài, núi đất, đường hầm, bầy trận thì bên tả sông đầm, bên hữu gò đống, dựa vào phía trơ, hướng về phía trống, dõi theo chỗ ngờ, công kích chỗ hở, biết phân biệt năm lệnh để tiết chế quân sĩ, ỷ giốc thế bầy, đầu đuôi ứng tiếp. Như thế là cái hình mình không thể đánh thắng được. Không có những cái ấy là có thể thắng.

Đỗ-Mục rằng: quân địch có cái hình để cho mình đánh thắng được thì nên ra mà đánh.

Trương-Dự rằng: biết họ có cái lý để cho mình thắng, thì đánh vào lòng họ mà chiếm lấy.

 

Giữ thì không đủ, đánh thì có thừa.

Tào-Công rằng: ta sở dĩ giữ là vì sức không đủ, sở dĩ đánh là vì sức có thừa.

Mai Nghiêu-Thần rằng: giữ thì biết sức không đủ, đánh thì biết sức có thừa.

Trương-Dự rằng: ta sở dĩ giữ, vì cái đạo thủ thắng có bề không đủ, cho nên hãy đợi; ta sở dĩ đánh, vì cái sự thắng địch có phần hữu dư, cho nên ra đánh. Nói phi trăm phần thắng cả thì không chiến, muôn phần vẹn cả thì không đấu vậy. Người sau bảo không đủ là yếu, có thừa là mạnh là không phải.

 

Người giỏi giữ thì giấu ở dưới chín lần đất, người giỏi đánh thì động ở trên chín lần giời, cho nên có thể tự giữ mà toàn thắng.

Đỗ-Mục rằng: giữ thì vùi tăm diệt tích, kín tựa quỷ thần, như ở dưới đất, không ai biết đâu mà dò thấy, đánh thì lanh chân lớn tiếng, mau dường sấm sét, như hiện trên giời, không ai biết đâu mà phòng bị. Chín là cái số cùng cực cao sâu.

Mai Nghiêu-Thần rằng: chín lần đất nói sâu không thể biết, chín lần giời nói cao không thể lường, bởi phòng giữ kín mà đánh chác mau vậy.

 

Thấy thắng không hơn sự biết của mọi người, không phải người giỏi ở trong những người giỏi.

Tào Công rằng: Phải thấy từ lúc chưa tỏ hiện.

Họ Mạnh rằng: Phải thấy từ lúc chưa tỏ hiện: Nói hai quân đã giao, tuy liệu biết được thua nhưng sự đó không có gì là sáng suốt hơn người thường, vì chỉ thấy được cái hình gần chứ không xa xôi. Thái-công nói: Trí khôn chỉ như mọi người thường thì không phải là thầy nước.

Lý Thuyên rằng: Biết không hơn người thì cái biết ấy không giỏi. Hàn Tín phá Triệu, chưa ăn mà kéo ra tỉnh hình, bảo phá xong quân Triệu sẽ ăn. Các tướng đều không bằng lòng cả cũng gượng vâng nhời. Bèn bầy một cái trận xoay lưng xuống nước. Quân Triệu trèo lên tường thành trông thấy, đều cả cười, bảo tướng Hán không biết dùng binh. Hàn Tín bèn phá tan quân Triệu, chém Thành-an-quân. Cái điều biết ấy mọi người thường không thể biết được.

Đỗ Mục rằng: Sự thấy của mọi người, phá quân giết tướng mới biết rằng thắng, nhưng sự thấy của ta, trên chỗ miếu đường, trong khoảng be chén, đã biết rõ sự được thua rồi.

Trương Dự rằng: Mọi người xem biết khi đã thành đã rõ, riêng ta trông thấy khi chưa hình chưa hiện.

 

Chiến thắng mà thiên hạ khen giỏi, không phải là người giỏi trong những người giỏi.

Tào Công rằng: Nói giao tranh mà thắng.

Thái Công nói: Tranh thắng ở dưới lưỡi dao sáng nhoáng, không phải là bậc lương tướng.

Đỗ Mục rằng: Thiên hạ đây cũng như chương trên nói mọi người. Người thiên hạ đều khen rằng mình chiến-thắng, tức là đã thấy mình phá quân giết tướng.

Nhưng cái giỏi của ta là ở chỗ ngầm mưu lặng tính, đánh lòng đập mưu, cái ngày thắng địch lưỡi dao không hề vấy máu.

Trần Hạo rằng: Ngầm vận cái trí khôn chuyên đánh khi mưu hoạch, chưa chiến mà làm khuất phục được binh người, đó mới là người giỏi trong những người giỏi.

 

Cho nên nhắc được cái lông mùa thu, không phải là nhiều sức, trông thấy mặt giời mặt giăng, không phải là sáng mắt, nghe thấy tiếng sấm, tiếng sét không phải là sõi tai.

Tào Công rằng: Nói những cái dễ nghe dễ thấy.

Vương Tích rằng: Biết những cái mọi người đều biết, không phải là khôn, dùng sức giao chiến mà thắng người, không phải là giỏi.

 

Đời xưa gọi là người thiện chiến là thắng được kẻ địch trong khi dễ thắng.

Đỗ Mục rằng: Mưu của kẻ địch mới có mầm mống, ta ngầm vận động để phá đi, dùng sức ít mà chiến thắng nhỏ, cho nên gọi là dễ thắng.

Mai Nghiêu Thần rằng: Sức nhắc lông thu, sáng thấy nhật nguyệt, sõi nghe sấm sét, như thế thì chẳng hơn gì những cái sở năng của mọi người thường. Cho nên hễ thấy ở tỏ rệt thì thắng ở khó khăn, hễ thấy ở nhỏ mờ thì thắng ở dễ dãi.

Trương Dự rằng: Giao gươm tiếp mác rồi mới đè được kẻ địch thì sự thắng khó, nhìn mờ xét ẩn để phá từ lúc vô hình thì sự thắng dễ. Cho nên người thiện chiến thường đánh ở lúc dễ thắng mà không đánh ở lúc khó thắng.

 

Cho nên sự thắng của người thiện chiến không có cái tiếng khôn ngoan, không có cái công mạnh mẽ.

Tào Công rằng: Hình của quân địch chưa thành, cho nên khi thắng không có cái công lừng lẫy.

Đỗ Mục rằng: Thắng khi quân địch chưa tỏ ra, thiên hạ không biết, cho nên không có tiếng khôn ngoan; lưỡi gươm chưa từng vấy máu, nước địch đã phục, cho nên không có công mạnh mẽ.

Mai Nghiêu Thần rằng: Trí lớn không tỏ, công to không rõ. Thấy nhỏ, thắng dễ, ai hay dũng trí.

Họ Hà rằng: Tiêu được nạn từ lúc chưa hình, ai biết mình là người trí, không cần đánh mà người phải phục, ai biết mình là người dũng, Tử Phòng đời Hán, Bùi Độ đời Đường là những người thuộc vào hạng ấy.

 

Cho nên sự chiến thắng không hề sai chệch.

Trương Dự rằng: Dùng sức mà đánh để cầu thắng, tuy người giỏi cũng có khi bại, đàng này nhìn thấy từ lúc chưa hình, xét rõ từ lúc chưa thành, trăm trận đánh trăm trận được, không còn thể sai chệch được nữa.

 

Không sai chệch vì hễ dàn đặt tất là phải thắng, thắng cái quân địch đã bại.

Lý-Thuyên rằng: đặt sự thắng vào đám quân đã bại, còn sai chệch làm sao được. Đã bại là trỏ vào đám quân tướng nản binh lười, pháp lệnh bất nhất.

Đỗ-Mục rằng: đã nhìn thấy trước cái hình tất thua của kẻ địch, rồi sau mới đánh, cho nên thu được cái công tất thắng, không thể sai chệch.

Trương-Dự rằng: sở dĩ thắng được mà không sai, bởi xét thấy cái hình đã bại của bên địch, rồi sau mới dàn binh để mà thắng họ.

 

Cho nên kẻ thiện chiến đứng vào cái đất không thua mà không bỏ lỡ cái sự phải thua của kẻ địch.

Lý-Thuyên rằng: việc binh được đất thì hay, mất đất thì hỏng. Đất là cái chỗ yếu hại. Quân Tần đánh bại quân Triệu, bởi trước giữ được Bắc-sơn cho nên thắng, quân Tống đánh Yên, qua núi Đại-nghiễn cho nên thắng, đều là bởi chiếm được tất cả.

Trương-Dự rằng: pháp lệnh cho tỏ, thưởng phạt cho minh, khí dụng cho tinh, võ dõng cho sẵn, ấy là đứng vào cái đất không thua đó. Ta có tiết chế thì quân kia tự phải thui-lụi, ấy là không bỏ lỡ cái sự phải thua của kẻ địch đó.

 

Ấy cho nên quân thắng thì trước thắng rồi sau mới tìm cuộc chiến, quân bại thì trước chiến rồi sau mới tìm sự thắng.

Đỗ-Mục rằng: phàm sự công phạt, tất trước phải định kế ở trong, hiểu suốt tình hình của bên địch, cho nên lấy đông đánh vắng, lấy trị đánh loạn, lấy giầu đánh nghèo, lấy giỏi đánh không giỏi, lấy những quân sĩ huấn luyện, đánh bọn người chẳng biết việc quân là gì, nhân thế mà trăm trận đánh, trăm trận được. Ấy tức là cái nghĩa trước đã nắm vững sự thắng, rồi sau mới tìm cuộc chiến đó. Vệ-công Lý-Tĩnh nói: việc cần nhất của viên tướng, ở chỗ minh xét mà hòa đồng, mưu sâu mà nghĩ xa, hiểu thiên thời biết nhân lý. Nếu không liệu tài năng, không suốt quyền biến đến lúc lâm cơ ứng địch, rồi mới bối rối loanh quanh, ngó bên tả trông bên hữu, tìm bới chẳng ra kế gì, tin dùng những lời nói không đâu, tiến thoái hồ nghi, bộ ngũ lộn xộn, phỏng có khác gì đẩy dân chúng nhẩy vào lửa củi, xua trâu dê vồ thịt sói hùm hay không? Ấy tức là cái nghĩa trước chiến rồi sau mới tìm sự thắng đó.

Giả-Lâm rằng: không biết tình hình của người và của ta, đem quân khinh tiến, ý tuy cần thắng, nhưng tất sẽ phải bại.

Mai Nghiêu-Thần rằng: có thể thắng mà đánh, đánh thì sẽ thắng, chưa thấy có thể thắng mà đánh, thì thắng làm sao được!

Họ Hà rằng: phàm dụng binh trước định cái thế tất thắng, rồi sẽ ra quân. Nếu không tính trước mà muốn thị cường, thì sự thắng chắc gì nắm được.

 

Người giỏi dùng binh, sửa đạo mà giữ phép, cho nên có thể làm cái chính thắng bại.

Đỗ-Mục rằng: đạo là nhân nghĩa, phép là pháp chế. Người giỏi dùng binh, trước sửa trị nhân nghĩa giữ gìn pháp-chế, tự làm cái cách không thể thắng của mình để nhòm cái dịp tất phải bại của địch, như thế thì tất phải thắng.

Giả-Lâm rằng: thường tu cái đạo thắng của sự dùng binh, giữ cái phép tắc trong sự thưởng phạt, như thế thì sẽ thắng, nếu không thì tất bại, cho nên nói cái chính thắng bại.

Vương-Tích rằng: phép là trỏ năm việc dưới này.

 

Binh pháp một rằng đo.

Giả-Lâm rằng: nói đo đất cát.

 

Hai rằng lường.

Giả-Lâm rằng: lường sức người nhiều ít, kho đạn rỗng chắc.

 

Ba rằng đếm.

Giả-Lâm rằng: tính đếm thì nhiều ít sẽ biết, rỗng chắc sẽ thấy.

 

Bốn rằng cân.

Giả-Lâm rằng: cân để biết nhiều ít, lại biết cái đức nghiệp nặng nhẹ, cái tài năng hơn kém của người và ta.

 

Năm rằng thắng.

Tào-Công rằng: cái chính (chính sách chẳng hạn) thắng bại, cái phép dùng binh, nên lấy năm việc ấy cân lường để biết tình hình bên địch.

Trương-Dự rằng: đây là nói cái cách đóng dinh bầy trận. Lý-Vệ-Công nói: dạy quân như bày cờ trên bàn, nếu không vẽ đường thì quân cờ cũng chẳng thể dùng làm gì được.

 

Đất sinh ra đo.

Tào Công rằng: nhân hình thế đất mà đo.

Đỗ Mục rằng: đo nghĩa là tính. Nói đo xem của mình đất nước nhớn nhỏ, số dân nhiều ít, thuế má thu nhập, binh xa chắc cậy, núi sông hiểm dễ, đường xá cong thẳng, so với bên địch như thế nào, rồi sẽ khởi binh. Nay nhỏ không thể mưu nhớn, yếu không thể đánh mạnh, gần không thể úp xa, phẳng không thể đánh hiểm, đó là điều sinh ra ở đất, cho nên cần phải đo trước.

Mai Nghiêu Thần rằng: nhân đất mà đo thuế quân.

Vương Tích rằng: đất là cái mà người ta phải giẫm lên. Cất quân đánh chác, trước tính ở đất. Do đất cho nên sinh ra đo, đo là để đo xem dài ngắn cùng xa gần. Phàm hành quân đánh giặc, trước phải biết tính sự xa gần.

 

Đo sinh ra lường.

Đỗ Mục rằng: Lường là chước lượng. Nói đo đất đã kỹ, rồi mới có thể chước lượng sự mạnh yếu của người và ta.

Mai Nghiêu Thần rằng: nhân đo đất để lường tình giặc.

Họ Hà rằng: lường là chước lượng cái hình thế của người và mình.

 

Lường sinh ra đếm.

Tào Công rằng: Biết xa gần rộng hẹp sẽ biết được cả số người.

Lý Thuyên rằng: Lượng sự xa gần mạnh yếu của quân địch, nên phải biết cả cái số lính tráng quân nhu để mà thắng họ.

Giả Lâm rằng: lượng đất xa gần rộng hẹp, sẽ biết được bên địch số người nhiều ít.

Mai Nghiêu Thần rằng: nhân lường mà biết được số đếm nhiều ít.

Họ Hà rằng: đếm là nói về cơ biến. Trước phải chước lượng sự mạnh yếu lợi hại của người và ta, để sau sẽ tính cách cơ biến.

Trương Dự rằng: đất có cái hình rộng hẹp xa gần, trước phải đo cho biết, rồi sau mới lượng cái số người chứa được nhiều ít bao nhiêu.

 

Đếm sinh ra cân.

Tào Công rằng: cân nhắc xem mình với bên địch đằng nào hơn.

Lý Thuyên rằng: Phân số đã biết, lại phải biết những người hiền trí nhiều ít, được người hiền thì nặng, mất người hiền thì nhẹ, như Hàn Tín luận về Sở Hán hai bên vậy.

Mai Nghiêu Thần rằng: nhân số đếm để cân nặng nhẹ.

Vương Tích rằng: cân để cho biết nặng nhẹ mà hiểu cái hình thế mạnh yếu. Khi đã do những đo, lường, đếm, mà biết được xa gần, nhớn nhỏ, nhiều ít của mình và bên địch, thì sẽ biết nặng nhẹ ở về bên nào.

 

Cân sinh ra thắng.

Tào Công rằng: Cân lường rồi sẽ biết được thua ở đâu.

Mai Nghiêu Thần rằng: nhân nặng nhẹ để biết được thua.

Vương Tích rằng: nặng thắng được nhẹ.

Họ Hà rằng: năm việc trên này là cách chưa chiến đã phải tính lấy sự tất thắng, cho nên Tôn-tử dẫn phép xưa để giải cái điều chất của sự thắng bại.

Trương Dự rằng: cân là cân bằng nhau. Hình đất với số người cân nhau thì thưa mau vừa phải, cho nên có thể thắng được. Úy-liêu-tử nói: không nhầm nhỡ là nhờ ở đo và đếm. Đo là nói về thước, tấc, đếm là nói về năm mười, đo để lượng đất, đếm để lượng quân, đất cùng quân xứng nhau thì thắng. Năm việc trên này đều nhân ở hình đất, cho nên từ đất mà sinh ra, Lý Tĩnh năm trận tùy hình đất mà biến, cũng là thế đó.

 

Cho nên quân thắng như lấy giật mà cân với thù.

Mai Nghiêu Thần rằng: cái sức nhắc lên dễ dàng lắm.

 

Quân bại như lấy thù mà cân với giật.

Tào Công rằng: nhẹ không thể nhắc nổi được nặng.

Lý Thuyên rằng: hai mươi lạng là một giật. Thù đối với giật, nhẹ nặng khác nhau, sự thua được lại cũng khác nhau như vậy.

Vương Tích rằng: nói thù với giật để rõ sự nhẹ nặng khác hẳn.

Trương Dự rằng: 20 lạng là một giật, 24 thù là một lạng. Đây nói cái quân có pháp chế với cái quân không có pháp chế, nhẹ nặng không thể so sánh được.

 

Sự đánh của quân kẻ thắng, như tháo cái khe nước chứa ở trên cao nghìn nhận, hình nó như vậy.

Tào Công rằng: tám thước là một nhận. Tháo nước nghìn nhận, thế chẩy mau gấp.

Lý Thuyên rằng: tám thước là nhận, nói cái thế mạnh. Đỗ Dự đánh Ngô, nói việc binh như chẻ nứa, sau khi đã chẻ được vài đốt thì chỉ hất mũi nhọn là toác ra hết, tức là nghĩa ấy.

Mai Nghiêu Thần rằng: Nước tháo cái khe nghìn nhận, khôn lường được mau lẹ, binh động ở trên chín giời, khôn thấy được dấu vết, đó là cái hình của quân.

Trương Dự rằng: tính nước tránh chỗ cao, xô chỗ thấp, khơi nó chẩy xuống đợt sâu thì nó chẩy bồn cồn không ai cản được. Hình của binh cũng tựa như nước, đè khi quân địch không phòng bị, đánh lúc quân địch bất thình lình, tránh chỗ chắc, nhằm chỗ rỗng, cũng chẳng thể ai ngăn được. Có người nói: Cái khe nghìn nhận tức là một cái vực thăm thẳm, không ai lường được sự sâu nông của nó, đến khi khơi cho chẩy xuống thì cái thế không ai cản nổi. Như người giỏi giữ náu hình ẩn vết, giấu ở dưới chín lần đất, kẻ địch không biết đâu mà lường mạnh yếu, đến khi thừa hư kéo ra thì cái thế mạnh mẽ không ai đương nổi.

 

➖➖➖


Chapter IV. TACTICAL DISPOSITIONS

Sun Tzŭ on The Art of War

Translator: Lionel Giles

~

[Ts’ao Kung explains the Chinese meaning of the words for the title of this chapter: "marching and countermarching on the part of the two armies with a view to discovering each other’s condition." Tu Mu says: "It is through the dispositions of an army that its condition may be discovered. Conceal your dispositions, and your condition will remain secret, which leads to victory; show your dispositions, and your condition will become patent, which leads to defeat." Wang Hsi remarks that the good general can "secure success by modifying his tactics to meet those of the enemy."]

1. Sun Tzŭ said: The good fighters of old first put themselves beyond the possibility of defeat, and then waited for an opportunity of defeating the enemy.

2. To secure ourselves against defeat lies in our own hands, but the opportunity of defeating the enemy is provided by the enemy himself.

[That is, of course, by a mistake on the enemy’s part.]

3. Thus the good fighter is able to secure himself against defeat,

[Chang Yu says this is done, "By concealing the disposition of his troops, covering up his tracks, and taking unremitting precautions."]

but cannot make certain of defeating the enemy.

4. Hence the saying: One may know how to conquer without being able to do it.

5. Security against defeat implies defensive tactics; ability to defeat the enemy means taking the offensive.

[I retain the sense found in a similar passage in §§ 1-3, in spite of the fact that the commentators are all against me. The meaning they give, "He who cannot conquer takes the defensive," is plausible enough.]

6. Standing on the defensive indicates insufficient strength; attacking, a superabundance of strength.

7. The general who is skilled in defence hides in the most secret recesses of the earth;

[Literally, "hides under the ninth earth," which is a metaphor indicating the utmost secrecy and concealment, so that the enemy may not know his whereabouts."]

he who is skilled in attack flashes forth from the topmost heights of heaven.

[Another metaphor, implying that he falls on his adversary like a thunderbolt, against which there is no time to prepare. This is the opinion of most of the commentators.]

Thus on the one hand we have ability to protect ourselves; on the other, a victory that is complete.

8. To see victory only when it is within the ken of the common herd is not the acme of excellence.

[As Ts’ao Kung remarks, "the thing is to see the plant before it has germinated," to foresee the event before the action has begun. Li Ch’uan alludes to the story of Han Hsin who, when about to attack the vastly superior army of Chao, which was strongly entrenched in the city of Ch’eng-an, said to his officers: "Gentlemen, we are going to annihilate the enemy, and shall meet again at dinner." The officers hardly took his words seriously, and gave a very dubious assent. But Han Hsin had already worked out in his mind the details of a clever stratagem, whereby, as he foresaw, he was able to capture the city and inflict a crushing defeat on his adversary."]

9. Neither is it the acme of excellence if you fight and conquer and the whole Empire says, "Well done!"

[True excellence being, as Tu Mu says: "To plan secretly, to move surreptitiously, to foil the enemy’s intentions and balk his schemes, so that at last the day may be won without shedding a drop of blood." Sun Tzŭ reserves his approbation for things that

"the world’s coarse thumb

And finger fail to plumb."]

10. To lift an autumn hair is no sign of great strength;

["Autumn hair" is explained as the fur of a hare, which is finest in autumn, when it begins to grow afresh. The phrase is a very common one in Chinese writers.]

to see sun and moon is no sign of sharp sight; to hear the noise of thunder is no sign of a quick ear.

[Ho Shih gives as real instances of strength, sharp sight and quick hearing: Wu Huo, who could lift a tripod weighing 250 stone; Li Chu, who at a distance of a hundred paces could see objects no bigger than a mustard seed; and Shih K’uang, a blind musician who could hear the footsteps of a mosquito.]

11. What the ancients called a clever fighter is one who not only wins, but excels in winning with ease.

[The last half is literally "one who, conquering, excels in easy conquering." Mei Yao-ch’en says: "He who only sees the obvious, wins his battles with difficulty; he who looks below the surface of things, wins with ease."]

12. Hence his victories bring him neither reputation for wisdom nor credit for courage.

[Tu Mu explains this very well: "Inasmuch as his victories are gained over circumstances that have not come to light, the world as large knows nothing of them, and he wins no reputation for wisdom; inasmuch as the hostile state submits before there has been any bloodshed, he receives no credit for courage."]

13. He wins his battles by making no mistakes.

[Ch’en Hao says: "He plans no superfluous marches, he devises no futile attacks." The connection of ideas is thus explained by Chang Yu: "One who seeks to conquer by sheer strength, clever though he may be at winning pitched battles, is also liable on occasion to be vanquished; whereas he who can look into the future and discern conditions that are not yet manifest, will never make a blunder and therefore invariably win."]

Making no mistakes is what establishes the certainty of victory, for it means conquering an enemy that is already defeated.

14. Hence the skilful fighter puts himself into a position which makes defeat impossible, and does not miss the moment for defeating the enemy.

[A "counsel of perfection" as Tu Mu truly observes. "Position" need not be confined to the actual ground occupied by the troops. It includes all the arrangements and preparations which a wise general will make to increase the safety of his army.]

15. Thus it is that in war the victorious strategist only seeks battle after the victory has been won, whereas he who is destined to defeat first fights and afterwards looks for victory.

[Ho Shih thus expounds the paradox: "In warfare, first lay plans which will ensure victory, and then lead your army to battle; if you will not begin with stratagem but rely on brute strength alone, victory will no longer be assured."]

16. The consummate leader cultivates the moral law, and strictly adheres to method and discipline; thus it is in his power to control success.

17. In respect of military method, we have, firstly, Measurement; secondly, Estimation of quantity; thirdly, Calculation; fourthly, Balancing of chances; fifthly, Victory.

18. Measurement owes its existence to Earth; Estimation of quantity to Measurement; Calculation to Estimation of quantity; Balancing of chances to Calculation; and Victory to Balancing of chances.

[It is not easy to distinguish the four terms very clearly in the Chinese. The first seems to be surveying and measurement of the ground, which enable us to form an estimate of the enemy’s strength, and to make calculations based on the data thus obtained; we are thus led to a general weighing-up, or comparison of the enemy’s chances with our own; if the latter turn the scale, then victory ensues. The chief difficulty lies in third term, which in the Chinese some commentators take as a calculation of numbers, thereby making it nearly synonymous with the second term. Perhaps the second term should be thought of as a consideration of the enemy’s general position or condition, while the third term is the estimate of his numerical strength. On the other hand, Tu Mu says: "The question of relative strength having been settled, we can bring the varied resources of cunning into play." Ho Shih seconds this interpretation, but weakens it. However, it points to the third term as being a calculation of numbers.]

19. A victorious army opposed to a routed one, is as a pound’s weight placed in the scale against a single grain.

[Literally, "a victorious army is like an i (20 oz.) weighed against a shu (1/24 oz.); a routed army is a shu weighed against an i." The point is simply the enormous advantage which a disciplined force, flushed with victory, has over one demoralized by defeat. Legge, in his note on Mencius, I. 2. ix. 2, makes the i to be 24 Chinese ounces, and corrects Chu Hsi’s statement that it equaled 20 oz. only. But Li Ch’uan of the T’ang dynasty here gives the same figure as Chu Hsi.]

20. The onrush of a conquering force is like the bursting of pent-up waters into a chasm a thousand fathoms deep. So much for tactical dispositions.

 

➖➖➖

 

Việt Điện U Linh Tập - Bảo Quốc Trấn Linh Định Bang Quốc Đô Thành Hoàng Đại Vương (Chuyện Tô Lịch) - Lý Tế Xuyên

2026-06-27 Việt Điện U Linh Tập Bảo Quốc Trấn Linh Định Bang Quốc Đô Thành Hoàng Đại Vương (Chuyện Tô Lịch) ...