2023-02-04
Tôn
Tử binh pháp: II. Thiên tác chiến
Tôn
Vũ
Dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện
~
· II. Thiên tác chiến (dịch giả: Trúc Khê
Ngô Văn Triện)
· Chapter II. WAGING WAR (in “Sun Tzŭ on The Art
of War”, translator: Lionel Giles) – nguồn: https://www.gutenberg.org/
~
II. Thiên tác chiến
Tào
Công rằng: muốn chiến tất trước phải tính khoản tốn-phí, cốt nhờ lương của bên
địch vậy.
Lý
Thuyên rằng: trước định kế rồi sau mới sửa đến chiến cụ, vì thế thiên Chiến ở
dưới thiên Kết.
Trương-Dự
rằng: kế toán đã xong, rồi mới sắm sửa đến xe ngựa, khí giới, lương thảo vân
vân, để làm đồ tác chiến, vì thế thiên Chiến ở dưới thiên Kết.
Tôn-Tử
nói: phàm cách dụng binh, xe ruổi nghìn bộ, xe da nghìn cỗ, quân mặc áo giáp mười
vạn.
Tào
Công rằng: xe ruổi là xe nhẹ thắng bốn ngựa. Xe da là xe nặng, nói sự nặng của
muôn quân kỵ, mỗi xe thắng bốn ngựa. Quân kỵ 10 người là một tốp, có hai người
Dưỡng chủ việc thổi cơm, một người Gia tử coi giữ áo quần, hai người Cứu, giữ
việc nuôi ngựa, cả thẩy 5 người. Bộ binh 10 người, có một chiếc xe lớn thắng bò
để chở có hai người Dưỡng, chủ việc thổi cơm, một người Gia-tử coi giữ áo quần,
cả thẩy 3 người. Quân mặc áo giáp 10 vạn, là nói về số binh lính.
Lý
Thuyên rằng: xe ruổi là xe chiến, xe da là xe nhẹ, mặc áo giáp là lính đi bộ.
Xe một cỗ thắng bốn con ngựa, lính bộ bẩy mươi người; tính số nghìn cỗ xe, thì
quân mặc áo giáp bẩy vạn, ngựa bốn nghìn con. Tôn-tử ước lượng về số cần dùng của
quân, lấy mười vạn làm xuất sẽ do đó mà suy ra hàng trăm vạn.
Nghìn
dặm mang lương thực đi.
Tào-Công
rằng: nói vượt cõi đi xa nghìn dặm.
Lý
Thuyên rằng: nói đường sá xa xăm.
Thì
khoản phí ở trong ngoài, khoản dùng về tân khách, khoản chi về sơn nhựa, khoản
tiêu về xe giáp, mỗi ngày tốn đến nghìn vàng [1] có đủ như thế thì mới thể đem
đi được đạo quân 10 vạn.
Tào
công rằng: ấy là chưa kể đến những khoản tặng thưởng.
Đỗ
Mục rằng: việc quân có những lễ giao thiệp với nước chư hầu, cho nên nói rằng
tân khách; xe giáp khí giới phải chữa chạy khâu vá, nói sơn nhựa là kể cái bé
nhỏ, nghìn vàng là nói tốn phí nhiều, ấy là khoản tặng thưởng còn tính ngoài đấy.
Vương
Tích rằng: Trong là trong nước, ngoài là nơi quân thứ: tân khách như sứ giả của
Chư-hầu cùng sự khao thưởng tướng sĩ ở trong quân; sơn nhựa, xe giáp là nói từ
cái nhỏ đến cái lớn.
Sự
đánh nhau, đánh lâu mới thắng thì nhụt đồ binh, cùn khí mạnh, đánh thành thì sức
kiệt.
Đỗ-Mục
rằng: cùng bên địch giữ nhau lâu ngày mới thắng thì giáp binh cùn nát, nhuệ khí
chùn nhụt, đánh thành thì sức người hao kiệt.
Giả
Lâm rằng: chiến tuy thắng người nhưng lâu thì vô lợi, việc binh quý ở toàn thắng,
cùn binh, nhụt khí, lính đau ngựa què thì hao hại.
Đem
quân phơi dãi lâu thì khoản tiêu dùng trong nước phải không đủ.
Họ
Mạnh rằng: dãi quân lâu ngày ở ngoài nghìn dặm thì khoản phí dụng quân quốc,
không đủ mà cung cấp.
Trương
Dự rằng: ngày tốn nghìn vàng, quân đãi lâu thì kho nước cung làm sao được, như
Hán Võ-đế đi chinh phạt mãi không chịu giải binh, đến khi kho nước trống rỗng mới
xuống một tờ chiếu nói thảm thiết đó.
Này
cùn binh nhụt khí, cạn sức hết tiền, thì Chư-hầu sẽ thừa dịp núng của mình mà
khởi lên, tuy người có trí năng cũng chẳng thể giữ trọn vẹn ở sau được.
Đỗ
Hựu rằng: tuy bấy giờ có tài dụng binh, cũng chẳng thể ngăn ngừa được cái hậu
hoạn.
Cho
nên việc binh, nên rằng thà vụng mà chóng, chứ không nên khéo mà lâu.
Đỗ
Mục rằng: trong khi công thủ, tuy vụng đường cơ trí, nhưng lấy thần tốc làm
trên hết, hễ không có cái nạn đãi quân, tốn của, nhụt binh thì tức là khéo.
Họ
Hà rằng: chóng tuy vụng, nhưng không tốn tiền, sức; lâu tuy khéo nhưng e sinh hậu
hoạn.
Việc
binh kéo dài mà nước lợi, chưa từng có vậy.
Đỗ
Hựu rằng: binh là đồ dữ, lâu thì sinh biến, như Trí Bá vây nước Triệu, quá năm
không về, rồi bị Tương-tử bắt sống, mình chết nước tan. Cho nên sách Tân Tư
truyện nói: Ham chiến tranh, thích việc võ, chưa có ai là chẳng phải diệt.
Lý
Thuyên rằng: việc binh như lửa không mau dập đi thì rồi nó tự đốt cháy mình.
Cho
nên không biết hết cái hại của sự dùng binh, thì không thể biết hết cái lợi của
sự dùng binh.
Nói
sự mưu quốc hành quân, không trước lo cái họa nguy vong thì không thể lấy được
phần lợi, như Tần-bá thấy cái lợi đánh úp nước Trịnh mà không đoái đến cái thua
ở Hào Hàm, Ngô-vương hợm công đánh Tề mà quên mất cái vạ Cô-tô.
Lý
Thuyên rằng: Lợi cùng hại nó dựa nhau mà sinh ra, trước biết cái hại rồi sau
mói biết cái lợi.
Đỗ
Mục rằng: Sự hại như nhọc người tốn của, sự lợi như nuốt giặc mở cõi, nếu không
nghĩ đến cái lo của mình thì người trong một thuyền đều là địch quốc, còn mong
lấy lợi ở bên địch sao được.
Người
giỏi dùng binh thì việc phu phen lính tráng không gọi sổ đến hai lần, lương thực
không chuyên chở đến ba lần.
Tào-Công
rằng: Nói chỉ huy động một lần là đã thắng được, không lại về nước để lấy binh
thêm nữa.
Lý
Thuyên rằng: Quân ra thì tính xa gần mà chở lương đi, quân về thì chở lương
đón, thế là chỉ có hai lần chở chứ không đến ba lần.
Lấy
dùng ở trong nước, nhân lương của quân địch, cho nên quân ăn có thể đủ được.
Tào-Công
rằng: Binh giáp chiến cụ lấy dùng của trong nước, lương thực thì lấy của bên địch.
Trương
Dự rằng: Khí dụng lấy của trong nước vì vật nhẹ dễ đem, lương thực lấy của bên
địch vì thóc nặng khó chở. Này nghìn dặm mang lương thì quân có vẻ đói, cho nên
nhân lương của bên địch thì sẽ được đủ ăn.
Nước
nghèo lương quân thì phải chuyên chở xa chuyên chở xa thì trăm họ nghèo.
Đỗ
Mục rằng: Quân tử nói: Thóc đi ba trăm dặm thì nước không có cái súc tích một
năm, thóc đi bốn trăm dặm thì nước không có cái súc tích hai năm, thóc đi năm
trăm dặm thì dân chúng phải có vẻ đói. Đó là nói thóc nặng mà giá trị nhẹ,
không nên chuyên chở, chuyên chở thì nông phu và bò cầy đều phải lỡ việc ở đồng
áng, cho nên trăm họ không thể không nghèo.
Giả
Lâm rằng: Vận chở xa thì của hao hụt ở đường sá, hư nát vì đài tải, trăm họ phải
nghèo.
Gần
chỗ quân đóng thì bán được đắt, bán đắt thì trăm họ hết của.
Tào
Tháo rằng: Quân đội kéo đi, chỗ nào gần quân thì phải nghèo, vì của bán được đắt,
trăm họ phải rỗng.
Giả
Lâm rằng: Quân sĩ tụ ở đâu, vật đều đắt vọt, người ta tham cái lợi phi thường,
đem hết tài vật ra để bán, ban đầu tuy được lợi nhiều, nhưng sau thì rỗng hết của
cải.
Của
hết thì đến khoản khâu dịch cũng lúng túng không thể cung nổi.
Trương
Dự rằng: Tài lực cạn hết thì đến khoản sưu dịch hàng làng xóm cũng lúng túng
không dễ cung được. Hoặc nói rằng: Khâu dịch như chúa Thành Công nước Lỗ đánh
thuế khâu-giáp. Trong khi nhà nước túng tiêu, Thành Công bắt dân mỗi hàng khâu
phải nộp thứ thuế của hàng điện, trái hẳn với lệ thường. Mỗi khâu có 16 tỉnh
(chòm) mỗi điện có 64 tỉnh.
Sức
cạn của hết, những kẻ nơi đồng nội đều trống rỗng cửa nhà, trăm họ hao tổn, mười
phần mất bẩy.
Tào-Công
rằng: Mỗi khâu (xóm) là 16 tỉnh (chòm). Trăm họ của hết mà việc binh không
thôi, người ta phải vận-lương vất vả ở ngoài đồng nội. Mười phần mất bẩy là nói
về những sự hao hại.
Mai
Nghiêu Thần nói: Trăm họ đem tiền lương sức lực cung phụng khoản phí cho quân,
vốn liếng mười phần mất bẩy, nhà chúa đem bò ngựa khí giới cung phụng khoản phí
cho quân, vốn liếng mười phần mất sáu. Cho nên thuế nặng binh nhàm, trăm họ khổ
sở, phụ rộn dân nghèo, quốc gia trống rỗng.
Cho
nên viên tướng trí năng, cốt tìm cách ăn của bên địch, ăn của bên địch một
chung thì đỡ cho mình được 20 chung, rơm rác một thạch đỡ cho mình được 20 thạch.
Trương
Dự rằng: Nghìn dặm mang lương, tốn 20 chung và thạch, mới được 1 chung và thạch
đến nơi quân đóng, nếu càng hiểm trở thì chẳng những là thế, cho nên nhà Tần đi
đánh Hung-nô, đem 30 chung mà đến nơi chỉ còn 1 thạch.
Giết
quân bên địch do ở tức giận vậy.
Lý
Thuyên rằng: Giận là cái oai của quân.
Đỗ-Mục
rằng: Muôn người không thể cùng giận tất cả, phải do ta khêu gợi mới được.
Giả
Lâm rằng: Người mà không giận thì không chịu giết.
Họ
Hà rằng: Nước Yên vây thành Tức Mặc của nước Tề, những người Tề về hàng đều bị
cắt mũi, người Tề đều tức, càng cố giữ vững. Điền Đan lại buông lời phản gián rằng:
« Ta chỉ sợ người Yên đào những mồ mả ở ngoài thành làm nhục đến di-hài của các
tiền-nhân, đó là điều đáng lạnh lòng lắm ». Quân Yên nghe vậy bèn đào hết mồ mả,
đốt hết hài cốt. Người Tức-Mặc ở trên thành trông thấy đến ứa nước mắt khóc,
cùng muốn ra, sự tức giận tăng lên thập bội. Đan biết lính tráng đã có thể dùng
được, bèn kéo ra đánh phá được quân Yên.
Hám
lợi bên địch do ở của cải vậy.
Đỗ
Hựu rằng: Người ta biết rằng thắng được bên địch sẽ có cái lợi được hậu thưởng,
thì liều vào gươm mác, xông vào tên đạn, vui lòng mà sấn đánh, đều là nhờ sự
quyến dỗ của những món tiền của đền thưởng công lao.
Đỗ
Mục rằng: Nói được của cải của bên địch, tất đem thưởng cho quân lính, khiến mọi
người đều ham muốn mà cố đánh.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Giết giặc thì khêu quân ta bằng tức giận, cướp thành thì nhử
quân ta bằng của cải.
Cho
nên cuộc đánh nhau bằng xe, hễ cướp được xe từ 10 cỗ trở lên, sẽ thưởng cho người
lính cướp được trước tiên.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Thưởng khắp thì khó chu, cho nên tưởng thưởng cho một người dễ
khuyến-khích hàng trăm người.
Rồi
thay đổi cờ xí.
Tào-công
rằng: khiến cho cùng mầu cờ với mình.
Trương
Dự rằng: biến màu sắc của quân mình, khiến cho cũng giống như địch.
Xe
trộn lộn mà cưỡi.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Xe đem ngồi trẫn trộn, cờ không để nguyên cũ.
Vương-Tích
rằng: được xe của bên địch, nên đem xe ta dùng lẫn.
Lính
khôn khéo mà nuôi.
Trương
Dự rằng: những lính bắt được, tất lấy ân tín mà phù dưỡng, khiến họ thuận theo
sự sai dùng của ta.
Thế
gọi là thắng kẻ địch để làm mạnh thêm cho mình.
Lý
Thuyên rằng: Đời Hậu Hán, vua Quang Võ phá giặc Đồng-mã ở Nam-dương, bắt được
binh giặc mấy vạn, đều ghép vào đội ngũ, nhưng lòng người chưa yên ổn, Quang Võ
cho ai nấy lại về dinh mình rồi sẽ đi đến mà úy lạo. Họ bảo nhau rằng:
Tiêu-vương suy cái lòng đỏ của mình mà đặt vào bụng người, như thế ai là không
muốn liều chết để theo ông ấy! Nhân thế quân Hán càng mạnh lên, tức là nghĩa ấy.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Được quân bên giặc thì dùng lấy cái sở trường của họ, nuôi họ
bằng ân tín, tất họ sẵn lòng theo để cho mình dùng.
Cho
nên việc binh quý ở thắng chứ không quý ở lâu.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Trên đây nói đều là quý ở sự mau chóng, chóng thì của đỡ tốn
kém mà dân được nghỉ ngơi.
Họ
Hà rằng: Tôn-tử đầu đuôi nói về cái lẽ viện binh dùng lâu, đó là ông đã biết
sâu rằng việc binh không nên đem mà dỡn, việc võ không nên đem dùng nhảm.
Trương
Dự rằng: Lâu thì quân nản của hết, dễ sinh biến cố, cho nên chỉ quý ở mau thắng
chóng về.
Cho
nên viên tướng giỏi việc binh, là vị thần tư mệnh của dân mà là người chú sự an
nguy của quốc gia vậy.
Tào
Công rằng: Tướng giỏi thì nước yên.
Đỗ
Mục rằng: Tính mệnh của dân, yên nguy của nước, đều do ở viên tướng.
Vương Tích rằng: Tướng giỏi thì dân
giữ được sống mà quốc gia yên; nếu không thì dân bị giết hại mà quốc gia nguy;
minh-quân dùng tướng há chẳng nên tinh tường ư?
Chú
thích
[1]
Đời xưa gọi mỗi cân vàng là một vàng hoặc cũng gọi mỗi dật vàng là một vàng. Mỗi
dật là 24 lạng, gần nay thì gọi mỗi lạng vàng là một vàng.
➖➖➖
Chapter II. WAGING WAR
Translator: Lionel Giles
~
[Ts’ao
Kung has the note: "He who wishes to fight must first count the
cost," which prepares us for the discovery that the subject of the chapter
is not what we might expect from the title, but is primarily a consideration of
ways and means.]
1.
Sun Tzŭ said: In the operations of war, where there are in the field a thousand
swift chariots, as many heavy chariots, and a hundred thousand mail-clad
soldiers,
[The
"swift chariots" were lightly built and, according to Chang Yu, used
for the attack; the "heavy chariots" were heavier, and designed for
purposes of defence. Li Ch’uan, it is true, says that the latter were light,
but this seems hardly probable. It is interesting to note the analogies between
early Chinese warfare and that of the Homeric Greeks. In each case, the
war-chariot was the important factor, forming as it did the nucleus round which
was grouped a certain number of foot-soldiers. With regard to the numbers given
here, we are informed that each swift chariot was accompanied by 75 footmen,
and each heavy chariot by 25 footmen, so that the whole army would be divided
up into a thousand battalions, each consisting of two chariots and a hundred
men.]
with
provisions enough to carry them a thousand li,
[2.78
modern li go to a mile. The length may have varied slightly since Sun Tzŭ’s
time.]
the
expenditure at home and at the front, including entertainment of guests, small
items such as glue and paint, and sums spent on chariots and armour, will reach
the total of a thousand ounces of silver per day. Such is the cost of raising
an army of 100,000 men.
2.
When you engage in actual fighting, if victory is long in coming, the men’s
weapons will grow dull and their ardour will be damped. If you lay siege to a
town, you will exhaust your strength.
3.
Again, if the campaign is protracted, the resources of the State will not be
equal to the strain.
4.
Now, when your weapons are dulled, your ardour damped, your strength exhausted
and your treasure spent, other chieftains will spring up to take advantage of
your extremity. Then no man, however wise, will be able to avert the
consequences that must ensue.
5.
Thus, though we have heard of stupid haste in war, cleverness has never been
seen associated with long delays.
[This
concise and difficult sentence is not well explained by any of the
commentators. Ts’ao Kung, Li Ch’uan, Meng Shih, Tu Yu, Tu Mu and Mei Yao-ch’en
have notes to the effect that a general, though naturally stupid, may
nevertheless conquer through sheer force of rapidity. Ho Shih says: "Haste
may be stupid, but at any rate it saves expenditure of energy and treasure;
protracted operations may be very clever, but they bring calamity in their
train." Wang Hsi evades the difficulty by remarking: "Lengthy operations
mean an army growing old, wealth being expended, an empty exchequer and
distress among the people; true cleverness insures against the occurrence of
such calamities." Chang Yu says: "So long as victory can be attained,
stupid haste is preferable to clever dilatoriness." Now Sun Tzŭ says
nothing whatever, except possibly by implication, about ill-considered haste
being better than ingenious but lengthy operations. What he does say is
something much more guarded, namely that, while speed may sometimes be
injudicious, tardiness can never be anything but foolish—if only because it
means impoverishment to the nation. In considering the point raised here by Sun
Tzŭ, the classic example of Fabius Cunctator will inevitably occur to the mind.
That general deliberately measured the endurance of Rome against that of
Hannibals’s isolated army, because it seemed to him that the latter was more
likely to suffer from a long campaign in a strange country. But it is quite a
moot question whether his tactics would have proved successful in the long run.
Their reversal it is true, led to Cannae; but this only establishes a negative
presumption in their favour.]
6.
There is no instance of a country having benefited from prolonged warfare.
7.
It is only one who is thoroughly acquainted with the evils of war that can
thoroughly understand the profitable way of carrying it on.
[That
is, with rapidity. Only one who knows the disastrous effects of a long war can
realize the supreme importance of rapidity in bringing it to a close. Only two
commentators seem to favour this interpretation, but it fits well into the
logic of the context, whereas the rendering, "He who does not know the
evils of war cannot appreciate its benefits," is distinctly pointless.]
8.
The skilful soldier does not raise a second levy, neither are his
supply-waggons loaded more than twice.
[Once
war is declared, he will not waste precious time in waiting for reinforcements,
nor will he return his army back for fresh supplies, but crosses the enemy’s
frontier without delay. This may seem an audacious policy to recommend, but
with all great strategists, from Julius Caesar to Napoleon Bonaparte, the value
of time—that is, being a little ahead of your opponent—has counted for more
than either numerical superiority or the nicest calculations with regard to
commissariat.]
9.
Bring war material with you from home, but forage on the enemy. Thus the army
will have food enough for its needs.
[The
Chinese word translated here as "war material" literally means
"things to be used", and is meant in the widest sense. It includes
all the impedimenta of an army, apart from provisions.]
10.
Poverty of the State exchequer causes an army to be maintained by contributions
from a distance. Contributing to maintain an army at a distance causes the
people to be impoverished.
[The
beginning of this sentence does not balance properly with the next, though
obviously intended to do so. The arrangement, moreover, is so awkward that I
cannot help suspecting some corruption in the text. It never seems to occur to
Chinese commentators that an emendation may be necessary for the sense, and we
get no help from them there. The Chinese words Sun Tzŭ used to indicate the
cause of the people’s impoverishment clearly have reference to some system by
which the husbandmen sent their contributions of corn to the army direct. But
why should it fall on them to maintain an army in this way, except because the
State or Government is too poor to do so?]
11.
On the other hand, the proximity of an army causes prices to go up; and high
prices cause the people’s substance to be drained away.
[Wang
Hsi says high prices occur before the army has left its own territory. Ts’ao
Kung understands it of an army that has already crossed the frontier.]
12.
When their substance is drained away, the peasantry will be afflicted by heavy
exactions.
13,
14. With this loss of substance and exhaustion of strength, the homes of the
people will be stripped bare, and three-tenths of their incomes will be
dissipated;
[Tu
Mu and Wang Hsi agree that the people are not mulcted not of 3/10, but of 7/10,
of their income. But this is hardly to be extracted from our text. Ho Shih has
a characteristic tag: "The people being regarded as the essential part of
the State, and food as the people’s heaven, is it not right that those in
authority should value and be careful of both?"]
while
Government expenses for broken chariots, worn-out horses, breast-plates and
helmets, bows and arrows, spears and shields, protective mantlets, draught-oxen
and heavy waggons, will amount to four-tenths of its total revenue.
15.
Hence a wise general makes a point of foraging on the enemy. One cartload of
the enemy’s provisions is equivalent to twenty of one’s own, and likewise a
single picul of his provender is equivalent to twenty from one’s own store.
[Because
twenty cartloads will be consumed in the process of transporting one cartload
to the front. A picul is a unit of measure equal to 133.3 pounds (65.5
kilograms).]
16.
Now in order to kill the enemy, our men must be roused to anger; that there may
be advantage from defeating the enemy, they must have their rewards.
[Tu
Mu says: "Rewards are necessary in order to make the soldiers see the
advantage of beating the enemy; thus, when you capture spoils from the enemy,
they must be used as rewards, so that all your men may have a keen desire to
fight, each on his own account."]
17.
Therefore in chariot fighting, when ten or more chariots have been taken, those
should be rewarded who took the first. Our own flags should be substituted for
those of the enemy, and the chariots mingled and used in conjunction with ours.
The captured soldiers should be kindly treated and kept.
18.
This is called, using the conquered foe to augment one’s own strength.
19.
In war, then, let your great object be victory, not lengthy campaigns.
[As
Ho Shih remarks: "War is not a thing to be trifled with." Sun Tzŭ
here reiterates the main lesson which this chapter is intended to
enforce."]
20.
Thus it may be known that the leader of armies is the arbiter of the people’s
fate, the man on whom it depends whether the nation shall be in peace or in
peril.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét