2023-03-25
Tôn
Tử binh pháp: IX. Thiên hành quân
Tôn
Vũ
Dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện
~
· IX. Thiên hành quân (dịch giả: Trúc Khê
Ngô Văn Triện)
· Chapter IX. THE ARMY ON THE MARCH (in “Sun Tzŭ
on The Art of War”, translator: Lionel Giles) – nguồn:
https://www.gutenberg.org/
~
IX. Thiên hành quân
Tào-Công
rằng: Nói chọn chỗ tiện lợi mà hành quân.
Vương
Tích rằng: Hành quân nên kiếm chỗ thuận tiện, xét rõ địch tình.
Trương
Dự rằng: Biết lẽ biến của chín thế đất, rồi sau mới có thể chọn lợi mà hành
quân, cho nên thiên này ở dưới thiên Cửu biến.
Tôn-Tử
nói: Phàm đóng quân và xét địch.
Vương
Tich rằng: Việc đóng quân gồm có 4, việc xét địch gồm có 31.
Trương
Dự rằng: Từ câu vượt núi dựa hang đến câu quân phục quân gian ẩn náu, là việc
đóng quân, từ câu quân địch gần mà im lặng đến câu tất phải xét kỹ là việc xét
địch. Xét là xem xét liệu tính.
Vượt
núi dựa hang.
Lý
Thuyên rằng: Quân là bên mình, địch là bên giặc. Xem chỗ nương chỗ đóng thì cái
số thắng bại, cái thế mình người có thể biết được. Vượt núi để giữ thế hiểm, dựa
hang vì gần nước và cỏ. Này dàn dinh lũy tất trước phải chia binh giữ chỗ hiểm
yếu, thả lừa ngựa, thu củi đuốc, rồi sau mới yên.
Đỗ
Mục rằng: Nói khi hành quân đi qua núi hiểm nên đóng ở chỗ gần hang để có cái lợi
cỏ nước. Ngô Tử nói: Không kề bếp giời, chỗ cửa hang lớn, nói không nên kề ở cửa
hang nhưng gần hang thì được.
Trương
Dự rằng: Phàm hành quân vượt qua núi hiểm, tất phải nương dựa vào ngòi hang mà ở,
một thì lợi có cỏ nước, một thì dựa thế hiểm cố. Đời Hậu Hán, Vũ Đô-Khuông làm
loạn, Mã Viện đi đánh Khuông ở trên núi, Viện giữ chỗ tiện, cướp lấy cỏ nước,
không chịu cùng giao chiến, Khuông cùng khốn phải hàng. Ấy là Khuông không biết
cái lợi dựa vào hang đó.
Trông
sống, ở cao.
Tào
Công rằng: Sống là bóng nắng.
Lý
Thuyên rằng: Hướng về phía nắng là sống, ở núi là cao, chỗ đất sống, cao là
đáng ở.
Đỗ
Mục rằng: Nói nên ở chỗ cao mà ngoảnh về nam.
Trần
Hạo rằng: Nếu ở chỗ đất chỉ có thể ngoảnh về hai phía đông tây thì nên thế nào?
Đáp rằng: Thế thì nên ngoảnh về phía đông.
Trương
Dự rằng: Trông sống là bảo ngoảnh mặt về phía nắng; đóng quân nên ở gò cao.
Trận
cao không lên.
Tào
Công rằng: Đừng đón đánh kẻ địch từ trên cao xuống đánh mình.
Đỗ
Hựu rằng: Đánh nhau ở dưới núi, quân địch nhử lên núi thì đừng lên đuổi.
Đỗ
Mục rằng: Nói kẻ địch ở trên cao, ta không nên từ dưới trèo lên đón kẻ địch mà
tiếp chiến.
Đó
là cách đóng quân ở núi.
Trương
Dự rằng: Phàm chỗ cao đều gọi là núi, ở núi mà cự địch, nên biết ba điều trên
này.
Vượt
nước tất xa nước.
Tào
Công, Lý Thuyên rằng: Nhử quân địch sang qua sông.
Đỗ
Mục rằng: Tướng Ngụy là Quách Hoài ở đất Hán-trung, chúa Thục là Lưu Bị muốn
sang qua sông Hán để đánh. Các tướng bàn bên đông bên vắng không địch nhau được,
muốn dựa sông bầy trận cự địch, Hoài nói: Thế là tỏ ra mình yếu không đủ làm nhụt
được quân địch, chẳng bằng xa nước bầy trận, nhử cho họ đến, sang sông nửa chừng
rồi mình đổ ra đánh, sẽ có thể phá được Bị. Trận bầy rồi, Bị nghi ngờ không dám
sang sông.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Mặt trước có dòng sông ngăn cách thì nên xa sông để nhử giặc.
Vương
Tích rằng: Đây nói mình qua sông, lời họ Tào nói là phải.
Trương
Dự rằng: Phàm hành quân qua sông muốn đóng, tất phải cách nước khá xa, một thì
để nhử giặc sang sông, một thì để tiến lui vững chắc; tức như Quách Hoài xa nước
bầy trận mà Lưu Bị hiểu ra không dám sang sông đó.
Khách
vượt nước mà đến, mình đừng đón ở bến nước, nên để họ sang sông nửa vời mà
đánh, có lợi.
Lý
Thuyên rằng: Hàn Tín giết Long Thư ở Duy-thủy, Phù Khái phá Sở-Tử ở Thanh-phát
là thế đó.
Đỗ
Mục rằng: Sở Hán giữ nhau, Hạng Vũ tự đánh Bành Việt, sai Đại tư-mã Tào Cửu giữ
Thành cao, Quân Hán khiêu chiến, Cửu sang sông Ty-thủy để đánh, quân Hán đợi
cho sang đến nửa vời rồi đánh cả phá được.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Quân địch mới đến đón ở bến nước thì họ không sang sông.
Muốn
chiến đấu, đừng dựa bến nước mà đón khách.
Đỗ
Mục rằng: Nói ta muốn giao chiến, đừng nên đón quân địch ở bên cạnh sông, sợ địch
ngờ ta mà không dám sang sông. Nghĩa cũng giống trên, chỉ khác một đàng nói
khách, một đàng nói chủ.
Vương
Tích rằng: Ta thấy giao chiến là có lợi, thì nên đóng cách xa bờ sông, khiến địch
sang qua mà cùng mình giao chiến.
Trương
Dự rằng: Ta muốn giao chiến đừng đón kẻ địch ở bờ sông, sợ họ không sang. Ta
không muốn giao chiến, thì chống giữ ngay bên cạnh sông, khiến họ không sang được.
Tướng Tấn là Dương Xử-Phủ cùng tướng Sở là Tử-Thượng đóng quân ở giáp sông
Trì-thủy, Xử-Phủ kéo quân lui, muốn để cho quân Sở sang sông, Tử-Thượng cũng
kéo quân lui, muốn để cho quân Tấn sang sông, thế rồi hai bên cùng không đánh
nhau nữa mà về.
Trông
sống, ở cao.
Tào
Công rằng: Trên nước cũng nên đóng chỗ cao, trước mặt trông xuống nước, sau
lưng dựa vào gò đống.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Trên nước cũng nên chiếm chỗ cao, mà ngoảnh về hướng nắng.
Trương
Dự rằng: Hoặc bầy trận bên bờ, hoặc đỗ thuyền trên nước, đều nên ngoảnh chỗ nắng
mà ở chỗ cao.
Không
đón dòng nước.
Tào-Công
rằng: Sợ họ tưới dội.
Đỗ-Hựu
rằng: Sợ họ tưới dội vào mình. Đón dòng nước, tức là mình ở hạ-lưu, không nên ở
hạ-lưu người ta, vì sợ dòng nước tuôn chẩy, người ta bỏ thuốc độc ở thượng-lưu
chăng.
Đỗ-Mục
rằng: Nước chẩy chỗ thấp, mình không nên đóng quân ở chỗ ty-hạ, sợ kẻ địch khơi
tháo mà làm ngập mình, tức trên này nói trông sống ở cao đó. Gia-Cát Vũ-Hầu
nói: Trận bầy trên nước, không đón dòng xuôi. Đây nói thuyền mành quân ta cũng
không nên đỗ ở hạ lưu, sợ quân địch thuận dòng kéo xuống bức-bách.
Giả-Lâm
rằng: Chỗ đất nước chẩy, quân địch có thể dội quân ta, có thể thả thuốc độc. Có
người nói: Đón dòng mà đóng quân, là điều kiêng kỵ của nhà binh.
Trương-Dự
rằng: Đất thấp đừng ở, sợ họ tháo nước vào mình, đánh nhau bằng thuyền cũng
không nên ở phía hạ-lưu, vì họ xuôi mình ngược, không được thuận tiện lại sợ họ
bỏ thuốc độc ở thượng lưu nữa. Quan Lệnh-doãn nước Sở chống cự nước Ngô, bói việc
giao chiến, được quẻ không tốt. Tư-mã Tử-Ngư nói: « Ta được thượng-lưu. việc gì
chẳng tốt ». Bèn quyết chiến, quả thắng. Ấy việc đóng quân, nên ở thượng-lưu vậy.
Đó
là cách đóng quân trên nước.
Mai-Nghiêu-Thần
rằng: Đóng ở trên nước nên biết năm điều ấy.
Trương-Dự
rằng: Phàm lập trận gần nước, đều gọi là quân ở trên nước. Cự địch ở trên nước,
nên lấy năm điều trên làm phép.
Qua
đầm nước mặn, phải đi mau đừng ở.
Trần
Hạo rằng: Chỗ nước mặn, cỏ nước đều xấu, lầm lội không thể đóng quân. Sách
Tân-huấn nói: Đất đầm nước mặn, không sinh ngũ cốc, là thế.
Giả-Lâm
rằng: Chỗ đất mặn, phần nhiều không có cỏ nước, không nên ở lâu.
Nếu
giao quân ở trong đầm mặn, tất phải nương cỏ nước mà dựa cây cối.
Tào-Công
rằng: Nói bất đắc dĩ mà cùng quân địch gập ở trong đầm mặn.
Đỗ-Hựu
rằng: Nói bất đắc dĩ cùng quân địch đánh nhau trong đầm mặn, nên dựa vào chỗ
nhiều cây cối làm kế giữ bền, bởi địa lợi có giúp cho việc binh lắm.
Lý-Thuyên
rằng: Kíp quá không kịp, phải chiến thì dựa núi nương cây. Chỗ nước có cây cỏ
thì không sợ chìm đắm.
Trương
Dự rằng: Bất đắc dĩ phải hội binh ở chỗ ấy, tất phải nương gần cỏ nước để tiện
kiếm củi và múc nước, dựa bên cây cối để làm thế hiểm trở.
Đó
là cách đóng quân đầm mặn.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Đóng ở đầm mặn nên biết hai cách ấy.
Nơi
phẳng cạn đóng ở chỗ dễ.
Tào
Công rằng: Chỗ dễ có lợi cho xe ngựa.
Đỗ
Mục rằng: Nói nơi phẳng cạn nên chọn chỗ bình thản dễ dàng để đóng quân, khiến
xe ngựa của ta được dễ giong ruổi.
Trương
Dự rằng: Đồng bằng nội rộng là đất thuận tiện cho xe ngựa, nên chọn chỗ phẳng dễ
không có hố vũng để đóng quân, tiện cho xe ngựa ruổi giong.
Mà
bên hữu dựa cao, trước chết sau sống.
Lý
Thuyên rằng: Sự tiện dùng của người ta đều về phía hữu, vì thế phải có cái dựa.
Trước chết là cái chỗ đưa quân địch vào, sau sống là chỗ ta chiếm lấy.
Đỗ
Mục rằng: Thái Công nói: Đóng quân tất bên tả sông đầm, bên hữu gò đống. Chết
là chỗ thấp, sống là chỗ cao, chỗ thấp không thể chống được chỗ cao, cho nên việc
chiến đấu tiện cho quân mã.
Giả
Lâm rằng: Gò đống là sống, Gò đống thì đóng quân vững chắc, trước mặt đất phẳng
thì dùng binh tiện, phía hữu đất cao thì xoay chuyển thuận.
Vương
Tích rằng: Phàm binh nên đóng ngoảnh mặt về phía nắng, và đàng sau tựa núi, vậy
đáng nhẽ phải là trước sống sau chết mới phải, câu trên này hoặc có lầm chăng.
Trương
Dự rằng: Tuy nơi đất phẳng cũng tất phải có gò cao, nên dựa ở đàng hữu để nhờ
làm hình thế; trước thấp sau cao để tiện sự đánh chác.
Đó
là cách đóng quân ở đồng bằng.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Đóng quân ở đồng bằng nên biết hai cách ấy.
Ấy
cái lợi của bốn cuộc đóng quân.
Lý
Thuyên rằng: Bốn cuộc đóng quân là đóng ở núi, nước, đầm mặn, đất bằng.
Phàm
quân ưa cao mà ghét thấp.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Cao thì sảng khải, sẽ được yên hòa, mà cũng tiện thế: thấp
thì ẩm ướt, sinh ra tật bệnh cũng khó chiến đấu.
Trương-Dự
rằng: Ở cao thì tiện trông ngắm, lợi ruổi giang, ở thấp thì khó giữ bền, dễ
sinh bệnh.
Quý
dương mà rẻ âm.
Đỗ
Hựu rằng: Phía nam núi là dương, phía bắc núi là âm.
Vương
Tích rằng: Ở lâu tại chỗ ẩm thấp thì sinh bệnh tật và nát quân khí.
Trương
Dự rằng: Đông nam là dương, tây bắc là âm.
Nuôi
sống mà ở chắc.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Nuôi sống là tiện chỗ cỏ nước, ở chắc là lợi đường lương thực.
Vương
Tích rằng: Nuôi sống là nói về cỏ, nước lương thực, ở chắc là nói dựa vào hình
thế vững chãi.
Trương
Dự rằng: Nuôi sống là bảo đóng ở chỗ tiện bề cỏ nước, chăn thà, ở chắc là bảo dựa
chỗ cao trội mà đóng.
Quân
không trăm bệnh, ấy rằng tất thắng.
Lý
Thuyên rằng: Phàm người ở chỗ thấp tất sinh tật dịch, chỉ chỗ cao sáng là nên ở.
Đỗ
Mục rằng: Sống là ánh dương, chắc là chỗ cao. Nói ở chỗ cao sáng, không có cái
khí ẩm ướt thì trăm bệnh không sinh, sẽ tất thắng được.
Gò
đống đê đường ở về hướng dương mà dựa bằng tay hữu.
Đỗ
Mục rằng: Phàm gặp chỗ gò đống đê đường, nên ở về phía đông nam.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Tuy không phải đất cao, nhưng cũng nên mặt trước hướng về
phía sáng, tay hữu dựa vào đất chắc.
Vương
Tích rằng: Ở về phía nắng thì người thư thái mà đổ sắc tốt.
Ấy
là cái lợi của việc dùng binh, nhờ ở sức giúp của đất vậy.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Dùng binh có lợi, nhờ ở hình thế của đất giúp cho.
Trên
mưa, bọt nước đến, muốn sang sông, hãy đợi dẹp hẳn.
Tào
Công rằng: Sợ sang nửa chừng mà nước chợt dấy dềnh.
Đỗ
Hựu rằng: Sợ sang nửa vời mà nước dềnh, trên mưa, nước phải trong, lại thấy bọt
ngàn xô đến, đó là cái điềm quân địch tạm chẹn dòng nước, muốn hại quân mình
trong lúc sang nửa vời.
Đỗ
Mục rằng: Nói khi qua khe ngòi, thấy ở thượng lưu có bọt chẩy xuống, đó là ở
nguồn trên có mưa, nên đợi bọt hết nước yên hãy sang; nếu không, sợ sang nửa chừng
mà có nước xô xuống đầy vực.
Phàm
đất có suối tật.
Trước
sau hiểm tuấn, nước chẩy ngang ở trong.
Giếng
giời.
Bốn
mặt cao tát, suối khe chẩy về.
Cũi
giời.
Ba
mặt cách tuyệt, dễ vào khó ra.
Lưới
giời.
Cỏ
cây chằng chịt, gươm mác khó giở.
Bẫy
giời.
Thấp
lội trơn bẩn, xe ngựa chẳng thông.
Khe
giời.
Hai
núi chạm nhau, đường hang chật hẹp. Sáu điều này đều do Mai Nghiêu Thần chua.
Thì
phải kíp đi mà đừng gần.
Tào
Công rằng: Núi sâu nước lớn là suối tật, bốn bề cao chính giữa thấp là giếng giời,
núi sâu đi qua như trùm hum mờ mịt là cũi giời, có thể chăng lưới để bắt người
là lưới giời, hình đất trụt hãm là bẫy giời, dòng suối trong núi hẹp hòi, hình
đất sâu mấy thước, dài mấy trượng là khe giời.
Đỗ
Mục rằng: Sách Quân-sấm nói: Hình đất trụt xuống, nước lớn tràn tới là giếng giời,
khe núi hẹp hòi có thể chẹn người là cũi giời, nước khe trong rộng, không lường
sâu nông, đường sá trơn lầm, không thông người ngựa là bẫy giời, đất nhiều hầm
hố, cây chẹt đá nghẹt là khe giời, rừng cây mịt mù, cỏ lá rậm rạp là lưới giời.
Giả
Lâm rằng: Hai bờ sâu rộng, đứt lối người đi là suối tật, đất sâu là giếng giời,
bốn bên suối hiểm, cỏ nước lẫn lộn, chính giữa chênh nghiêng, ra vào đều khó là
cũi giời, đường sá gập ghềnh, hoặc rộng hoặc hẹp, quắt quéo khó đi là lưới giời,
đất nhiều bùn lầy là bẫy giời, hai bên hiểm tuyệt, hình hẹp dài hàng mấy dặm,
giữa khó đi thông, có thể chẹn lấp ra vào là khe giời. Đó là đất có sáu cái hại,
không nên gần.
Vương
Tích rằng: Tích bảo suối tật nên là suối tật giời mới phải, sót mất chữ giời.
Sáu cái này đều là hình thế tự nhiên. Cũi là bảo như cái nhà ngục, lưới là bảo
như cái lưới chăng, bẫy là bảo chỗ đất khe ngòi lầy lội, khe là bảo chỗ đất đá
gỗ khía tách, quân đi qua đó đừng gần. Nếu không, lỡ xảy ra sự bất trắc thì dù
có trí lực cũng không thể làm gì được.
Ta
xa chỗ ấy, địch gần chỗ ấy, ta hướng vào đấy, địch dựa vào đấy.
Tào
Công rằng: Dùng binh nên xa sáu cái hại, nay địch gần và dựa vào thì ta lợi mà
địch hại.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Nói sáu cái hại nên khiến cho ta xa mà địch gần, ta hướng vào
mà địch dựa vào thì ta lợi mà địch hại.
Cạnh
chỗ quân đóng có núi, khe, búi, vũng, giếng mọc lau lạch, rừng núi um tùm tất
phải lùng soát cẩn thận, đó là những chỗ quân phục quân gian náu núp.
Tào
Công rằng: Đây trở lên là bàn về địa-hình, trở xuống là xét về địch tình.
Trương
Dự rằng: Những chỗ rừng hoang búi rậm, cây cỏ um tùm, tất phải lùng soát, sợ có
quân phục ở trong, lại sợ quân gian tế lén núp, dò hư thực của ta, nghe hiệu lệnh
của ta.
Quân
địch đóng gần mà im lặng, cậy có thế hiểm.
Mai
Nghiêu Thần rằng: đóng gần mà không động; bởi họ dựa vào thế hiểm.
Vương
Tích rằng: Cậy hiểm cho nên không sợ.
Đóng
xa mà khiêu chiến, muốn cho người tiến.
Trần
Hạo rằng: Kẻ địch đóng gần mà không khiêu chiến là cậy có thế hiểm, nếu xa mà
khiêu chiến là muốn nhử cho ta tiến rồi mới thừa dịp tiện lợi mà xông đánh.
Trương-Dự
rằng: Hai quân gần nhau mà không động đậy là họ ỷ được thế hiểm cố, hai quân xa
nhau mà thường đến khiêu chiến là họ muốn nhử cho ta tiến. Úy-liêu-Tử nói: chia
hiểm không chiến tâm, nói kẻ địch trước đã chia được thế hiểm thì ta đừng cùng
họ nên đánh nhau. Lại rằng: khiêu chiến không toàn khí, nói cách nhau xa thì họ
khiêu chiến để nhử cho ta tiến, ta không nên đem toàn khí để đánh họ. Những điều
ấy cũng giống với cách nói ở đây.
Chỗ
đóng dễ dàng, lợi.
Đỗ
Mục rằng: Nói kẻ địch không ở chỗ hiểm trở mà ở chỗ dễ dàng, tất có sự tiện lợi
cho việc.
Trương
Dự rằng: Kẻ địch bỏ chỗ hiểm mà ở chỗ dễ, tất có cái lợi. Hoặc có người bảo: Kẻ
địch muốn ta tiến, cho nên đóng ở chỗ dễ dàng để tỏ cái lợi mà nhử ta.
Cây
cối lay động, đến.
Tào
Công rằng: Đẫn chặt cây cối, dọn đường tiến đến, cho nên động.
Trương
Dự rằng: Phàm việc quân tất phải phái người nom giỏi lên cao để xem nom kẻ địch,
nếu thấy rừng cây rung động thì là họ đẫn cây dọn đường để đến. Hoặc có người
nói: Không chỉ dọn đường cũng có khi họ dùng làm binh khí nữa, như người Tấn đẫn
cây để thêm làm đồ binh khí đó.
Cỏ
rả nhiều chỗ kết lại thành bức bình chắn, ngờ.
Tào
Công rằng: Kết cỏ thành những bức bình, muốn làm cho ta phải nghi ngờ.
Đỗ
Mục rằng: Kết cỏ thành nhiều bức chắn, muốn khiến cho ta phải nghi ngờ. Phàm chỗ
cỏ rậm, thấy kết nhiều những bức bình chắn, tất là quân địch đã tránh đi, sợ ta
đuổi theo nên làm ra những bức chắn như thế, để khiến mình phải ngờ là có quân
phục.
Đỗ-Mục
rằng: Nói kẻ địch hoặc dinh lũy chưa thành, hoặc nhổ quân lén đi, sợ ta đuổi
theo hay đánh úp, cho nên kết cỏ lại làm thành những búi như kiểu có người ẩn
núp, khiến ta ngờ mà không dám tiến.
Chim
bay lên, phục.
Tào-Công
rằng: Chim bốc cánh lên, dưới có quân phục.
Đỗ-Hựu
rằng: Dưới có quân phục trú ẩn, động chạm khiến chim sợ hãi mà bay lên.
Trương-Dự
rằng: Chim đương bay bằng làn đến đấy chợt bốc cánh bay cao, tất là dưới có
quân phục.
Muông
chạy quàng, úp.
Lý-Thuyên
rằng: Bất ngờ mà đến là úp.
Đỗ-Mục
rằng: Phàm kẻ địch muốn đánh úp ta, tất do con đường khác cây cối hiểm trở mà đến,
cho nên hễ thấy giống muông phục sợ hãi chạy quàng là có quân đến đánh úp đó.
Mai-Nghiêu-Thần
rằng: Muông sợ chạy quàng, cạnh đó có quân đến đánh úp.
Bụi
cao mà nhọn, xe đến.
Đỗ-Hựu
rằng: Xe đến đi nhanh, bụi xô nhau, cho nên cao.
Trương-Dự
rằng: Xe ngựa đi nhanh mà thế nặng, lại những vết bánh nối nhau mà tiến, cho
nên bụi cát bốc cao mà nhọn thẳng. Phàm quân đi nên có người thám xét đi ở đằng
trước, nếu thấy bụi địch, tất phải ruổi báo với chủ tướng, như Phan Đảng trông
thấy bụi Tấn sai người báo cáo đó.
Thấp
mà rộng, bộ đến.
Đỗ-Mục
rằng: Quân bộ đi chậm, mà đi thành hàng, cho nên bụi thấp mà rộng.
Vương-Tích
rằng: Xe ngựa bốc bụi mạnh, quân bộ thì bụi khoan hoãn hơn.
Tan
mà vắt vẻo, kiếm củi.
Đỗ-Hựu
rằng: Bụi rải rắc mà vắt vẻo đưa lên, là những quân kiếm củi mỗi kẻ đi về một
phía.
Đỗ-Mục
rằng: Kiếm củi thì mỗi bọn đi về một phía, cho nên bụi cát tản tác vắt vẻo. Vắt
vẻo là nói dọc ngang đứt nối.
Ít
mà trở đi trở lại, cắm dinh.
Đỗ
Hựu rằng: Muốn lập dinh lũy, cho khinh binh đi lại dò thám, cho nên bụi ít.
Trương
Dự rằng: Phàm chia đặt dinh trại, tất sai quân khinh kỵ đi ra bốn mặt dò xem thế
đất, muốn để biết khắp cái hình hiểm dễ rộng hẹp, cho nên bụi bay lên bé nhỏ.
Lời
nhún mà phòng bị thêm, tiến.
Đỗ-Mục
rằng: Nói kẻ địch sai sứ đến, nói năng nhún nhường, lại tu bổ thêm cho rào lũy
vững chắc, tựa như sợ ta, đó là muốn ta ngông hợm mà sinh trễ biếng, tất họ sẽ
đến đánh ta đó. Triệu Xa đi cứu thành Át-dư, đóng lại ở chỗ cách thành Hàm-đan
30 dậm, lập thêm lũy mà không tiến, quân Gián-điệp của Tần đến, thết đãi tử tế
mà cho về. Gián-điệp về báo với tướng Tần, tướng Tần quả nhiên cả mừng mà nói:
Át-dư không còn là đất của Triệu nữa. Xa đã thả gián-điệp của Tần đi rồi, lập tức
gấp đường đi ròng, đánh úp khi Tần không phòng bị, bèn cả phá được quân Tần.
Trương
Dự rằng: Sứ đến từ tốn, lại thêm phòng bị, muốn để làm cho ta hợm rồi sau họ mới
tiến. Điền Đan giữ ở Tức-mặc, tướng Yên đem quân đến vây. Đan thân cầm xẻng cuốc,
cùng quân lính chia công việc, đem cả thê thiếp ghép vào trong hàng ngũ, đem đồ
ăn riêng chia cho cả quân sĩ cùng ăn, rồi sai con gái trèo lên mặt thành ước sự
đầu hàng, làm cho tướng Yên mừng lắm. Lại thu vàng của dân gồm một nghìn dật,
khiến bọn phú hào sai sứ đưa dẫn tướng Yên và gửi bức thư nói: thành sẽ hàng đến
nơi, xin khi vào thành đừng bắt những thê thiếp, người Yên lại càng trễ nải. Điền-Đan
đem quân ra đánh, cả phá được.
Nhời
quyệt mà tiến đánh mạnh, lui.
Đỗ
Hựu rằng: Giong ruổi ra bộ không sợ gì, ấy biết là họ muốn lui.
Mai-Nghiêu-Thần
rằng: Khi họ muốn lui, sứ giả nói năng đã bạo dạn, quân lại tiến mạnh để chực nạt
ta.
Trương-Dự
rằng: Sứ đến lời mạnh, quân lại tiến lên, đó là muốn nạt ta để định lui đó. Chức
Hành-nhân nước Tần đêm sang nói với quân Tấn rằng: Quân hai bên đều chưa khuyết
cả, ngày mai xin gặp nhau. Du Biền nước Tấn nói: Sứ giả mắt chao mà nói ngông,
chính là họ sợ ta đấy. Quả nhiên đêm hôm ấy thì quân Tần trốn.
Xe
nhẹ ra trước để ở bên cạnh trận.
Tào
Công rằng: Bầy trận để định giao chiến.
Đỗ
Mục rằng: Đưa xe nhẹ ra, định trước cái bờ cõi của chiến trận đó.
Trương
Dự rằng: Xe nhẹ là xe chiến... Ra quân ở cạnh, muốn dàn binh đánh nhau đó. Xét
trận Ngưu-ly, trước thiên sau ngũ, nói lấy xe ở trước, lấy ngũ tiếp sau. Thế
thì hễ muốn đánh, xe kéo ra trước ở bên cạnh.
Không
hẹn mà xin hòa, mưu.
Đỗ
Mục rằng: Chưa có ước hẹn mà sứ đến xin hòa, đó là có cái mưu gián điệp.
Đỗ
Mục rằng: Năm Trịnh-nguyên thứ 3, thủ lĩnh Thổ-phồn là Thượng Kết Tán nhân xâm
lược xứ Hà-khúc, xẩy khi phát bệnh dịch lệ, người ngựa chết mất quá nửa, sợ
không về được, bèn vờ cùng quan Thị-trung Mã Toại khẩn khoản, nhờ tâu lên xin
giảng hòa. Toại bèn cùng họ hội thề. Bây giờ Hà-trung Tiết-độ-sứ là Hồn-Châm
tâu rằng: Nếu nhà nước ta đóng binh trên cõi, định tiến đánh họ, quân rợ xin
hòa, thì cũng nên tin. Nay Thổ-phồn tự đến lấn ta, không đòi hỏi gì, tự nhiên lại
xin hội thề, e rằng họ không thực thà chăng. Vua không nghe nhời. Hồn Châm đem
2 vạn quân đóng ở huyện Bình-lang thuộc về Hình-châu. Đàn thề ở cách phía tây
huyện này 30 dặm. Ngày 13 tháng 5, Châm đem 3 nghìn người đến họp ở đàn sở. Thổ-phồn
quả mặc áo giáp ở trong mà cướp đàn.
Trần
Hạo rằng: Nhân thề mà cướp, không riêng có việc ở quốc-triều (Đường) mà thôi. Tấn
Sở họp ở nước Tống, người Sở mặc giáp ở trong định đánh úp Tấn, người Tấn biết,
thành ra thất tín. Đây nói không có ước mà xin hòa, là tổng luận về quân của
hai nước, hoặc lấn, hoặc đánh, hai bên chưa bên nào yếu kém, mà vô cố một bên
xin hòa, đó tất là kẻ địch trong nước có sự ưu nguy, muốn làm cái kế tạm yên, bằng
không thì biết ta có cái thế có thể mưu đồ, muốn khiến cho ta không nghi ngờ,
trước hãy cầu hòa, rồi sau mới đánh khi ta không phòng bị. Thạch Lạc phá vỡ
Vương Tuấn, trước hết hãy mật xin hòa hiếu, sau rồi thần phục, biết Tuấn không
nghi ngờ, bèn xin sửa lễ vào triều cận, Tuấn ưng cho. Khi vào, nhân giết Tuấn
mà diệt tan cơ nghiệp.
Trương
Dự rằng: Vô cố xin hòa, tất có mưu gian. Hán Cao Tổ muốn đánh quân Tần, sai Lịch
Tự-Cơ đem đồ báu ngọc đến lễ người tướng là Giả Kiên, tướng Tần quả muốn liền
hòa. Cao-Tổ nhân khi họ trễ nải mà đánh, quân Tần đại bại. Lại tướng Tấn là Lý
Củ giữ ở Huỳnh-đương, Lưu Xướng đem 3 vạn người đến đánh. Củ sai sứ đem trâu rượu
đến xin hàng, ngầm giấu quân khỏe mà phô những lính yếu. Xướng khao thưởng sĩ tốt,
ai nấy đều no say, Củ nhân đêm đến đánh úp, Xướng chỉ còn được một mình chạy
thoát.
Chạy
chọt mà bầy xe binh, kỳ.
Đỗ
Mục rằng: Trên nói xe nhẹ ra trước để ở bên cạnh trân, đó là đưa xe ra trước để
định cương giới của chiến trường, lại lập một cây cờ ở đấy làm nêu, nay thì chạy
chọt để đến cái nêu ấy. Kỳ là kỳ hẹn, cùng với mọi người hẹn cùng đến dưới cái
nêu ấy. Thiên Đại-Sưu ở sách Chu-Lễ nói: « Xe giong bộ chạy, tới nêu thì dừng
», tức là như thế.
Giả
Lâm rằng: Kỳ hẹn tầm thường không cần phải chạy, tất có quân xa kéo đến, hẹn
đúng giờ phút định để hợp thế mà đánh ta, nên kíp đề phòng.
Nửa
tiến, nửa lui, nhử.
Đỗ
Mục rằng: Giả làm ra bộ lộn không đều, ấy là định nhử cho ta tiến.
Trương
Dự rằng: giả làm như loạn là nhử ta đó, như chúa Ngô đem tù đồ tỏ sự lộn xộn để
nhử quân Sở vậy.
Đứng
dựa đồ binh, đói.
Đỗ
Hựu rằng: Tựa vào gươm mác mà đứng là cái lý đói.
Trương
Dự rằng: Phàm người không ăn thì lả, cho nên tựa vào binh khí mà đứng ba quân
ăn uống, trên dưới cùng lúc, cho nên một người đói thì biết ba quân đều thế cả.
Vục
mà uống trước, khát.
Đỗ
Mục rằng: Sai đi vục nước, chưa vục về mà uống trước, đó là bởi khát. Xem một
người, có thể biết được cả ba quân.
Trương
Dự rằng: Kẻ đi vục nước chưa kịp về trại mà đã uống trước, đó là vì ba quân
khát vậy.
Thấy
lợi mà không tiến, nhọc.
Tào
Công rằng: Lính tráng nhọc mệt.
Đỗ
Hựu rằng: Kẻ địch đến thấy cái lợi của ta mà không tiến đánh, ấy là vì nhọc mệt.
Chim
đậu, rỗng.
Đỗ
Hựu rằng: Quân địch lập nhiều dinh lũy để phô trương lực lượng, vậy mà lại có
chim đậu ở bên trên, ấy là trong rỗng.
Đỗ
Mục rằng: Đặt cái « hình ở » mà trốn đi. Tề với Tần giữ nhau, Thúc Hướng nói:
có tiếng chim quạ kêu vui, chắc là quân Tề đã trốn đi rồi. Đời Hậu Chu, Tề
vương Hiến đi đánh Cao Tề, sắp rút quân về, bèn lấy lá bách kên làm lều, đốt
phân rác cho khói um lên rồi đi. Cao Tề trông hai ngày mới biết là cái trại
không, đuổi theo không kịp. Ấy là để « hình ở » mà trốn đi đó.
Trần
Hạo rằng: Đây nói kẻ địch nếu đi, dinh lều tất rỗng, chim chóc không sợ, bèn
kêu đậu ở trên. Tử Nguyên nước Sở đi đánh Trịnh, sắp chạy, có quân gián điệp
nói rằng: Lều Sở có chim, bèn thôi không chạy nữa, vì biết quân Sở đã đặt hình ở
để mà trốn đi rồi. Thiên này là Tôn-tử bảo cách phân biệt thực dối của quân địch
đó.
Trương
Dự rằng: Phàm quân địch ngầm lui, tất bỏ dinh lều, chim chóc thấy trống, kêu đậu
ở trên. Nước Sở đánh Trịnh, người Trịnh sắp chạy, quân gián điệp bảo rằng: « Lều
Sở có chim », bèn thôi. Lại nước Tấn đi đánh nước Tề, Thúc Hướng nói: « Trên
thành có chim, quân Tề hẳn trốn » Ấy là đặt hình ở để mà trốn đó.
Đêm
hò, sợ.
Tào
Công rằng: Quân sĩ đêm tối hò nhau là tướng không mạnh dạn.
Lý
Thuyên rằng: Quân lính nhát mà tướng lười, cho nên sợ hãi mà gọi nhau.
Trần
Hạo rằng: trong 10 người có 1 người bạo, tuy 9 người nhát, họ cũng dựa vào một
người mà tự yên. Nay quân sĩ đêm tối hò nhau là bởi vì tướng không mạnh dạn. Lời
họ Tào nói là phải.
Trương
Dự rằng: Ba quân lấy tướng làm chủ, tướng không có đảm dũng, không làm yên ổn
được quân, cho nên quân lính sợ hãi mà đêm tối hò la, như là quân Tần suốt đêm
không im tiếng đó.
Quân
rộn, tướng không oai trọng.
Lý
Thuyên rằng: Tướng không oai trọng thì quân rộn.
Trần
Hạo rằng: Tướng mà pháp lệnh không nghiêm oai dong không trọng, quân do thế mà
rối loạn.
Trương
Dự rằng: Trong quân nhiều lúc kinh rộn là bởi tướng không trì trọng. Trương
Liêm đóng ở Trường-xã, đêm trong quân chợt loạn, cả một đồn quân đều nhốn nháo.
Liêm bảo tả hữu im lặng đó tất là có kẻ gây biến, muốn làm loạn động đó thôi.
Bèn truyền cho quân sĩ ngồi im, còn mình đứng ở giữa, chỉ một lúc lại đâu vào đấy
cả. Ấy là biết trì trọng đó.
Cờ
phướn xao xác, loạn.
Đỗ
Hựu rằng: Lỗ Trang-Công đánh bại quân Tề ở Trường-quân, Tào Quệ xin đuổi. Công
nói: Xem thấy thế nào? Thưa rằng: Xem thấy bánh xe rối loạn mà cờ lướt, cho nên
đuổi.
Trương
Dự rằng: Cờ phướn để làm cho quân chúng đều đặn, thế mà động lay vô định là bộ
ngũ đã lộn xộn rồi.
Kẻ
lại tức giận, mỏi.
Đỗ
Hựu rằng: Kẻ quân lại tức giận chủ tướng đó là do đã mỏi nhọc.
Đỗ
Mục rằng: Mọi người đều mỏi mệt cho nên kẻ lại không sợ mà tức giận.
Trần
Hạo rằng: Chủ tướng bầy ra những việc phu dịch không cần, cho nên mọi người đều
mỏi nhọc.
Trương
Dự rằng: Chính lệnh bất nhất lòng người mỏi nhọc, cho nên kẻ lại nhiều người tức
giận. Tần Sở đánh nhau, tỳ tướng nước Tấn là Triệu Chiên, Ngụy Y tức giận muốn
đánh bại quân Tấn, đều phụng mệnh của nước Sở cả; Khích Khắc nói: hai kẻ giận dỗi
đi mất, nếu không phòng bị thì thua, đó vậy.
Cho
ngựa ăn thóc, giết bò ăn thịt, quân không treo nồi, không về nhà, giặc cùng.
Đỗ
Hựu rằng: Cho ngựa ăn thóc, giết bò ăn thịt, thế là không để dành lại cái gì nữa,
không treo nồi lên để bữa khác nấu ăn, ấy là giặc cùng muốn liều chết đánh nhau
đó.
Đỗ
Mục rằng: lấy thóc lúa để nuôi ngựa, giết trâu ngựa để khao quân, quân không
treo nồi, đập vỡ để tỏ không thổi nữa; không thổi nữa, không về nhà ngày đêm
chuyên lo việc kết lập bộ ngũ. Như thế đều là giặc cùng, định sẽ quyết một trận
tử chiến.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Lấy thóc ra nuôi ngựa, giết bò để khao quân, bỏ nồi không lại
thổi, dãi đầy không về nhà, đó là họ muốn quyết chiến để lấy thắng.
Rì
rầm, xúm xụm, lời nói thủng thẳng, mất người.
Trương
Dự rằng: Rì rầm là nói, xúm xụm là họp, thủng thẳng là chậm rãi, nói quân lính
họp nhau mà nói chuyện riêng, lời sẽ mà chậm, để chê trách người trên, ấy là tướng
đã để mất lòng người đó.
Thưởng
luôn, quẫn.
Đỗ
Mục rằng: Thế lực cùng quẫn, sợ quân làm phản, thưởng luôn để cho họ đẹp lòng.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Thế cùng lo sự phản loạn, thưởng luôn để cho người vui lòng.
Phạt
luôn, khốn.
Đỗ
Hựu rằng: Thường làm những sự hình phạt, giáo lệnh nát nớt, ấy là làm khốn
quân.
Đỗ
Mục rằng: Sức người khốn quyện, không sợ hình phạt, cho nên phải phạt luôn để
cho phải sợ.
Trước
dữ dội mà sau sợ người, không tinh rất mực.
Lý
Thuyên rằng: Trước khinh động mà sau e sợ, thế là dũng mà không cương, ấy là
người không sành rất mực.
Giả
Lâm rằng: Giáo lệnh không phân minh, quân lính không tinh luyện, viên tướng như
thế, trước muốn cường bạo đối với mọi người, sau thấy họ bội bạc thì lại sinh sợ,
đó là người ươn hèn rất mực.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Trước làm sự nghiêm bạo, sau lại sợ người ta lìa bỏ, đó là huấn
luyện và trừng phạt không tinh rất mực.
Trương
Dự rằng: Trước khinh địch, sau sợ người. Hoặc nói: Trước thì dữ tợn đối với kẻ
dưới, sau lại sợ họ phản mình, đó là rất không tinh trong sự dùng uy và dùng
ái, cho nên trên này nói sự thưởng luôn, phạt luôn đó.
Hạ
mình đến tạ, muốn nghỉ ngơi.
Đỗ
Mục rằng: Phải hạ mình đến xin tạ là thế đã cùng, hoặc có duyên cớ khác, muốn
được nghỉ ngơi.
Giả
Lâm rằng: Khí cùn mà nói tạ, là muốn cầu hai bên hòa giải.
Trương
Dự rằng: Sai người thân ái đến hạ mình xin tạ là thế lực cùng cực muốn thôi
binh nghỉ chiến.
Quân
giận dữ đến đón mình, lâu không hợp chiến, lại không kéo đi, phải xem xét kỹ.
Tào
Công rằng: Phải phòng có quân kỳ quân phục.
Đỗ
Mục rằng: Quân kia thịnh nộ kéo ra trận, lâu không giao tiếp, lại không kéo đi,
thế là họ có sự chờ đợi, nên dò xét kỹ kẻo sợ có quân kỳ quân phục xô đến ở cạnh.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Giận dữ đến đón ta, lâu mà không tiếp chiến, lại không rút
đi, tất có quân kỳ quân phục để đợi ta. Trở lên là luận về địch tình.
Binh
không cần phải thêm cho nhiều.
Tào
Công rằng: Quyền lực đều nhau thì thôi, không cần phải thêm cho nhiều.
Vương
Tích rằng: Tích bảo quyền lực đều nhau là đủ, không cần lấy nhiều làm ích.
Đừng
chuyên lấy vũ dũng mà tiến.
Tào
Công rằng: Nếu chưa thấy sự thuận tiện, đừng chỉ trông cậy ở sức mạnh mà tiến.
Vương
Tích rằng: Đừng nên chỉ cậy mạnh, nên lấy kế trí liệu địch mà làm.
Đủ
để gồm sức liệu địch, lấy người mà thôi [1].
Trần
Hạo rằng: Nói ta binh lực không nhiều hơn bên địch, lại không có thế lợi-tiện để
mà tiến, bất tất phải xin quân nước khác, chỉ ở trong số quân lệ thuộc của
mình, gồm sức lại cũng đủ để phá được quân địch.
Trương
Dự rằng: Binh lực đã đều, lại chưa thấy tiện, tuy chưa đủ tiến mạnh, cũng đủ lấy
người ở trong đám bộ thuộc để gồm binh hợp sức, xét kẻ địch mà đánh lấy thắng,
bất tất phải mượn quân ngoài để giúp mình.
Này
không mưu tính mà coi khinh kẻ địch, tất bị người bắt.
Đỗ
Mục rằng: Không có mưu sâu nghĩ xa, chỉ cậy sức mạnh xấn xổ mà coi khinh kẻ địch,
tất bị kẻ địch họ bắt.
Vương
Tích rằng: Không biết liệu địch chỉ lấy sức mà tiến, tất bị quân địch bắt, tỏ rằng
sự lo ngại không ở chỗ không có nhiều quân.
Trương
Dự rằng: Không biết liệu người, lại khinh địch để lấy sức mạnh mà tiến, tất sẽ
bị người bắt. Tề Tấn đánh nhau, Tề-hầu nói: Ta hãy diệt họ xong sẽ ăn cơm sáng.
Bèn không mặc giáp cho ngựa mà ruổi tràn, bị quân Tấn đánh bại.
Lính
chưa theo bám khắn khít mà phạt thì họ không phục, không phục thì khó dùng.
Đỗ
Mục rằng: Ân tín chưa thấm khắp, không nên lấy hình phạt mà bắt ép phải đều như
nhau.
Trương
Dự rằng: Chợt ở vào ngôi tướng súy, ân tín chưa ra khắp mọi người, đã vội lấy
hình phạt để bắt phải đều nhau thì họ tức giận mà khó dùng. Cho nên Điền Nhương
Thư nói: Thần vốn hèn mọn, lính tráng chưa theo, trăm họ không tin; lại Ngũ Sâm
nói: Nước Tấn người tòng chính mới, chưa thể hành lệnh, đó vậy.
Lính
đã theo bám khắn khít mà sự phạt không thi hành thì không thể dùng.
Tào-Công
rằng: Ân tín đã nhuần, nếu không hình phạt thì chúng sẽ ngông nghênh khó dùng.
Trương
Dự rằng: Ân tín thấm khắp, lòng quân đã theo, nếu mà hình phạt khoan-hoãn, thì
họ ngông không thể dùng được.
Cho
nên lấy văn để ra lệnh, lấy võ để so tầy.
Lý
Thuyên rằng: Văn là nhân ân, võ là uy-phạt.
Vương
Tích rằng: Ngô Khởi nói: Tóm cả văn võ là tướng quân, gồm có cứng mềm và binh-sự.
Ấy
rằng: tất lấy được phần thắng.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Lấy nhân ân để ra lệnh, lấy uy hình để so-tầy, ân uy tỏ rạng,
tất là phải thắng.
Lệnh
vốn thi hành, dạy dân thì dân phục.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Uy lệnh vốn đã có sẵn, dạy bảo dân sẽ nghe phục.
Trương
Dự rằng: Tướng lệnh vốn thi hành, người dân đã tin, dạy bảo để dùng, người người
nghe phục.
Lệnh
vốn không thi hành, dạy dân thì dân không phục.
Vương
Tích rằng: Dân không dạy sẵn, sẽ khó sự dùng.
Họ
Hà rằng: Người đã ra ngoài khuôn phép thì còn nghe theo sự dạy làm sao được.
Lệnh
vốn đúng mực rõ rệt, sẽ tương đắc với mọi người.
Đỗ
Mục rằng: Nói làm tướng đương khi vô sự, nên đem ân tín uy lệnh mà ban bố rõ rệt
ra với mọi người, rồi đến khi đối với kẻ địch, hành lệnh lập pháp sẽ được người
người tín phục.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Tín phục đã sẵn, việc gì chẳng theo.
Trương Dự rằng: Trên lấy tín mà khiến
dân, dân lấy tín mà phục trên, thế là trên dưới tương đắc. Úy Liên Tử nói: Phàm
cách ra lệnh, nhầm nhỏ không đổi, ngờ nhỏ không thay, nói hiệu lệnh đã ra không
nên thay đổi, trừ ra khi có điều lầm nhớn ngờ nhớn, cốt để cho dân tin vậy. Gia
Cát Lượng cùng quân Ngụy đánh nhau, lấy số quân vắng địch với số quân đông,
trong binh lính có những người đến hạn được về, Lượng không giữ lại mà cho về,
nói: Điều tín không nên bỏ, thế rồi những người lính ấy đều xin ở lại để đánh nhau
một trận, kết quả phá được quân Ngụy đó vậy.
Chú
thích
[1]
Câu này nghĩa rất lờ mờ khó hiểu. Trong số mười nhà chua sách Tôn-Tử, có đến
tám nhà chua câu này, nhưng xem ra hầu hết là khiên cưỡng. — Lời người dịch.
➖➖➖
Chapter IX. THE ARMY ON THE MARCH
Translator: Lionel Giles
~
[The
contents of this interesting chapter are better indicated in § 1 than by this
heading.]
1.
Sun Tzŭ said: We come now to the question of encamping the army, and observing
signs of the enemy. Pass quickly over mountains, and keep in the neighbourhood
of valleys.
[The
idea is, not to linger among barren uplands, but to keep close to supplies of
water and grass. Cf. Wu Tzŭ, ch. 3: "Abide not in natural ovens,"
i.e. "the openings of valleys." Chang Yu tells the following
anecdote: Wu-tu Ch’iang was a robber captain in the time of the Later Han, and
Ma Yuan was sent to exterminate his gang. Ch’iang having found a refuge in the
hills, Ma Yuan made no attempt to force a battle, but seized all the favourable
positions commanding supplies of water and forage. Ch’iang was soon in such a
desperate plight for want of provisions that he was forced to make a total
surrender. He did not know the advantage of keeping in the neighbourhood of
valleys."]
2.
Camp in high places,
[Not
on high hills, but on knolls or hillocks elevated above the surrounding
country.]
facing
the sun.
[Tu
Mu takes this to mean "facing south," and Ch’en Hao "facing
east." Cf. infra, §§ 11, 13.]
Do
not climb heights in order to fight. So much for mountain warfare.
3.
After crossing a river, you should get far away from it.
["In
order to tempt the enemy to cross after you," according to Ts’ao Kung, and
also, says Chang Yu, "in order not to be impeded in your evolutions."
The T’ung Tien reads, "If the enemy crosses a river," etc. But in
view of the next sentence, this is almost certainly an interpolation.]
4.
When an invading force crosses a river in its onward march, do not advance to
meet it in mid-stream. It will be best to let half the army get across, and
then deliver your attack.
[Li
Ch’uan alludes to the great victory won by Han Hsin over Lung Chu at the Wei
River. Turning to the Ch’ien Han Shu, ch. 34, fol. 6 verso, we find the battle
described as follows: "The two armies were drawn up on opposite sides of
the river. In the night, Han Hsin ordered his men to take some ten thousand
sacks filled with sand and construct a dam higher up. Then, leading half his
army across, he attacked Lung Chu; but after a time, pretending to have failed
in his attempt, he hastily withdrew to the other bank. Lung Chu was much elated
by this unlooked-for success, and exclaiming: "I felt sure that Han Hsin
was really a coward!" he pursued him and began crossing the river in his
turn. Han Hsin now sent a party to cut open the sandbags, thus releasing a
great volume of water, which swept down and prevented the greater portion of
Lung Chu’s army from getting across. He then turned upon the force which had
been cut off, and annihilated it, Lung Chu himself being amongst the slain. The
rest of the army, on the further bank, also scattered and fled in all
directions.]
5.
If you are anxious to fight, you should not go to meet the invader near a river
which he has to cross.
[For
fear of preventing his crossing.]
6.
Moor your craft higher up than the enemy, and facing the sun.
[See
supra, § 2. The repetition of these words in connection with water is very
awkward. Chang Yu has the note: "Said either of troops marshalled on the
river-bank, or of boats anchored in the stream itself; in either case it is
essential to be higher than the enemy and facing the sun." The other
commentators are not at all explicit.]
Do
not move up-stream to meet the enemy.
[Tu
Mu says: "As water flows downwards, we must not pitch our camp on the
lower reaches of a river, for fear the enemy should open the sluices and sweep
us away in a flood. Chu-ko Wu-hou has remarked that ‘in river warfare we must
not advance against the stream,’ which is as much as to say that our fleet must
not be anchored below that of the enemy, for then they would be able to take
advantage of the current and make short work of us." There is also the
danger, noted by other commentators, that the enemy may throw poison on the
water to be carried down to us.]
So
much for river warfare.
7.
In crossing salt-marshes, your sole concern should be to get over them quickly,
without any delay.
[Because
of the lack of fresh water, the poor quality of the herbage, and last but not
least, because they are low, flat, and exposed to attack.]
8.
If forced to fight in a salt-marsh, you should have water and grass near you,
and get your back to a clump of trees.
[Li
Ch’uan remarks that the ground is less likely to be treacherous where there are
trees, while Tu Mu says that they will serve to protect the rear.]
So
much for operations in salt-marshes.
9.
In dry, level country, take up an easily accessible position with rising ground
to your right and on your rear,
[Tu
Mu quotes T’ai Kung as saying: "An army should have a stream or a marsh on
its left, and a hill or tumulus on its right."]
so
that the danger may be in front, and safety lie behind. So much for campaigning
in flat country.
10.
These are the four useful branches of military knowledge
[Those,
namely, concerned with (1) mountains, (2) rivers, (3) marshes, and (4) plains.
Compare Napoleon’s "Military Maxims," no. 1.]
which
enabled the Yellow Emperor to vanquish four several sovereigns.
[Regarding
the "Yellow Emperor": Mei Yao-ch’en asks, with some plausibility,
whether there is an error in the text as nothing is known of Huang Ti having
conquered four other Emperors. The Shih Chi (ch. 1 ad init.) speaks only of his
victories over Yen Ti and Ch’ih Yu. In the Liu T’ao it is mentioned that he
"fought seventy battles and pacified the Empire." Ts’ao Kung’s
explanation is, that the Yellow Emperor was the first to institute the feudal
system of vassals princes, each of whom (to the number of four) originally bore
the title of Emperor. Li Ch’uan tells us that the art of war originated under
Huang Ti, who received it from his Minister Feng Hou.]
11.
All armies prefer high ground to low,
["High
Ground," says Mei Yao-ch’en, "is not only more agreeable and
salubrious, but more convenient from a military point of view; low ground is
not only damp and unhealthy, but also disadvantageous for fighting."]
and
sunny places to dark.
12.
If you are careful of your men,
[Ts’ao
Kung says: "Make for fresh water and pasture, where you can turn out your
animals to graze."]
and
camp on hard ground, the army will be free from disease of every kind,
[Chang
Yu says: "The dryness of the climate will prevent the outbreak of
illness."]
and
this will spell victory.
13.
When you come to a hill or a bank, occupy the sunny side, with the slope on
your right rear. Thus you will at once act for the benefit of your soldiers and
utilise the natural advantages of the ground.
14.
When, in consequence of heavy rains up-country, a river which you wish to ford
is swollen and flecked with foam, you must wait until it subsides.
15.
Country in which there are precipitous cliffs with torrents running between,
deep natural hollows,
[The
latter defined as "places enclosed on every side by steep banks, with
pools of water at the bottom."]
confined
places,
[Defined
as "natural pens or prisons" or "places surrounded by precipices
on three sides—easy to get into, but hard to get out of."]
tangled
thickets,
[Defined
as "places covered with such dense undergrowth that spears cannot be
used."]
quagmires
[Defined
as "low-lying places, so heavy with mud as to be impassable for chariots
and horsemen."]
and
crevasses,
[Defined
by Mei Yao-ch’en as "a narrow difficult way between beetling cliffs."
Tu Mu’s note is "ground covered with trees and rocks, and intersected by
numerous ravines and pitfalls." This is very vague, but Chia Lin explains
it clearly enough as a defile or narrow pass, and Chang Yu takes much the same
view. On the whole, the weight of the commentators certainly inclines to the
rendering "defile." But the ordinary meaning of the Chinese in one
place is "a crack or fissure" and the fact that the meaning of the
Chinese elsewhere in the sentence indicates something in the nature of a
defile, make me think that Sun Tzŭ is here speaking of crevasses.]
should
be left with all possible speed and not approached.
16.
While we keep away from such places, we should get the enemy to approach them;
while we face them, we should let the enemy have them on his rear.
17.
If in the neighbourhood of your camp there should be any hilly country, ponds
surrounded by aquatic grass, hollow basins filled with reeds, or woods with
thick undergrowth, they must be carefully routed out and searched; for these
are places where men in ambush or insidious spies are likely to be lurking.
[Chang
Yu has the note: "We must also be on our guard against traitors who may
lie in close covert, secretly spying out our weaknesses and overhearing our
instructions."]
18.
When the enemy is close at hand and remains quiet, he is relying on the natural
strength of his position.
[Here
begin Sun Tzŭ’s remarks on the reading of signs, much of which is so good that
it could almost be included in a modern manual like Gen. Baden-Powell’s
"Aids to Scouting."]
19.
When he keeps aloof and tries to provoke a battle, he is anxious for the other
side to advance.
[Probably
because we are in a strong position from which he wishes to dislodge us.
"If he came close up to us, says Tu Mu, "and tried to force a battle,
he would seem to despise us, and there would be less probability of our
responding to the challenge."]
20.
If his place of encampment is easy of access, he is tendering a bait.
21.
Movement amongst the trees of a forest shows that the enemy is advancing.
[Ts’ao
Kung explains this as "felling trees to clear a passage," and Chang
Yu says: "Every man sends out scouts to climb high places and observe the
enemy. If a scout sees that the trees of a forest are moving and shaking, he
may know that they are being cut down to clear a passage for the enemy’s
march."]
The
appearance of a number of screens in the midst of thick grass means that the
enemy wants to make us suspicious.
[Tu
Yu’s explanation, borrowed from Ts’ao Kung’s, is as follows: "The presence
of a number of screens or sheds in the midst of thick vegetation is a sure sign
that the enemy has fled and, fearing pursuit, has constructed these
hiding-places in order to make us suspect an ambush." It appears that
these "screens" were hastily knotted together out of any long grass
which the retreating enemy happened to come across.]
22.
The rising of birds in their flight is the sign of an ambuscade.
[Chang
Yu’s explanation is doubtless right: "When birds that are flying along in
a straight line suddenly shoot upwards, it means that soldiers are in ambush at
the spot beneath."]
Startled
beasts indicate that a sudden attack is coming.
23.
When there is dust rising in a high column, it is the sign of chariots
advancing; when the dust is low, but spread over a wide area, it betokens the
approach of infantry.
["High
and sharp," or rising to a peak, is of course somewhat exaggerated as
applied to dust. The commentators explain the phenomenon by saying that horses
and chariots, being heavier than men, raise more dust, and also follow one
another in the same wheel-track, whereas foot-soldiers would be marching in
ranks, many abreast. According to Chang Yu, "every army on the march must
have scouts some way in advance, who on sighting dust raised by the enemy, will
gallop back and report it to the commander-in-chief." Cf. Gen.
Baden-Powell: "As you move along, say, in a hostile country, your eyes
should be looking afar for the enemy or any signs of him: figures, dust rising,
birds getting up, glitter of arms, etc." [1] ]
When
it branches out in different directions, it shows that parties have been sent
to collect firewood. A few clouds of dust moving to and fro signify that the
army is encamping.
[Chang
Yu says: "In apportioning the defences for a cantonment, light horse will
be sent out to survey the position and ascertain the weak and strong points all
along its circumference. Hence the small quantity of dust and its motion."]
24.
Humble words and increased preparations are signs that the enemy is about to
advance.
["As
though they stood in great fear of us," says Tu Mu. "Their object is
to make us contemptuous and careless, after which they will attack us."
Chang Yu alludes to the story of T’ien Tan of the Ch’i-mo against the Yen
forces, led by Ch’i Chieh. In ch. 82 of the Shih Chi we read: "T’ien Tan
openly said: ‘My only fear is that the Yen army may cut off the noses of their
Ch’i prisoners and place them in the front rank to fight against us; that would
be the undoing of our city.’ The other side being informed of this speech, at
once acted on the suggestion; but those within the city were enraged at seeing
their fellow-countrymen thus mutilated, and fearing only lest they should fall
into the enemy’s hands, were nerved to defend themselves more obstinately than
ever. Once again T’ien Tan sent back converted spies who reported these words
to the enemy: "What I dread most is that the men of Yen may dig up the
ancestral tombs outside the town, and by inflicting this indignity on our
forefathers cause us to become faint-hearted.’ Forthwith the besiegers dug up
all the graves and burned the corpses lying in them. And the inhabitants of
Chi-mo, witnessing the outrage from the city-walls, wept passionately and were
all impatient to go out and fight, their fury being increased tenfold. T’ien
Tan knew then that his soldiers were ready for any enterprise. But instead of a
sword, he himself took a mattock in his hands, and ordered others to be
distributed amongst his best warriors, while the ranks were filled up with
their wives and concubines. He then served out all the remaining rations and
bade his men eat their fill. The regular soldiers were told to keep out of
sight, and the walls were manned with the old and weaker men and with women.
This done, envoys were dispatched to the enemy’s camp to arrange terms of
surrender, whereupon the Yen army began shouting for joy. T’ien Tan also
collected 20,000 ounces of silver from the people, and got the wealthy citizens
of Chi-mo to send it to the Yen general with the prayer that, when the town
capitulated, he would not allow their homes to be plundered or their women to
be maltreated. Ch’i Chieh, in high good humor, granted their prayer; but his
army now became increasingly slack and careless. Meanwhile, T’ien Tan got
together a thousand oxen, decked them with pieces of red silk, painted their
bodies, dragon-like, with colored stripes, and fastened sharp blades on their
horns and well-greased rushes on their tails. When night came on, he lighted
the ends of the rushes, and drove the oxen through a number of holes which he
had pierced in the walls, backing them up with a force of 5000 picked warriors.
The animals, maddened with pain, dashed furiously into the enemy’s camp where
they caused the utmost confusion and dismay; for their tails acted as torches,
showing up the hideous pattern on their bodies, and the weapons on their horns
killed or wounded any with whom they came into contact. In the meantime, the
band of 5000 had crept up with gags in their mouths, and now threw themselves
on the enemy. At the same moment a frightful din arose in the city itself, all
those that remained behind making as much noise as possible by banging drums
and hammering on bronze vessels, until heaven and earth were convulsed by the
uproar. Terror-stricken, the Yen army fled in disorder, hotly pursued by the
men of Ch’i, who succeeded in slaying their general Ch’i Chien…. The result of
the battle was the ultimate recovery of some seventy cities which had belonged
to the Ch’i State."]
Violent
language and driving forward as if to the attack are signs that he will
retreat.
25.
When the light chariots come out first and take up a position on the wings, it
is a sign that the enemy is forming for battle.
26.
Peace proposals unaccompanied by a sworn covenant indicate a plot.
[The
reading here is uncertain. Li Ch’uan indicates "a treaty confirmed by
oaths and hostages." Wang Hsi and Chang Yu, on the other hand, simply say
"without reason," "on a frivolous pretext."]
27.
When there is much running about
[Every
man hastening to his proper place under his own regimental banner.]
and
the soldiers fall into rank, it means that the critical moment has come.
28.
When some are seen advancing and some retreating, it is a lure.
29.
When the soldiers stand leaning on their spears, they are faint from want of
food.
30.
If those who are sent to draw water begin by drinking themselves, the army is
suffering from thirst.
[As
Tu Mu remarks: "One may know the condition of a whole army from the
behavior of a single man."]
31.
If the enemy sees an advantage to be gained and makes no effort to secure it,
the soldiers are exhausted.
32.
If birds gather on any spot, it is unoccupied.
[A
useful fact to bear in mind when, for instance, as Ch’en Hao says, the enemy
has secretly abandoned his camp.]
Clamour
by night betokens nervousness.
33.
If there is disturbance in the camp, the general’s authority is weak. If the
banners and flags are shifted about, sedition is afoot. If the officers are
angry, it means that the men are weary.
[Tu
Mu understands the sentence differently: "If all the officers of an army
are angry with their general, it means that they are broken with fatigue"
owing to the exertions which he has demanded from them.]
34.
When an army feeds its horses with grain and kills its cattle for food,
[In
the ordinary course of things, the men would be fed on grain and the horses
chiefly on grass.]
and
when the men do not hang their cooking-pots over the camp-fires, showing that
they will not return to their tents, you may know that they are determined to
fight to the death.
[I
may quote here the illustrative passage from the Hou Han Shu, ch. 71, given in
abbreviated form by the P’ei Wen Yun Fu: "The rebel Wang Kuo of Liang was
besieging the town of Ch’en- ts’ang, and Huang-fu Sung, who was in supreme
command, and Tung Cho were sent out against him. The latter pressed for hasty
measures, but Sung turned a deaf ear to his counsel. At last the rebels were
utterly worn out, and began to throw down their weapons of their own accord.
Sung was not advancing to the attack, but Cho said: ‘It is a principle of war
not to pursue desperate men and not to press a retreating host.’ Sung answered:
‘That does not apply here. What I am about to attack is a jaded army, not a
retreating host; with disciplined troops I am falling on a disorganized
multitude, not a band of desperate men.’ Thereupon he advances to the attack
unsupported by his colleague, and routed the enemy, Wang Kuo being slain."]
35.
The sight of men whispering together in small knots or speaking in subdued
tones points to disaffection amongst the rank and file.
36.
Too frequent rewards signify that the enemy is at the end of his resources;
[Because,
when an army is hard pressed, as Tu Mu says, there is always a fear of mutiny,
and lavish rewards are given to keep the men in good temper.]
too
many punishments betray a condition of dire distress.
[Because
in such case discipline becomes relaxed, and unwonted severity is necessary to
keep the men to their duty.]
37.
To begin by bluster, but afterwards to take fright at the enemy’s numbers,
shows a supreme lack of intelligence.
[I
follow the interpretation of Ts’ao Kung, also adopted by Li Ch’uan, Tu Mu, and
Chang Yu. Another possible meaning set forth by Tu Yu, Chia Lin, Mei Tao-ch’en
and Wang Hsi, is: "The general who is first tyrannical towards his men,
and then in terror lest they should mutiny, etc." This would connect the
sentence with what went before about rewards and punishments.]
38.
When envoys are sent with compliments in their mouths, it is a sign that the
enemy wishes for a truce.
[Tu
Mu says: "If the enemy open friendly relations be sending hostages, it is
a sign that they are anxious for an armistice, either because their strength is
exhausted or for some other reason." But it hardly needs a Sun Tzŭ to draw
such an obvious inference.]
39.
If the enemy’s troops march up angrily and remain facing ours for a long time
without either joining battle or taking themselves off again, the situation is
one that demands great vigilance and circumspection.
[Ts’ao
Kung says a manœuver of this sort may be only a ruse to gain time for an
unexpected flank attack or the laying of an ambush.]
40.
If our troops are no more in number than the enemy, that is amply sufficient;
it only means that no direct attack can be made.
[Literally,
"no martial advance." That is to say, cheng tactics and frontal
attacks must be eschewed, and stratagem resorted to instead.]
What
we can do is simply to concentrate all our available strength, keep a close
watch on the enemy, and obtain reinforcements.
[This
is an obscure sentence, and none of the commentators succeed in squeezing very
good sense out of it. I follow Li Ch’uan, who appears to offer the simplest
explanation: "Only the side that gets more men will win." Fortunately
we have Chang Yu to expound its meaning to us in language which is lucidity
itself: "When the numbers are even, and no favourable opening presents
itself, although we may not be strong enough to deliver a sustained attack, we
can find additional recruits amongst our sutlers and camp-followers, and then,
concentrating our forces and keeping a close watch on the enemy, contrive to
snatch the victory. But we must avoid borrowing foreign soldiers to help
us." He then quotes from Wei Liao Tzŭ, ch. 3: "The nominal strength
of mercenary troops may be 100,000, but their real value will be not more than
half that figure."]
41.
He who exercises no forethought but makes light of his opponents is sure to be
captured by them.
[Ch’en
Hao, quoting from the Tso Chuan, says: "If bees and scorpions carry
poison, how much more will a hostile state! Even a puny opponent, then, should
not be treated with contempt."]
42.
If soldiers are punished before they have grown attached to you, they will not
prove submissive; and, unless submissive, then will be practically useless. If,
when the soldiers have become attached to you, punishments are not enforced,
they will still be useless.
43.
Therefore soldiers must be treated in the first instance with humanity, but
kept under control by means of iron discipline.
[Yen
Tzŭ [B.C. 493] said of Ssu-ma Jang-chu: "His civil virtues endeared him to
the people; his martial prowess kept his enemies in awe." Cf. Wu Tzŭ, ch.
4 init.: "The ideal commander unites culture with a warlike temper; the
profession of arms requires a combination of hardness and tenderness."]
This
is a certain road to victory.
44.
If in training soldiers commands are habitually enforced, the army will be
well-disciplined; if not, its discipline will be bad.
45.
If a general shows confidence in his men but always insists on his orders being
obeyed,
[Tu
Mu says: "A general ought in time of peace to show kindly confidence in
his men and also make his authority respected, so that when they come to face
the enemy, orders may be executed and discipline maintained, because they all
trust and look up to him." What Sun Tzŭ has said in § 44, however, would
lead one rather to expect something like this: "If a general is always
confident that his orders will be carried out," etc."]
the
gain will be mutual.
[Chang
Yu says: "The general has confidence in the men under his command, and the
men are docile, having confidence in him. Thus the gain is mutual." He
quotes a pregnant sentence from Wei Liao Tzŭ, ch. 4: "The art of giving
orders is not to try to rectify minor blunders and not to be swayed by petty
doubts." Vacillation and fussiness are the surest means of sapping the
confidence of an army.]
[1]
"Aids to Scouting," p. 26.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét