2023-03-11
Tôn
Tử binh pháp: VII. Thiên quân tranh
Tôn Vũ
Dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện
~
· VII. Thiên quân tranh (dịch giả: Trúc
Khê Ngô Văn Triện)
· Chapter VII. MANŒUVERING (in “Sun Tzŭ on The
Art of War”, translator: Lionel Giles) – nguồn:
https://www.gutenberg.org/
~
VII. Thiên quân tranh
Tào-Công
rằng: Hai quân tranh thắng.
Lý
Thuyên rằng: Tranh là giành lấy mối lợi. Hư thực đã định rồi mới có thể cùng
người tranh lợi.
Trương
Dự rằng: Lấy quân tranh làm tên là bảo hai quân đối nhau để cùng tranh lợi. Trước
biết rõ hư thục của người và ta, rồi sau mới có thể cùng người tranh thắng, cho
nên thiên này ở dưới thiên Hư-thực.
Tôn-tử
nói: Phàm phép dùng binh, tướng chịu mệnh ở vua.
Lý
Thuyên rằng: Chịu mệnh ở vua là vâng theo sự trù toán ở chốn miếu-đường, để
kính làm sự trừng phạt của giời.
Trương
Dự rằng: Chịu mệnh của vua, đánh kẻ bạo nghịch.
Hợp
quân tụ chúng.
Tào-Công
rằng: Tu người nước, kết hàng ngũ tuyển bộ khúc, lập trại làm trận quân.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Tụ người trong nước, hợp để làm quân.
Vương
Tích rằng: Nước lớn ba quân, cả thẩy là 3 vạn 7 nghìn 5 trăm người; nếu gọi tất
cả số quân ra thì cả thẩy 7 vạn 5 nghìn người, đó gọi là hợp quân tụ chúng.
Trương
Dự rằng: Hợp người nước để làm quân, tụ binh chúng để làm trận.
Giao
hòa mà đóng.
Tào-Công
rằng: Cửa quân là cửa hòa, những cửa tả hữu là cửa cờ, lấy xe làm trại gọi là cửa
viên, lấy người làm trại gọi là cửa người, hai quân đối nhau gọi là giao hòa.
Lý
Thuyên rằng: Giao là xen, hòa là trộn. Sau khi hợp quân, khỏe yếu, mạnh nhát,
hơn kém, trái thuận, đem trộn lộn vào, hợp thành dinh lũy, cùng quân địch tranh
chọi.
Không
gì khó bằng cuộc quân tranh.
Tào-Công
rằng: Từ lúc mới chịu mệnh đến lúc giao hòa, việc quân tranh thật là khó lắm.
Đỗ-Hựu
rằng: Từ lúc mới chịu mệnh đến lúc giao hòa, việc quân tranh khó lắm. Cửa quân
gọi là cửa hòa, hai quân tranh giành, đối cửa mà đóng, trước phải chiếm cứ lấy
cái đất tiện thế, cái điều rất khó là cách nhau gần gặn, hơi một tý là sinh biến
hóa.
Cái
khó của cuộc quân tranh là lấy cong làm thẳng, lấy hại làm lợi.
Đỗ
Mục rằng: Nói muốn tranh đoạt trước phải lấy đường cong xa làm đường gần, lấy
thế có hại làm thế có lợi, để lừa dối quân địch khiến họ coi thường, rồi sau
mình mới gấp vội ruổi đến.
Trần
Hạo rằng: Nói hợp quân tụ chúng, giao hòa mà đóng, đều có phép cũ, duy việc
quân tranh là rất khó. Nếu không biết lấy cong làm thẳng, lấy hại làm lợi, thì
không thể cùng địch tranh chọi được.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Nói biến cong làm gần, chuyển hại làm lợi là một sự khó.
Họ
Hà rằng: Bảo cái nước mà mình đi đánh, đường do núi hiểm, cong queo mà xa, sắp
muốn tranh lợi thì nên chia binh xuất kỳ, theo chân hướng đạo, do đường thẳng
thừa lúc họ không phòng bị mà đánh gấp, tuy có cái lo hãm hiểm nhưng được lợi
cũng chóng. Như Chung Hội đánh Thục mà Đặng-Ngải xuất kỳ đến xứ Thục trước, Thục
không phòng bị mà phải hàng. Cho nên ở dưới này nói: Không được hướng đạo thì
không thể được địa-lợi đó.
Cố
làm đường vòng và lấy lợi mà nhử, đi sau người, đến trước người, ấy là biết kế
cong thẳng đó.
Đỗ
Mục rằng: Trên kia nói lấy cong làm thẳng ấy là tỏ với bên địch rằng đường cong
xa, bên địch đã trễ nải rồi, lại lấy mối lợi mà nhử họ khiến lòng họ không
chuyên, rồi sau mình mới gấp đường đi giấn, xuất kỳ bất ý, cho nên có thể đi
sau đến trước mà tranh chiếm được chỗ yếu hại. Nước Tần đánh nước Hàn, quân đến
thành Át-dư, vua Triệu sai Triệu Xa đi cứu. Ra khỏi Hàm-đan 30 dặm, Triệu Xa ra
lệnh trong quân rằng: Ai can ngăn gì về việc quân sẽ phải xử tử. Quân Tần đến
đóng ở phía tây Vũ-an, họ hò la ngừng quân, làm cho ngói nóc nhà cũng phải rung
chuyển. Trong quân có một người nói nên kíp cứu Vũ-an, Xa liền đem chém, rồi
đóng bền 28 ngày không đi, lại đắp thêm lũy. Quân gián-điệp của Tần đến. Xa thết
tử tế rồi cho về. Gián-điệp về báo Tần. Tướng Tần cả mừng nói: Này ra khỏi
thành 30 dặm mà quân không đi, lại đắp thêm lũy, vậy Át-dư không phải là đất của
Triệu nữa. Thả gián-điệp của Tần về rồi, Xa bèn cuốn giáp kéo đi, chỉ hai ngày
một đêm đã đến, sai những quân thiện-xạ đóng cách Át-dư 50 dặm. Người Tần nghe
tin đem hết quân lại. Có một tên quân nói: Chiếm trước được Bắc-sơn thì thắng.
Xa sai một vạn người đến chiếm, người Tần tới tranh không được. Xa nhân thả
quân ra cả phá được quân Tần, vòng vây của thành Át-dư được cổi thoát.
Giả
Lâm rằng: Đường quân địch đến vốn gần, ta biết làm cho họ phải đi vòng xa mới đến,
hoặc lấy quân gầy yếu, hoặc lấy mối lợi nhỏ, nhử ở đường khác, khiến họ không đến
mau để tranh giành được.
Trương
Dự rằng: Nói cái đất hình thế, hễ tranh được thì thắng. Phàm muốn tranh lấy cái
đất tiện lợi ở gần, trước phải dẫn quân đi xa, lại lấy lợi nhỏ mà nhử giặc, khiến
họ không ngờ rằng ta tiến đến, lại tham mối lợi của ta, cho nên ta có thể đi
sau mà đến trước, ấy gọi là lấy cong làm thẳng, lấy hại làm lợi đó. Triệu Xa
chiếm Bắc-sơn mà phá được quân Tần. Quách Hoài giữ Bắc-nguyên mà đuổi được
Gia-Cát, chính là thế đó. Có thể đi sau mà đến trước được, là hiểu rõ độ số, biết
cái mưu lấy cong làm thẳng vậy.
Cho
nên quân tranh là lợi, quân tranh là nguy.
Tào-Công
rằng: Khéo thì lợi, không khéo thì nguy
Giả-Lâm
rằng: Quân ta đến trước, được chỗ tiện lợi thì là lợi, để quân địch đến trước,
chiếm mất chỗ ấy, ba quân của ta mới ruổi đến tranh giành, thì địch nhàn ta nhọc,
là cái đạo nguy.
Họ
Hà rằng: Đây lại nói về sự ra quân hành-binh ruổi số ba quân, cùng kẻ địch
đua-đuổi để tranh sự thắng một ngày, được thì là lợi, mất thì là nguy, không
nên khinh-động.
Đem
hết quân đi tranh lợi thì không kịp.
Tào-Công
rằng: Chậm-chạp không kịp.
Lý-Thuyên
rằng: Đồ tri-trọng đi chậm.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Đem hết cả những cái gì có của một đoàn quân mà đi, thì chậm
chạp.
Trương-Dự
rằng: Đem toàn thể ba quân mà tiến thì đi chậm mà không thể kịp cái lợi.
Bỏ
lại quân mà tranh lợi thì đồ tri-trọng mất.
Tào-Công
rằng: Để đồ tri trọng lại thì sợ mất mát.
Đỗ
Hựu rằng: Bỏ lại những đồ kho tàng để đem quân nhẹ nhõm mà đi, nếu quân địch thừa
hư mà đến, cướp chẹn đàng sau, thì những đồ tri trọng của mình đều mất mát cả.
Đỗ
Mục rằng: Đem tất cả đồ vật của một đạo quân mà đi, thì nặng nề, chậm chạp,
không kịp để chiếm phần lợi; thế mà để những đồ tri trọng, nhẹ binh tiến gấp
thì sợ những đồ ấy nhân thế mà mất.
Ấy
cho nên cuốn giáp mà ruổi, ngày đêm không nghỉ, gặp đường đi mau, xa trăm dặm để
tranh mối lợi thì bị bắt ba tướng quân.
Đỗ
Hựu rằng: Nếu không tính hai việc trên, muốn đi mau chóng, bó gươm cuốn giáp,
kéo quân cất lẻn đi đêm, nhỡ mà quân giặc biết tình, đón đường để đánh, thì tướng
của ba quân tất bị bắt về tay giặc, như chúa Tần đánh úp nước Trịnh, ba viên
súy đều bị bắt đó.
Khỏe
mạnh đến trước, mỏi mệt đến sau, mười người chỉ kịp tới được một.
Đỗ
Hựu rằng: Trăm dặm đi tranh lợi là sự không phải, ba tướng quân đều bị bắt cả.
Mạnh yếu không chờ đợi nhau, binh mười người chỉ đến được một người.
Lý
Thuyên rằng: Một ngày đi 120 mươi dặm là gấp đường đi ròng [1]. Đi
như thế thì người khỏe mạnh đến trước, người mỏi mệt đến sau, người khỏe có ít,
người mỏi thì nhiều, mười người mới có thể đến trước được một, còn thì trụt lại
đàng sau cả. Như thế mà gặp quân địch, tài nào mà ba tướng chẳng phải bị bắt.
Ngụy Võ đuổi Lưu Bị, một ngày một đêm đi ba trăm dặm, Gia-cát-Lượng cho là cuối
tầm nỏ cứng, không thể xuyên thủng được vải Lỗ, tức bảo là không có lực vậy, vì
thế nên có trận thua ở Xích-bích; Bàng Quyên đuổi Tôn Tẫn, chết ở Mã-lăng cũng
là nghĩa ấy.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Quân mỗi ngày đi 30 dặm lại phải đóng lại, nay ngày đêm không
nghỉ, đi đến trăm dặm, cho nên ba tướng quân bị bắt. Tại sao thế? Bởi vì đi đường
xa vất vả, kẻ mạnh thì ít, kẻ mỏi thì nhiều, trong mười người mới được một người
đi đến. Ba tướng quân là tướng súy của ba quân.
Năm
mươi dặm mà tranh lợi thì què thượng tướng quân, quân đến được nữa.
Đỗ
Hựu rằng: Què tức là thua, tướng tiền quân đã bị quân địch đánh thua.
Lý
Thuyên rằng: Trăm dặm thì mười người đến một, năm mươi dặm thì mười người đến
năm. Chỉ gẫy quân uy chứ không đến nỗi phải bắt, nói vì đường gần không đến nỗi
mỏi mệt.
Giả
Lâm rằng: Thượng cũng như tiên, viên tướng đi trước.
Trương
Dự rằng: Đường không xa mấy mà trong mười người được có năm người đến, quân oai
còn bị bẻ nhụt, huống chi là những trăm dặm ư? Thượng tướng là trỏ vào viên tướng
tiền quân đi trước. Hoặc có người hỏi: Đường Thái-tông đánh Tống Kim-Cương, một
ngày một đêm đi hơn hai trăm dặm mà cũng thắng được là cớ làm sao? Đáp rằng: Việc
đó hình thì cùng mà thế thì khác. Vả Kim-Cương đã bại, lòng quân cùn nhụt, dồn
đuổi mà diệt thì Hà-đông bình định được ngay, nếu để trì hoãn thì giặc tất sinh
kế. Bởi vậy Thái-tông không kể gì mỏi nhọc mà cố đuổi riết. Tôn-tử nói về cách
tranh lợi, cùng với việc của Đường Thái-tông khác hẳn.
Ba
mươi dặm mà tranh lợi thì quân đến được hai phần ba.
Tào-Công
rằng: Đường gần đến được nhiều, cho nên không có sự chết sự thua.
Ấy
cho nên quân không có tri trọng thì chết, không có lương thực thì chết, không
có chứa đựng thì chết.
Tào-Công
rằng: không có ba thứ ấy là cái đạo chết.
Lý
Thuyên rằng: không có tri trọng thì không có cái dùng. Viên Thiệu có quân 10 vạn,
Ngụy Võ dùng kế của Tuân Du, đốt cháy tri trọng của Thiệu rồi đánh bại Thiệu ở
Quan-độ. Không có lương thực thì tuy có thành vững cũng không thể làm gì được.
Khổng phu-tử nói: đủ lương, đủ quân, thì dân tin cậy. Cho nên đời Hán, Xích-My
có trăm vạn quân mà không có lương, vua tôi đều phải chịu trói ở Nghi-dương.
Cho nên người giỏi dùng binh thì trước cầy rồi sau mới chiến. Không có chứa đựng
thì của cải thiếu dùng, như Hán Cao-Tổ không có Quang-Trung, Quang-Võ không có
Hà-nội, Ngụy Võ không có Duyện-châu, quân thua mình trốn, dễ mà chấn khởi lên
được đâu.
Trần
Hạo rằng: đây nói cái khó của sự bỏ quân lại mà đi tranh lợi.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: ba thứ ấy không thể không thì không thể bỏ quân lại mà đi
tranh lợi.
Vương
Tích rằng: chứa đựng là trỏ vào những thứ củi muối rau dưa. Quân phải nhờ vào
ba thứ ấy để sống, vậy không thể khinh dị mà rời bỏ được.
Trương
Dự rằng: không có tri trọng thì lấy đâu đồ dùng, không có lương thực thì lấy
đâu quân ăn, không có chứa đựng thì lấy đâu của nả, đều là cái cách nguy vong cả.
Ba cái ấy là nói sự bỏ quân-đoàn lại để đi tranh lợi.
Cho
nên không biết cái mưu của chư hầu, không thể dự bị sự giao kết.
Tào-Công
rằng: không biết cái mưu của bên địch thì không thể kết giao.
Mai
Nghiêu-Thuần rằng: không biết cái mưu của nước địch thì không thể dự bị kết
giao với nước láng giềng để làm thế viện trợ.
Không
biết cái hình hiểm trở lầy lội của núi rừng, không thể hành quân.
Tào-Công
rằng: không biết trước chỗ quân đóng và hình của núi sông thì không thể hành
quân được.
Không
dùng hướng-đạo thì không thể được cái địa lợi.
Đỗ
Hựu rằng: không dùng người quê ở vùng ấy để dẫn đường cho quân thì không thể được
những đường sá tiện lợi.
Lý
Thuyên rằng: vào cõi địch, sợ núi sông hiểm nghèo, đất cát lầy lội, giếng suối
bất lợi, vậy phải sai người đưa đường để được cái địa lợi.
Cho
nên việc binh lấy trá mà thành.
Đỗ-Mục
rằng: dối trá bên địch khiến không biết tình thực của mình, rồi mới có thể làm
nên sự thắng được.
Vương-Tích
rằng: bảo lấy cong làm thẳng, lấv hại làm lợi đó.
Trương-Dự
rằng: lấy biến trá làm gốc khiến quân địch không biết kỳ, chính của ta ở đâu,
thì ta mới có thể làm nên chuyện được.
Lấy
lợi mà động.
Đỗ-Mục
rằng: thấy có lợi rồi mới cử động.
Trương-Dự
rằng: thấy lợi sẽ động chứ không phát động xằng. Truyện nói: ba quân lấy lợi mà
động.
Lấy
chia hợp làm biến hóa.
Đỗ-Mục
rằng: chia hợp là hoặc chia hoặc hợp để làm hoặc kẻ địch, xem cái hình ứng lại
với ta thế nào, rồi sau mới có thể biến hóa để lấy phần thắng.
Trương-Dự
rằng: hoặc chia tan cái hình ra, hoặc tụ họp cái thế lại; đều nhân sự động tĩnh
của bên địch mà làm ra sự biến hóa. Hoặc nói: biến là bảo kỳ chính biến hóa khiến
quân địch không biết đâu mà lường, cho nên Binh-pháp của Vệ-công nói rằng: binh
tan thì lấy hợp làm kỳ, binh hợp thì lấy tan làm kỳ, ba lần ra lệnh, năm lần nhắc
rõ, ba lần tan, ba lần hợp, lại trở về với chính.
Cho
nên nhanh nhẹn như gió.
Lý-Thuyên
rằng: nói sự tiến thoái, đến thì không có vết mà lui thì rất nhanh.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: đến không có hình tích.
Trương-Dự
rằng: sự đến nhanh nhẹn, tới đâu lướt đấy.
Thong
thả như rừng.
Tào-Công
rằng: khi không thấy mối lợi.
Họ
Mạnh rằng: nói khi đi thong thả cũng phải có hàng lối như rừng để phòng sự đánh
úp.
Trương-Dự
rằng: khi đi thong thả thì như cây trong rừng, hàng lối răm rắp, nói khi chưa
thấy cái lợi. Úy-liêu-tử rằng: nặng thì như núi như rừng, nhẹ thì như pháo như
đuốc.
Lấn
cướp như lửa.
Đỗ-Hựu
rằng: Nói sự mãnh liệt.
Lý-Thuyên
rằng: Nói như lửa đốt đồng không còn một cái cỏ sót.
Trương-Dự
rằng: Kinh Thi nói: Như lửa bừng bừng, không ai dám cản, nói cái thế mạnh như lửa
bốc, không ai dám cản trở ta cả.
Bất
động như núi.
Đỗ-Hựu
rằng: Nói khi giữ, không tin sự dối lừa của bên địch, yên vững như núi.
Lý-Thuyên
rằng: Nói khi đóng quân.
Đỗ-Mục
rằng: đóng lũy vững vàng, không thể lay động.
Trương-Dự
rằng: Ấy cách trì trọng đó. Thiên Nghị-binh của Tuân-tử nói: Ở tròn mà vuông
ngay thì như cái bàn đá vậy, húc vào thì gẫy sừng. Nói cái khi bất động, như đá
núi không di chuyển được, phạm vào thì phải gẫy sừng ngay.
Khó
biết như mây rậm.
Đỗ-Hựu
rằng: Không thể lường biết như mây đen trên giời khiến không thấy trăng sao gì
cả.
Lý-Thuyên
rằng: Cái thế không thể lường được như đám mây rậm làm cho không trông thấy
muôn tượng trên giời.
Dậy
động như sấm sét.
Đỗ-Hựu
rằng: Nhanh chóng không thể ứng kịp. Cho nên Thái-Công nói: Sấm nhanh không kịp
bưng tai, chớp nhanh không kịp nhắm mắt.
Đỗ-Mục
rằng: Nói như từ trên không đánh xuống không biết lối nào mà tránh.
Vương-Tích
rằng: Bất thình lình mà đến.
Họ
Hà rằng: Giấu mưu để vùng dậy như thế.
Cướp
làng chia bọn.
Đỗ-Mục
rằng: Những làng xóm của bên địch, không có quân giữ, chứa nhiều của cải, thóc
lúa, dễ sự cướp bóc, nên chia phiên mà lần lượt đi, để ai nấy đều được đi cả,
chứ không nên đi một mình, như thế thì nhớn nhỏ mạnh yếu, ai cũng đều muốn cùng
bên địch tranh lợi.
Trần
Hạo rằng: Những hương ấp thôn xóm chẳng phải chỉ có một nơi, xét thấy không có
phòng bị, chia binh đi mà cướp.
Họ
Hà rằng: Nói cướp được mọi vật thì chia cho mọi người trong bọn.
Trương
Dự rằng: Cái đạo dùng binh, đại khái cốt nhờ lương bên địch, nhưng dân hương ấp
chứa đựng không nhiều, tất phải chia binh đi các nơi mà cướp thì mới đủ dùng.
Mở
đất chia lợi.
Đỗ
Mục rằng: Mở mang được cõi đất thì nên chia cắt cho người có công. Hàn-Tín nói
vói Hán-vương rằng: Hạng-vương dùng người, kẻ có công đáng phong tước, đã khắc ấn
rồi mà lại tiếc, không chịu cho. Nay đại-vương nếu làm trái lại lấy thành ấp
trong thiên hạ, phong cho công thần, thì việc lấy thiên hạ chẳng khó gì cả.
Sách Tam Lược nói: Được đất thì rạch ra mà chia.
Trần
Hạo rằng: Nói được đất cát, thì đóng binh trồng tỉa, để chia cái lợi của bên địch.
Trương
Dự rằng: Mở mang cõi đất bình-dị tất chia binh mà giữ lấy lợi, không để cho kẻ
địch chiếm được. Hoặc có người bảo đây nói được đất thì chia thưởng những người
có công, nay xem các lời ở trên dưới thì e rằng không phải định nói như vậy.
Bắc
cân mà động.
Tào
Công rằng: Lượng tính bên địch rồi mới cử động.
Đỗ-Mục
rằng: Mắc cán cân mà treo quả lên, cân lường đã xong rồi mới cử động.
Trương
Dự rằng: Như bắc cân lên, lường biết nặng nhẹ rồi sau mới động. Úy-liêu-tử nói:
Cân giặc xét tướng rồi sau cử động, nói cân lường sự nặng nhẹ của địch, xét rõ
sự hiền ngu của tướng rồi mới cử động.
Trước
biết cái kế cong thẳng thì sẽ thắng, ấy là cái phép quân tranh đó.
Đỗ
Mục rằng: Nói việc quân tranh, trước phải tính đường xá xa gần cong thẳng, rồi
sau mới có thể làm nên thắng được. Sự lường tính kỹ như là treo quả lên cân,
không sai mảy may, rồi mới có thể cử động mà thủ thắng được, ấy là cái phép
tranh thắng của nhà binh đó.
Trương
Dự rằng: Phàm tranh lợi với người tất trước phải suy tính đường xá cong thẳng,
xét kỹ rồi mới cử động, thì không có cái nạn vất vả đói rét mà tiến thoái chóng
chậm, không lỡ cơ, cho nên thắng vậy.
Sách
Quân-chính nói.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Sách cũ về việc quân.
Vương-Tích
rằng: Sách quân đời xưa.
Nói
không cùng nghe, cho nên làm trống chiêng.
Vương
Tích rằng: Dùng những tiếng trống chiêng để sự ngồi đứng tiến lui, nhanh chậm
thưa mau, đều có tiết độ.
Nhìn
không cùng thấy, cho nên làm cờ phướn.
Đỗ
Hựu rằng: Xem sự chỉ huy để làm chừng cho mắt.
Vương
Tích rằng: Để làm tiêu biểu cho bộ khúc đều được ngay hàng thẳng lối.
Này
chiêng trống cờ phướn là để duy nhất tai mắt của mọi người.
Đỗ
Hựu rằng: Làm cho đều-đặn sự trông nghe của tai mắt mọi người. Khiến biết cái
chừng-mực tiến thoái.
Lý
Thuyên rằng: Trống tiến, chiêng lui, phướn thưởng, cờ phạt, tai nghe chiêng trống
mắt trông phướn cờ, cho nên không loạn. Kẻ mạnh người nhát không thể riêng tiến
riêng lui, là do cờ trống bắt bẻ vậy.
Trương
Dự rằng: Này dùng binh đã nhiều, chiếm đất tất rộng, đầu cuối cùng xa, tai mắt
chẳng tiếp cho nên đặt ra tiếng chiêng trống để cùng nghe chung, dựng ra hình cờ
phướn để cùng nhìn chung, trông nghe đều nhau thì tuy trăm vạn quân, cùng tiến
thoái như một. Cho nên nói rằng « Trọi đông như trọi vắng, bởi vì đã có
hình-danh ».
Người
đã chuyên nhất, thì người mạnh không được riêng tiến, người nhát không được
riêng thoái, ấy là cái phép dùng binh.
Đỗ
Hựu rằng: Lấy phép mà so giỗ cho bằng, khiến kẻ mạnh người yếu không thể qua vượt
nhau được.
Đỗ
Mục rằng: Phướn để ra lệnh, cờ để ứng hiệu, bởi cờ tức là cái cờ tin ngày nay.
Quân-pháp nói rằng: Nên tiến chẳng tiến, nên lui chẳng lui thì chém. Ngô Khởi
cùng người Tần giao chiến, cuộc chiến chưa bắt đầu, có một tên quân mạnh dạn,
xông sang chém được hai thủ cấp, mà về. Ngô Khởi sai chém, viên quân-lại tiến
lên can rằng: Đó là một người có tài không nên chém. Ngô Khởi nói: Quả là người
có tài thật, nhưng mà trái lệnh. Bèn chém đầu.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Duy nhất tai mắt của mọi người là bảo khiến sự trông nghe đều
nhau mà không loạn. Đánh trống thì tiến, khua chiêng thì lui, vẫy sang bên hữu
thì hữu, vẫy sang bên tả thì tả, không thể vì mạnh nhát mà riêng tiến lên trước.
Cho
nên ba quân có thể đoạt khí.
Tào
Công rằng: Thọ tả nói một lần trống thì khí bừng lên, hai lần thì suy, ba lần
thì kiệt.
Lý
Thuyên rằng: đoạt khí là đoạt khí mạnh hăng hái. Nước Tề đánh nước Lỗ, giao chiến
ở Trường-quân. Người Tề đánh một hồi trống, chúa nước Lỗ toan đánh, Tào-Quệ
nói: chưa nên. Người Tề đánh đến hồi thứ ba. Quệ nói: nên rồi đấy. Bèn cùng
giao chiến, quân Tề phải bại. Chúa Lỗ hỏi cớ, Quệ nói: nay sự đánh nhau là đánh
bằng dũng-khí, một hồi trống thì khí bừng lên, hai hồi thì suy, ba hồi thì kiệt.
Họ kiệt ta đầy, cho nên phải được. Ấy là đoạt cái khí của ba quân vậy.
Trương
Dự rằng: khí là cái phải cần trông cậy trong sự chiến đấu, này những giống sinh
vật trong cuộc tranh-chiến, thường đến chết mà không chịu thôi, ấy là bởi cái
khí nó khiến như vậy. Cho nên cái phép dùng binh nếu khiêu-khích tưóng-sĩ khiến
cho trên dưới cùng nổi tức giận, thì mũi nhọn không ai cản nổi. Bởi vậy, quân địch
mới đến với cái khí hăng-hái, ta không nên giao chiến vội, để nó phải cùn đi,
chờ khi nó đã suy quyện, rồi ta hãy đánh, cho nên cái nhuệ-khí của họ có thể đoạt
được. Úy Liêu-Tử bảo khí đầy thì đấu, khí đoạt thì tẩu, tức là thế đó. Tào Quệ
nói: một hồi trống thì khí bừng lên, tức là nói khi mới đến cái khí đương thịnh,
hai lần mà suy, ba lần mà kiệt, là bảo trận càng lâu thì người càng mỏi. Lại Lý
Tĩnh nói sự giữ không phải là giữ lũy cho bền, giữ trận cho vững mà thôi, tất
phải giữ cái khí của ta để đợi dùng đến. Gọi là giữ khí, tức là thường giữ cái
khí của ta khiến được mạnh-mẽ, thịnh mà không suy, rồi sau mới có thể đoạt được
cái khí của người.
Tướng
quân có thể đoạt lòng.
Lý
Thuyên rằng: trêu cho mà tức tối, khuấy cho mà rối ren, gièm cho mà xa lìa, lún
cho mà ngông hợm, như thế thì cái lòng của họ có thể đoạt được.
Đỗ
Mục rằng: lòng là lòng của tướng-quân, trong quân phải dựa vào đấy mới vững
vàng được. Đời Hậu Hán, Khấu Tuân đi đánh Ngỗi Hiêu, tướng Hiêu là Cao Tuấn giữ
đạo quân thứ nhất ở Cao-bình, Tuấn sai tướng quân Hoàng phủ-Văn đến yết kiến
Tuân. Văn đến, nói năng bướng bỉnh, Tuân giận đem chém và đuổi người phó về. Tuấn
sợ hãi, lập tức mở cửa thành ra hàng. Các tướng nói: Dám hỏi tại sao giết chết
sứ-giả mà lại khiến cho thành phải hàng? Tuân nói: Hoàng-phủ-Văn là người tâm
phúc của Tuấn, mưu kế ở đấy mà ra cả. Nay đến đây nói năng ngạo xược, tất là
không có bụng hàng, để yên thì Văn sẽ đắc kế; nay giết đi thì Tuấn phải mất mật,
vì thế nên hắn phải hàng.
Ấy
cho nên khí buổi sớm thì nhọn sắc.
Họ
Mạnh rằng: Sách Tư-mã-Pháp nói: khí mới thắng khí cũ; khí mới tức là khí buổi sớm.
Trần
Hạo rằng: Cái khí buổi sớm, đương sắc mạnh, đừng cùng tranh giành.
Khí
buổi trưa thì trễ biếng.
Vương
Tích rằng: lâu dần thì hơi trễ biếng.
Khí
buổi tối thì ngóng về.
Họ
Mạnh rằng: Khí buổi sớm là khí mới, khí buổi trưa là cái khí dậy lại, khí buổi
tối là cái khí suy kiệt.
Mai
Nghiêu Thần rằng: Sớm là nói lúc ban đầu, trưa là nói lúc giữa chừng, tối là
nói lúc cuối cùng, bảo binh lúc mới thì sắc mạnh, lâu thì trễ biếng mà muốn về,
cho nên nên đánh.
Cho
nên người giỏi dùng binh thì tránh cái khí nhọn sắc, đánh cái khí trễ biếng muốn
về, ấy là trị khí đó.
...rằng:
trận lâu người mỏi thì cái khí nó suy mòn đi, cho nên người giỏi dùng binh,
đương khi bên địch sắc mạnh, nên giữ bền để cố tránh, đợi khi họ trễ biếng muốn
về, bấy giờ sẽ ra binh mà đánh, đó gọi là khéo trị cái khí của mình để đoạt cái
khí của người đó. Tướng Tiền Triệu là Du-Tử-Viễn đánh bại Y-Dự-Khuông, trong
năm Vũ-Đức nhà Đường, Thái-tông phá đánh Đậu-Kiến-Đức, đều dùng thuật ấy.
Lấy
trị đợi loạn, lấy tĩnh đợi rộn, ấy là trị lòng đó.
Lý
Thuyên rằng: đợi cho bên địch biến động rồi mới đè làn.
Đỗ
Mục rằng: Sách Tư-mã-Pháp nói: bản tâm vững, là bảo sự liệu định chế thắng, bản
tâm đã định, nhưng cũng phải lo điều trị nó, khiến được yên tĩnh vững vàng,
không để cho việc nó quấy rối, không để cho lợi nó mờ hoặc, đợi bên địch họ loạn,
chờ bên địch họ rộn, sẽ ra quân đánh.
Trần
Hạo rằng: chính lệnh bất nhất, thưởng phạt không minh là loạn, cờ phướn lộn xộn,
hàng ngũ xôn sao là rộn, khi thấy rõ bên địch như thế thì đem quân đánh.
Lấy
gần đợi xa, lấy nhàn đợi nhọc, lấy no đợi đói, ấy là trị sức đó.
Đỗ
Hựu rằng: lấy sự gần của ta, đợi sự xa của địch, lấy sự nhàn rỗi của ta, đợi sự
nhọc mệt của địch, lấy sự no đầy của ta, đợi sự đói vơi của địch, ấy là trị sức
người vậy.
Lý
Thuyên rằng: nói cái thế khách chủ.
Trương
Dự rằng: gần để đợi xa, nhàn để đợi nhọc, no để đợi đói, nhử để đợi đến, nặng để
đợi nhẹ, ấy gọi là khéo trị sức mình để làm khốn sức người.
Đừng
đón cái cờ chính chính, đừng đánh cái trận đường đường, ấy là trị biến đó.
Tào
Công rằng: chính chính là tầy tặn, đường đường là lớn lao.
Đỗ
Mục rằng: đường đường là không sợ. Việc binh phải tùy bên địch mà biến đổi, địch
có như thế thì đừng đánh, ấy là biết trị sự biến hóa. Đời Hậu Hán, Tào Công vây
thành Nghiệp, Viên Thượng đến cứu, Công nói: Thượng nếu từ đường lớn đến thì
nên tránh, bằng do lối Tây-sơn đến thì ta bắt sống. Thượng quả do lối Tây-sơn đến,
đón đánh cả phá được.
Trương-Dự
rằng: chính chính là nói hình danh tề chỉnh, đường đường là nói hàng trận rộng
lớn, bên địch như thế, há nên khinh chiến. Sách Quân-Chính nói: thấy nên mà tiến,
thấy khó mà lui; lại rằng: mạnh thì phải tránh, nói nên biết cách biến thông,
đó bảo là khéo trị cái đạo biến hóa để ứng phó với bên địch vậy.
Cho
nên cái phép dùng binh, đồi cao chớ nghển, gò dựa chớ đón.
Họ
Mạnh rằng: quân địch dựa vào gò đống để bầy trận, không có cái lo đằng sau, thì
nên dẫn quân ra đất phẳng chứ đừng đón đánh.
Đỗ
Mục rằng: nói quân địch ở chỗ cao, không nên ngẩng lên mà đánh nhau với họ,
quân địch dựa dưới gò núi mà khiêu chiến với mình, không nên đón mà đánh nhau với
họ. Bởi từ dưới thấp mà đánh lên cao thì sức đuối, từ trên cao mà đánh xuống thấp
thì thế thuận, cho nên không nên nghển và đón.
Họ
Hà rằng: nước Tần đánh nước Hán, chúa Triệu sai Triệu Xa đi cứu. Người Tần nghe
tin, đem hết quân tới. Viên quân-lại là Hứa Lịch can Triệu-Xa rằng: người Tần
không ngờ quân Triệu đến đây khí thế của họ chắc là mạnh mẽ, tướng quân phải lập
trận cho dầy, nếu không tất hại mất. Nay có một cách giữ trước được Bắc-Sơn thì
thắng, đến sau thì bại. Xa nghe theo, liền đem một vạn người đến chiếm. Quân Tần
đến sau, tranh núi không lên được. Xa thả quân xuống đánh cả phá được quân Tần.
Nước Hậu-Chu sai tướng đi đánh nước Cao-Tề, vây thành Lạc-dương. Tướng Tề là
Đoàn Thiều chống giữ, lên gò Mang-bản, nhân muốn xem hình thế quân Chu, đến
hang Thái-hòa thì gặp, bèn sai đi báo với các trại, cùng các tướng kết trận để
đợi. Quân Chu để bộ binh đằng trước, lên núi đón đánh. Thiều nghĩ họ quân bộ
mình quân kỵ, vừa lui vừa nhử đợi khi họ mỏi, mới sai quay ngược lại dồn đánh,
đao ngắn tiếp xúc, quân Chu cả vỡ, phải chạy trốn cả.
Trương
Dự rằng: quân địch dàn trận ở chỗ cao, không nên ngẩng đánh, vì người ngựa ruổi
giong, tên đạn bắn phóng đều không tiện cả. Cho nên Gia-Cát Lượng nói: đánh
nhau ở chỗ đồi núi, không nên ngẩng cao lên, quân địch từ cao kéo xuống, không
nên đón đánh, bởi thế không thuận tiện. Nên nhử họ đến chỗ đất bằng rồi sẽ hợp
chiến.
Vờ
thua chớ đuổi.
Giả-Lâm
rằng: quân địch khí thế chưa suy, chợt quay đầu chạy, tất có ẩn phục để đón
đánh quân ta, phải nghiêm vén tướng sĩ, đừng cho theo đuổi.
Họ
Hà rằng: như đời Chiến-quốc, quân Tần đánh Triệu, con Triệu Xa là Triệu Quát
thay Liêm Pha làm tướng, chống với quân Tần ở Trường-bình. Tần ngầm sai Bạch Khởi
làm thượng tướng-quân, Triệu ra quân đánh Tần, quân Tần giả thua mà chạy, đặt sẵn
kỳ binh để chụp đánh, quân Triệu đuổi giấn, đến sát lũy Tần, lũy bền không thể
phá vào được mà toán kỳ binh của Tần 2 vạn 5 nghìn người đã chẹn đàng sau lại,
một toán nữa 5 nghìn quân kỵ chẹn ở bên lũy Triệu, quân Triệu phải tách ra làm
hai, đường lương bị đứt, mà Tần lại đem toán khinh binh tới đánh. Quân Triệu
đánh nhau bất lợi nhân đắp lũy giữ bền để chờ quân cứu. Tần nghe Triệu đứt đường
lương, chúa Tần liền từ Hà-nội đem quân đón chẹn quân cứu và lương thực của Triệu.
Quân Triệu không có ăn 46 ngày, phải ngầm giết lẫn nhau mà ăn, Quát thì trúng
phải tên mà chết. Lưu Biểu xứ Thục sai Lưu Bị lên lấn đất bắc, đến thành Nghiệp,
Tào-Công sai Hạ-hầu-Đôn, Lý Điển chống cự. Một buổi sớm Bị đốt đồn mà kéo đi,
Đôn sai các tướng đuổi đánh, Điển nói: Giặc vô cố tháo lui, ngờ tất là có mai
phục; đường nam chật hẹp, cỏ cây rậm rạp, ta không nên đuổi. Đôn không nghe. Rồi
bọn Đôn quả vào chỗ có quân phục, Điển đem quân cứu. Bị thấy đã có quân cứu,
bèn rút lui về.
Trương-Dự
rằng: quân địch lui chạy, tất phải xét kỹ thực giả, nếu cờ trống dịp dàng, hiệu
lệnh như một thì tuy họ lui chạy, không phải là thua, tất có kỳ binh, không nên
theo đuổi. Bằng cờ lướt xe loạn, người kinh, ngựa sợ thì thực là thua lui.
Quân
sắc đừng đánh.
Đỗ
Mục rằng: nói nên tránh chỗ đầy chắc. Chúa Sở đánh Tùy, bầy tôi nước Tùy là Quý
Lương nói: người Sở ưa bên tả, chúa họ tất ở bên tả, đừng nên chạm trán với
chúa họ mà hẵng nên đánh ở bên hữu, bên hữu không có tướng giỏi, tất phải thua,
hễ thua một bên rồi thì còn bên kia cũng phải núng. Thiếu-sư nước Tùy nói:
không đối địch với chúa họ thì sao phải là tay cứng. Bèn không nghe theo. Quân
Tùy quả nhiên phải thua.
Mồi
nhử chớ ăn.
Đỗ
Hựu rằng: Họ lấy lợi nhỏ để nhử quân sĩ mình, mình đừng có lấy.
Đỗ-Mục
rằng: quân địch chợt bỏ đồ ăn uống mà đi, trước nên nếm thử đừng vội ăn ngay vì
sợ bị trúng độc. Đời vua Văn-đế nhà Hậu Ngụy, Khố mạc-Huề vào xâm nhiễu, chiếu
sai Tế ẫm-vương Tân-Thành đem quân đi đánh, vương nhân làm nhiều rượu độc khi
giặc áp bức đến gần, truyền quân sĩ bỏ dinh mà đi, giặc đến mừng rỡ đua nhau uống
rượu, rượu say độc phát, vương tuyển quân khinh kỵ đến đánh, bắt sống hàng vạn.
Quân
về chớ cản.
Họ
Mạnh rằng: người ta mong mỏi muốn về tất chịu tử chiến, vậy không nên ngăn cản
mà đánh.
Lý
Thuyên rằng: Tào-Công đi đánh Trương-Tú ở đất Nhượng, Lưu-Biểu sai binh cứu Tú
chẹn sau quân Tào. Tào-Công sắp kéo về, bị quân Tú đuổi mà quân không về được,
Biểu cùng Tú lại hợp binh chẹn giữ chỗ hiểm. Quân của Công trước sau thụ địch,
Công bèn nhân đêm đào con đường hầm, để đưa hết xe truy trọng đi, đặt kỳ binh sẵn,
đến sáng bọn Biểu bảo Công đã trốn rồi đem hết quân để đuổi theo, Công thả kỳ
binh ra ập đánh, cả phá được. Công bảo với Tuân văn-Nhược rằng: Giặc cản đường
quân về của ta, lại dành cho ta cái đất chết, vì thế ta biết là tất thắng.
Trương
Dự rằng: Binh lính ở ngoài, người người nhớ về, đón đường mà đánh tất đến tử
chiến. Hàn Tín nói: theo đám quân tưởng nhớ về đông, gì mà không thắng.
Tào-Công đã phá Lưu Biểu, bảo Tuân Vực rằng: giặc cản quân về của ta, ta biết rằng
ta tất phải thắng. Lại Lã Hoành đánh Đoàn Nghiệp không thắng, sắp chạy về đông,
Nghiệp muốn đuổi đánh, có người can rằng: quân về chớ cản đó là điều răn của
nhà binh, chẳng bằng thả cho họ đi rồi sẽ lại mưu tính. Nghiệp không nghe, đem
quân đuổi theo, bị Hoành đánh bại. Việc người xưa như thế nhiều lắm, không thể
kể hết.
Vòng
vây tất hở.
Tào-Công
rằng: Sách Tư-mã-pháp nói: Vây ba mặt bỏ khuyết một mặt, để tỏ cho họ có con đường
sống.
Đỗ-Hựu
rằng: Nếu vây giặc ở chỗ bình địa, tất bỏ không một mặt tỏ sự đơn-hư, cố ý khiến
họ đánh giữ không bền, mà có bụng dùng dằng nửa đi nửa ở. Nếu quân địch lâm
nguy cứ hiểm, lại có quân cứu mạnh ở ngoài, thì nên kiên cố mà giữ chứ không cần
bỏ hở. Đó là cái phép dùng binh.
Đỗ
Mục rằng: Tỏ cho họ có đường sống, khiến họ không có bụng liều chết, nhân thế rồi
mình mới đánh.
Trương-Dự
rằng: nói vây ba mặt mở một góc, để cho họ có một đường sống, khiến không bền
lòng mà chiến đấu. Đời Hậu Hán, Chu Tuấn đánh tướng giặc Hàn-Trung ở đất Uyển,
đánh gấp mãi mà không hạ được, nhân bảo với viên quân lại rằng: giặc vì bên
ngoài vây kín cả cho nên cố chết mà đánh, nếu ta giải vây, họ tất tự ra, đã ra
thì ý tan, đó là cái cách dễ phá. Rồi quả như nhời. Lại Tào-Công vây Hồ-quan, bảo
rằng: thành vỡ thì sẽ chôn hết. Rồi đánh mãi cũng không hạ được. Tào Nhân bảo
Công rằng: này vây thành tất phải mở cho họ một con đường sống, nay Minh-công dọa
sẽ chôn chết họ khiến họ cố giữ, đó không phải là kế hay. Công nghe theo, bèn hạ
được thành.
Giặc
cùng chớ bách.
Đỗ-Mục
rằng: Đời Xuân-thu, nước Ngô đánh nước Sở, quân Sở thua chạy đến Thanh-phát, Hạp
Lư toan lại đánh, Phù-Khái-Vương nói: con thú đến lúc cùng khốn còn biết quật lại,
huống chi là người ư? Nếu họ biết là không thoát khỏi mà liều chết đánh lại ta
thì ta tất phải thua với họ. Nên đợi lúc họ sang sông nửa chừng rồi sẽ đánh thì
hơn. Hạp Lư nghe theo rồi lại đánh thua được quân Sở. Đời Hán Tuyên-đế, Triệu
Sung-Quốc đi đánh Tiên-linh-Khuông. Khuông thấy đại quân bỏ cả các đồ tri trọng,
muốn qua sông Hoàng, vì đường chật hẹp, Sung Quốc đuổi một cách thủng thỉnh. Có
người nói: đuổi giặc mà đi chậm thì ăn thua gì. Sung Quốc nói: Đó là giặc cùng
không nên bức bách. Mình đuổi thong thả thì chúng chạy mải miết, mình đuổi cấp
bách thì chúng sẽ quay lại liều chết với mình. Các tướng khen phải. Giặc quả xô
xuống đò, chết đuối đến hàng mấy vạn; bèn cả phá được.
Trần
Hạo rằng: chim cùng thì đánh, thú cùng thì cắn.
Ấy là cái phép dùng binh.
Chú
thích
[1]
Đi ròng rã không nghỉ.
➖➖➖
Chapter VII. MANŒUVERING
Translator: Lionel Giles
~
1.
Sun Tzŭ said: In war, the general receives his commands from the sovereign.
2.
Having collected an army and concentrated his forces, he must blend and
harmonise the different elements thereof before pitching his camp.
["Chang
Yu says: "the establishment of harmony and confidence between the higher
and lower ranks before venturing into the field;" and he quotes a saying
of Wu Tzŭ (chap. 1 ad init.): "Without harmony in the State, no military
expedition can be undertaken; without harmony in the army, no battle array can
be formed." In an historical romance Sun Tzŭ is represented as saying to
Wu Yuan: "As a general rule, those who are waging war should get rid of
all the domestic troubles before proceeding to attack the external foe."]
3.
After that, comes tactical manœuvering, than which there is nothing more
difficult.
[I
have departed slightly from the traditional interpretation of Ts’ao Kung, who
says: "From the time of receiving the sovereign’s instructions until our
encampment over against the enemy, the tactics to be pursued are most
difficult." It seems to me that the tactics or manœuvers can hardly be
said to begin until the army has sallied forth and encamped, and Ch’ien Hao’s
note gives color to this view: "For levying, concentrating, harmonizing
and entrenching an army, there are plenty of old rules which will serve. The
real difficulty comes when we engage in tactical operations." Tu Yu also
observes that "the great difficulty is to be beforehand with the enemy in
seizing favourable position."]
The
difficulty of tactical manœuvering consists in turning the devious into the
direct, and misfortune into gain.
[This
sentence contains one of those highly condensed and somewhat enigmatical
expressions of which Sun Tzŭ is so fond. This is how it is explained by Ts’ao
Kung: "Make it appear that you are a long way off, then cover the distance
rapidly and arrive on the scene before your opponent." Tu Mu says:
"Hoodwink the enemy, so that he may be remiss and leisurely while you are
dashing along with utmost speed." Ho Shih gives a slightly different turn:
"Although you may have difficult ground to traverse and natural obstacles
to encounter this is a drawback which can be turned into actual advantage by
celerity of movement." Signal examples of this saying are afforded by the
two famous passages across the Alps—that of Hannibal, which laid Italy at his
mercy, and that of Napoleon two thousand years later, which resulted in the
great victory of Marengo.]
4.
Thus, to take a long and circuitous route, after enticing the enemy out of the
way, and though starting after him, to contrive to reach the goal before him,
shows knowledge of the artifice of deviation.
[Tu
Mu cites the famous march of Chao She in 270 B.C. to relieve the town of O-yu,
which was closely invested by a Ch’in army. The King of Chao first consulted
Lien P’o on the advisability of attempting a relief, but the latter thought the
distance too great, and the intervening country too rugged and difficult. His
Majesty then turned to Chao She, who fully admitted the hazardous nature of the
march, but finally said: "We shall be like two rats fighting in a
whole—and the pluckier one will win!" So he left the capital with his
army, but had only gone a distance of 30 li when he stopped and began throwing
up entrenchments. For 28 days he continued strengthening his fortifications,
and took care that spies should carry the intelligence to the enemy. The Ch’in
general was overjoyed, and attributed his adversary’s tardiness to the fact
that the beleaguered city was in the Han State, and thus not actually part of
Chao territory. But the spies had no sooner departed than Chao She began a
forced march lasting for two days and one night, and arrive on the scene of
action with such astonishing rapidity that he was able to occupy a commanding
position on the "North hill" before the enemy had got wind of his
movements. A crushing defeat followed for the Ch’in forces, who were obliged to
raise the siege of O-yu in all haste and retreat across the border.]
5.
Manœuvering with an army is advantageous; with an undisciplined multitude, most
dangerous.
[I
adopt the reading of the T’ung Tien, Cheng Yu-hsien and the T’u Shu, since they
appear to apply the exact nuance required in order to make sense. The
commentators using the standard text take this line to mean that manœuvers may
be profitable, or they may be dangerous: it all depends on the ability of the
general.]
6.
If you set a fully equipped army in march in order to snatch an advantage, the
chances are that you will be too late. On the other hand, to detach a flying
column for the purpose involves the sacrifice of its baggage and stores.
[Some
of the Chinese text is unintelligible to the Chinese commentators, who
paraphrase the sentence. I submit my own rendering without much enthusiasm,
being convinced that there is some deep-seated corruption in the text. On the
whole, it is clear that Sun Tzŭ does not approve of a lengthy march being
undertaken without supplies. Cf. infra, § 11.]
7.
Thus, if you order your men to roll up their buff-coats, and make forced
marches without halting day or night, covering double the usual distance at a
stretch,
[The
ordinary day’s march, according to Tu Mu, was 30 li; but on one occasion, when
pursuing Liu Pei, Ts’ao Ts’ao is said to have covered the incredible distance
of 300 li within twenty-four hours.]
doing
a hundred li in order to wrest an advantage, the leaders of all your three
divisions will fall into the hands of the enemy.
8.
The stronger men will be in front, the jaded ones will fall behind, and on this
plan only one-tenth of your army will reach its destination.
[The
moral is, as Ts’ao Kung and others point out: Don’t march a hundred li to gain
a tactical advantage, either with or without impedimenta. Manœuvers of this
description should be confined to short distances. Stonewall Jackson said:
"The hardships of forced marches are often more painful than the dangers
of battle." He did not often call upon his troops for extraordinary
exertions. It was only when he intended a surprise, or when a rapid retreat was
imperative, that he sacrificed everything for speed. [1] ]
9.
If you march fifty li in order to outmanœuver the enemy, you will lose the
leader of your first division, and only half your force will reach the goal.
[Literally,
"the leader of the first division will be torn away."]
10.
If you march thirty li with the same object, two-thirds of your army will
arrive.
[In
the T’ung Tien is added: "From this we may know the difficulty of
manœuvering."]
11.
We may take it then that an army without its baggage-train is lost; without
provisions it is lost; without bases of supply it is lost.
[I
think Sun Tzŭ meant "stores accumulated in dépôts." But Tu Yu says
"fodder and the like," Chang Yu says "Goods in general,"
and Wang Hsi says "fuel, salt, foodstuffs, etc."]
12.
We cannot enter into alliances until we are acquainted with the designs of our
neighbours.
13.
We are not fit to lead an army on the march unless we are familiar with the
face of the country—its mountains and forests, its pitfalls and precipices, its
marshes and swamps.
14.
We shall be unable to turn natural advantages to account unless we make use of
local guides.
[§§.
12-14 are repeated in chap. XI. § 52.]
15.
In war, practise dissimulation, and you will succeed.
[In
the tactics of Turenne, deception of the enemy, especially as to the numerical
strength of his troops, took a very prominent position. [2] ]
Move
only if there is a real advantage to be gained.
16.
Whether to concentrate or to divide your troops, must be decided by
circumstances.
17.
Let your rapidity be that of the wind,
[The
simile is doubly appropriate, because the wind is not only swift but, as Mei
Yao-ch’en points out, "invisible and leaves no tracks."]
your
compactness that of the forest.
[Meng
Shih comes nearer to the mark in his note: "When slowly marching, order
and ranks must be preserved"—so as to guard against surprise attacks. But
natural forest do not grow in rows, whereas they do generally possess the
quality of density or compactness.]
18.
In raiding and plundering be like fire,
[Cf.
Shih Ching, IV. 3. iv. 6: "Fierce as a blazing fire which no man can
check."]
in
immovability like a mountain.
[That
is, when holding a position from which the enemy is trying to dislodge you, or
perhaps, as Tu Yu says, when he is trying to entice you into a trap.]
19.
Let your plans be dark and impenetrable as night, and when you move, fall like
a thunderbolt.
[Tu
Yu quotes a saying of T’ai Kung which has passed into a proverb: "You
cannot shut your ears to the thunder or your eyes to the lighting—so rapid are
they." Likewise, an attack should be made so quickly that it cannot be
parried.]
20.
When you plunder a countryside, let the spoil be divided amongst your men;
[Sun
Tzŭ wishes to lessen the abuses of indiscriminate plundering by insisting that
all booty shall be thrown into a common stock, which may afterwards be fairly
divided amongst all.]
when
you capture new territory, cut it up into allotments for the benefit of the
soldiery.
[Ch’en
Hao says "quarter your soldiers on the land, and let them sow and plant
it." It is by acting on this principle, and harvesting the lands they
invaded, that the Chinese have succeeded in carrying out some of their most
memorable and triumphant expeditions, such as that of Pan Ch’ao who penetrated
to the Caspian, and in more recent years, those of Fu-k’ang-an and Tso
Tsung-t’ang.]
21.
Ponder and deliberate before you make a move.
[Chang
Yu quotes Wei Liao Tzŭ as saying that we must not break camp until we have
gained the resisting power of the enemy and the cleverness of the opposing
general. Cf. the "seven comparisons" in I. § 13.]
22.
He will conquer who has learnt the artifice of deviation.
[See
supra, §§ 3, 4.]
Such
is the art of manœuvering.
[With
these words, the chapter would naturally come to an end. But there now follows
a long appendix in the shape of an extract from an earlier book on War, now
lost, but apparently extant at the time when Sun Tzŭ wrote. The style of this
fragment is not noticeably different from that of Sun Tzŭ himself, but no
commentator raises a doubt as to its genuineness.]
23.
The Book of Army Management says:
[It
is perhaps significant that none of the earlier commentators give us any
information about this work. Mei Yao- Ch’en calls it "an ancient military
classic," and Wang Hsi, "an old book on war." Considering the
enormous amount of fighting that had gone on for centuries before Sun Tzŭ’s
time between the various kingdoms and principalities of China, it is not in
itself improbable that a collection of military maxims should have been made
and written down at some earlier period.]
On
the field of battle,
[Implied,
though not actually in the Chinese.]
the
spoken word does not carry far enough: hence the institution of gongs and
drums. Nor can ordinary objects be seen clearly enough: hence the institution
of banners and flags.
24.
Gongs and drums, banners and flags, are means whereby the ears and eyes of the
host may be focussed on one particular point.
[Chang
Yu says: "If sight and hearing converge simultaneously on the same object,
the evolutions of as many as a million soldiers will be like those of a single
man."!]
25.
The host thus forming a single united body, is it impossible either for the
brave to advance alone, or for the cowardly to retreat alone.
[Chuang
Yu quotes a saying: "Equally guilty are those who advance against orders
and those who retreat against orders." Tu Mu tells a story in this
connection of Wu Ch’i, when he was fighting against the Ch’in State. Before the
battle had begun, one of his soldiers, a man of matchless daring, sallied forth
by himself, captured two heads from the enemy, and returned to camp. Wu Ch’i
had the man instantly executed, whereupon an officer ventured to remonstrate,
saying: "This man was a good soldier, and ought not to have been
beheaded." Wu Ch’i replied: "I fully believe he was a good soldier,
but I had him beheaded because he acted without orders."]
This
is the art of handling large masses of men.
26.
In night-fighting, then, make much use of signal-fires and drums, and in
fighting by day, of flags and banners, as a means of influencing the ears and
eyes of your army.
[Ch’en
Hao alludes to Li Kuang-pi’s night ride to Ho-yang at the head of 500 mounted
men; they made such an imposing display with torches, that though the rebel
leader Shih Ssu-ming had a large army, he did not dare to dispute their passage.]
27.
A whole army may be robbed of its spirit;
["In
war," says Chang Yu, "if a spirit of anger can be made to pervade all
ranks of an army at one and the same time, its onset will be irresistible. Now
the spirit of the enemy’s soldiers will be keenest when they have newly arrived
on the scene, and it is therefore our cue not to fight at once, but to wait
until their ardor and enthusiasm have worn off, and then strike. It is in this
way that they may be robbed of their keen spirit." Li Ch’uan and others
tell an anecdote (to be found in the Tso Chuan, year 10, § 1) of Ts’ao Kuei, a
protege of Duke Chuang of Lu. The latter State was attacked by Ch’i, and the
duke was about to join battle at Ch’ang-cho, after the first roll of the
enemy’s drums, when Ts’ao said: "Not just yet." Only after their drums
had beaten for the third time, did he give the word for attack. Then they
fought, and the men of Ch’i were utterly defeated. Questioned afterwards by the
Duke as to the meaning of his delay, Ts’ao Kuei replied: "In battle, a
courageous spirit is everything. Now the first roll of the drum tends to create
this spirit, but with the second it is already on the wane, and after the third
it is gone altogether. I attacked when their spirit was gone and ours was at
its height. Hence our victory." Wu Tzŭ (chap. 4) puts "spirit"
first among the "four important influences" in war, and continues:
"The value of a whole army—a mighty host of a million men—is dependent on
one man alone: such is the influence of spirit!"]
a
commander-in-chief may be robbed of his presence of mind.
[Chang
Yu says: "Presence of mind is the general’s most important asset. It is
the quality which enables him to discipline disorder and to inspire courage
into the panic-stricken." The great general Li Ching (A.D. 571-649) has a
saying: "Attacking does not merely consist in assaulting walled cities or
striking at an army in battle array; it must include the art of assailing the
enemy’s mental equilibrium."]
28.
Now a soldier’s spirit is keenest in the morning;
[Always
provided, I suppose, that he has had breakfast. At the battle of the Trebia,
the Romans were foolishly allowed to fight fasting, whereas Hannibal’s men had
breakfasted at their leisure. See Livy, XXI, liv. 8, lv. 1 and 8.]
by
noonday it has begun to flag; and in the evening, his mind is bent only on
returning to camp.
29.
A clever general, therefore, avoids an army when its spirit is keen, but
attacks it when it is sluggish and inclined to return. This is the art of
studying moods.
30.
Disciplined and calm, to await the appearance of disorder and hubbub amongst
the enemy:—this is the art of retaining self-possession.
31.
To be near the goal while the enemy is still far from it, to wait at ease while
the enemy is toiling and struggling, to be well-fed while the enemy is
famished:—this is the art of husbanding one’s strength.
32.
To refrain from intercepting an enemy whose banners are in perfect order, to
refrain from attacking an army drawn up in calm and confident array:—this is
the art of studying circumstances.
33.
It is a military axiom not to advance uphill against the enemy, nor to oppose
him when he comes downhill.
34.
Do not pursue an enemy who simulates flight; do not attack soldiers whose
temper is keen.
35.
Do not swallow a bait offered by the enemy.
[Li
Ch’uan and Tu Mu, with extraordinary inability to see a metaphor, take these
words quite literally of food and drink that have been poisoned by the enemy.
Ch’en Hao and Chang Yu carefully point out that the saying has a wider
application.]
Do
not interfere with an army that is returning home.
[The
commentators explain this rather singular piece of advice by saying that a man
whose heart is set on returning home will fight to the death against any
attempt to bar his way, and is therefore too dangerous an opponent to be
tackled. Chang Yu quotes the words of Han Hsin: "Invincible is the soldier
who hath his desire and returneth homewards." A marvelous tale is told of
Ts’ao Ts’ao’s courage and resource in ch. 1 of the San Kuo Chi, In 198 A.D., he
was besieging Chang Hsiu in Jang, when Liu Piao sent reinforcements with a view
to cutting off Ts’ao’s retreat. The latter was obliged to draw off his troops,
only to find himself hemmed in between two enemies, who were guarding each
outlet of a narrow pass in which he had engaged himself. In this desperate
plight Ts’ao waited until nightfall, when he bored a tunnel into the mountain
side and laid an ambush in it. As soon as the whole army had passed by, the
hidden troops fell on his rear, while Ts’ao himself turned and met his pursuers
in front, so that they were thrown into confusion and annihilated. Ts’ao Ts’ao
said afterwards: "The brigands tried to check my army in its retreat and
brought me to battle in a desperate position: hence I knew how to overcome
them."]
36.
When you surround an army, leave an outlet free.
[This
does not mean that the enemy is to be allowed to escape. The object, as Tu Mu
puts it, is "to make him believe that there is a road to safety, and thus
prevent his fighting with the courage of despair." Tu Mu adds pleasantly:
"After that, you may crush him."]
Do
not press a desperate foe too hard.
[Ch’en
Hao quotes the saying: "Birds and beasts when brought to bay will use
their claws and teeth." Chang Yu says: "If your adversary has burned
his boats and destroyed his cooking-pots, and is ready to stake all on the
issue of a battle, he must not be pushed to extremities." Ho Shih
illustrates the meaning by a story taken from the life of Yen-ch’ing. That
general, together with his colleague Tu Chung-wei was surrounded by a vastly
superior army of Khitans in the year 945 A.D. The country was bare and desert-like,
and the little Chinese force was soon in dire straits for want of water. The
wells they bored ran dry, and the men were reduced to squeezing lumps of mud
and sucking out the moisture. Their ranks thinned rapidly, until at last Fu
Yen-ch’ing exclaimed: "We are desperate men. Far better to die for our
country than to go with fettered hands into captivity!" A strong gale
happened to be blowing from the northeast and darkening the air with dense
clouds of sandy dust. To Chung-wei was for waiting until this had abated before
deciding on a final attack; but luckily another officer, Li Shou-cheng by name,
was quicker to see an opportunity, and said: "They are many and we are
few, but in the midst of this sandstorm our numbers will not be discernible;
victory will go to the strenuous fighter, and the wind will be our best
ally." Accordingly, Fu Yen-ch’ing made a sudden and wholly unexpected
onslaught with his cavalry, routed the barbarians and succeeded in breaking
through to safety.]
37.
Such is the art of warfare.
[1]
See Col. Henderson, op. cit. vol. I. p. 426.
[2]
For a number of maxims on this head, see "Marshal Turenne" (Longmans,
1907), p. 29.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét