2023-08-26

Lĩnh Nam chích quái (25, 26, 27, 28) - Trần Thế Pháp

2023-08-26

Lĩnh Nam chích quái (25, 26, 27, 28)
A person and person holding hands

Description automatically generated with medium confidence

Minh họa của Tạ Huy Long

---

Trần Thế Pháp (sáng tác ~ 1370-1400)

Vũ Quỳnh hiệu đính (1492)

Bản dịch của GS. Lê Hữu Mục (1960)

► XXV. Truyện Long Độ Vương Khí

► XXVI. Truyện thần Minh Chủ núi Đồng Cổ

► XXVII. Truyện thần Ứng Thiên hóa Dục Hậu Thổ

► XXVIII. Truyện Long Trào Khước Lỗ

XXV

Truyện Long Độ Vương Khí

Tác giả: nho sĩ họ Đoàn đời nhà Mạc.

Thần vốn là vua Long Độ Vương Khí vậy. Xưa kia Cao Biền sang chơi nước Nam, đắp thành Đại La vừa xong, một hôm đi xem chơi cửa thành Đông thình lình mây mù nổi dậy, thấy đám mây ngũ sắc từ mặt đất nổi lên, sáng lòa chói mắt, có một người mình mặt áo thêu, phấn sức kỳ dị, cỡi rồng vàng, tay cầm thẻ vàng, theo mây mà bay lượn trong không khí mù mịt, giây lát mới tan. Cao Biền lấy làm lạ, ngỡ là quỷ tinh nên muốn thiết đàn tràng để trừ yểm.

Thần tác mộng bảo Cao Biền rằng:

– Xin ông đừng sinh lòng nghi, ta không phải là yêu khí mà là Long Độ Vương Khí đây, mừng ông đương nay mới dựng Phủ Thành mà hiện lên xem đấy.

Cao Biền giác ngộ, sáng ngày, hội các người đi theo mà bảo rằng:

– Ta không thể hàng phục được người xa, để đến ngoại quỷ hiện lên thì là điềm chẳng lành.

Có kẻ xin lập Pháp đàn, làm tượng hình trạng giống như mộng, lấy sắt nghìn cân làm phù để yểm; Cao Biền nghe theo nên làm phù mà yểm. Đến đêm, trời đất tối tăm, gió mưa rung chuyển đánh mất cả thiết phù hóa thành bụi đất. Cao Biền giận nói:

– Ta biết sẽ về Bắc.

Rồi thì quả nhiên như vậy; người ta cho là linh dị bèn lập đền thờ bên chợ Kinh sư.

Sau vua Lý Thái Tổ kiến lập thành quách, mộng thấy một vị thần đến trước, lạy hai lạy chúc mừng; vua nói:

– Ngươi nên giữ hương hỏa cho được trăm năm.

Thần trả lời:

– Nghiệp thánh truyền được vạn năm; thần được nhờ đấy nương tựa, há chỉ trăm năm mà thôi sao?

Vua tỉnh dậy, sai làm sinh lễ, rượu lệ tửu để cúng tế, phong làm Thăng Long Thành Hoàng Đại Vương.

Lúc bấy giờ có gió bão thổi mạnh, phố xá đổ nghiêng, chỉ thấy đền thần là y nguyên như cũ. Vua bèn gia phong Minh Hạnh Đại Vương; các lễ Nghinh xuân, cầu cúng đều làm lễ ở đấy.

Đến đời Trần, ba lần đền bị hỏa tai đều cũng không cháy. Quan Thái sư Trần Quang Khải đề bài thơ đến nay đương còn được truyền tụng:

Xưa nghe lừng lẫy Đại Vương linh.

Nay mới hay rằng quỷ cũng kinh.

Lửa cháy ba lần thiêu chẳng rụi.

Gió rung một trận thổi nào chênh.

Chỉ huy đàn áp muôn ngàn chúng.

Hô hấp tiêu trừ trăm vạn binh.

Mong cậy dư uy trừ giặc Bắc.

Khiến cho vũ trụ hưởng thanh bình [1].

[1]      Bản dịch của Phan Kế Bính (trong Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện trang 122).

Xưa nghe lừng lẫy tiếng anh linh.

Ma cũng ghê mà quỷ cũng kinh.

Ngọn lửa ba phen thiêu chẳng tới,

Roi lôi một trận đánh không chênh.

Chỉ tay đè nén trăm loài quỷ

Quát tiếng trừ tan mấy vạn binh

Nhờ đội oai thần xua giặc Bắc

Khiến cho non nước lại thanh bình.

➖➖➖

 


 

XXVI

Truyện thần Minh Chủ núi Đồng Cổ

Tác giả: nho sĩ họ Đoàn đời nhà Mạc.

Xét truyện Báo Cục thấy chép rằng Minh Chủ Chiêu Ứng Linh Đại Vương vốn là thần núi Đồng Cổ.

Núi Đồng Cổ ở huyện An Định, làng Đàn Đà Thượng. Ngày xưa, lúc đang làm Thái tử, Lý Thái Tông đem binh đi đánh Chiêm Thành, đến bãi Tràng Sa thì đóng quân ngủ lại; đêm quá canh ba, vương mộng thấy một vị thần bận binh phục đến thưa rằng:

– Ta là thần núi Đồng Cổ, nghe Vương nam chinh, xin theo quân Vương lập chiến công.

Trong giấc mộng, Vương cùng thần nói chuyện rất tường. Bình Chiêm Thành xong, Vương đem quân trở về Kinh, sai quần thần sáng lập từ vũ tại Kinh thành bên hữu chùa Từ Liêm. Kịp đến lúc vua Thái Tổ băng hà, Thái Tông phụng di chiếu tức vị. Đêm ấy thần lại cáo với Thái Tông rằng:

– Ba vương Vũ Đức, Dực Thánh, Đông Chinh mưu phản.

Sáng ngày, Ba vương đã phục binh trong thành, đánh gấp các cửa. Thái Tông ra lệnh cho vũ thần Lê Phụng Hiểu đem binh cự chiến; Phụng Hiểu kêu to bảo Đông Chinh, Vũ Đức rằng:

– Ba vương dòm dỏ thần khí, miệt thị tự quân, tại sao lại vong ân bội nghĩa? Phụng Hiểu này xin đem gươm đến hiến.

Rồi thẳng đến chém Vũ Đức Vương, còn Đông Chinh, Dực Thánh tẩu thoát được, hung đồ tán loạn, nội nạn thanh bình quả hợp ứng như thần mộng. Phụng Hiểu có công linh trợ, vua sắc phong làm Thiên Hạ Minh Chủ; mỗi năm đến ngày mồng bốn tháng Tư, vua hội trăm quan ở đền mà thề. Lời minh thệ là: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, Thần minh sẽ giết”; ai ai cũng đều úy mộ sùng phụng.

Phụng Hiểu tiêu trừ được nội nạn, tin thắng lợi tâu lên, Thái Tông ban khen, bảo Phụng Hiểu là người trung nghĩa anh dũng, hơn Kỉnh Đức nhà Đường rất xa. Sau phò Vua Nam chinh, đại phá giặc Chiêm Thành, công to nghiệp lớn lừng lẫy xa gần; dân lập đền thờ cầu đảo đều có linh ứng; trải mấy triều, Vương đều được gia phong tặng Vương tước cả.

➖➖➖

 


 

XXVII

Truyện thần Ứng Thiên hóa Dục Hậu Thổ

Tác giả: nho sĩ họ Đoàn đời nhà Mạc.

Xét chuyện Báo Cực thấy chép rằng thần là tinh Đại địa chủ nước Nam. Xưa Lý Thái Tông chinh phạt Chiêm Thành, đi đến cửa biển bỗng thấy gió to mưa lớn, sóng cuộn ầm ầm, trông xa thấy núi đá, ngự thuyền cùng các thuyền tùy tùng đều không qua được, phải đậu một bên bờ. Đêm ấy, vua mộng thấy một người con gái áo trắng quần hồng, đạm trang dịu dàng, bước lên ngự thuyền mà thưa rằng:

– Ta là thần Đại địa nước Nam, nương thân ở trên cây lâu lắm, nay gặp minh quân xuất chinh, nguyện theo Vương để lập vũ công.

Nói đoạn, hốt nhiên đi mất; Vua kinh hoàng thức dậy mới hay là chiêm bao, cho triệu bá quan và các bậc kỳ cựu đến nói chuyện. Nhà sư Tống Huệ Sinh thưa rằng:

– Nếu như vua đã mộng thấy thần nhân báo nương thân ở cây thì thử tìm ở đấy xem sao.

Vua sai cận thần tìm khắp các núi trên bờ, thấy một khúc gỗ hình tượng giống như người, hệt như đã thấy trong mộng. Vua khiến đặt khúc gỗ lên trên ngự thuyền, đốt hương cầu đảo, gọi là Hậu Thổ Thị Phu Nhân. Trong khoảng chốc lát thì gió êm sóng lặng, thuyền đi êm ái không có một tiếng động. Đến khi phá được giặc Chiêm, ban sư khải hoàn, kinh qua chỗ cũ, vua sắc lập đền thờ thì lại thấy phong ba nổi dậy như trước.

Sư Huệ Sinh tâu rằng:

– Ý thần không muốn ở xa bờ biển, xin rước về Kinh.

Khi ấy sóng gió lại êm; về đến Kinh thành vua bèn lập miếu ở làng An Lãng, uy chương linh ứng; hoặc có người nào khí mạn thì bị hung họa.

Kịp đến thời vua Trần Anh Tông gặp năm trời đại hạn, vua sai đắp đàn cầu đảo. Thần cho vua mộng thấy rằng:

– Duy có thần Câu Mang ở bản từ là có thể làm mưa gió.

Vua tỉnh dậy sai quan Hữu ty đến tế, quả được mưa lớn dồi dào. Bà được phong làm Hậu Thổ Phu Nhân, trải qua các đời đều có gia phong vì là có công với dân.

➖➖➖

 


 

XXVIII

Truyện Long Trào Khước Lỗ [1]

Tác giả: nho sĩ họ Đoàn đời nhà Mạc.

Xét Sử ký và đời truyền thì vua họ Lý, tên húy là Phật Tử, tướng trong họ của Tiền Nam Đế. Tiền Lý Nam Đế tên là Bôn ở huyện Thái Bình, sẵn có kỳ tài, làm quan với nhà Lương một cách bất đắc chí, lại có Tinh Thiều giỏi về từ chương, quan Lại bộ nhà Lương là Thái Tỗn bổ làm Môn Lang Quang Dương, Thiều cho là sỉ nhục bèn cùng Lý Bôn trở về làng.

Nhân Thứ sử Tiêu Tư tàn bạo mới liên kết bọn hào kiệt cùng khởi binh kéo ra chiếm thành Lâm Ấp vào chiếm quận Nhật Nam, Bôn sai Phạm Tu đánh phá được, thừa thắng tự xưng là Nam Việt Đế, đổi niên hiệu năm đầu là Thiên Đức, quốc hiệu là Vạn Xuân, được tám năm rồi mất.

Lúc bấy giờ có Việt Vương họ Triệu, tên húy là Quang Phục, vốn người Châu Diên, làm Tả tướng quân của Tiền Lý Nam Đế. Ở Châu Diên có một cái đầm lớn, quanh co không biết bao nhiêu dặm. Tiền Nam Đế mất, Vương mới thu thập tàn binh hơn hai vạn người, tụ hội trong đầm (nay tục gọi là Nhất Dạ trạch); vừa giáp một năm, Vương khẩn đảo trời đất quỷ thần, được thần nhân (tục truyền là Chử Đồng Tử) theo cho móng rồng, bảo giắt ở đầu đâu mâu; đi đến đâu giặc thua chạy đến đó, chém được tướng giặc là Dương Sằn, binh nhà Lương phải rút lui. Vương vào chiếm thành Long Biên, lại chiếu đời qua hai thành Cổ Loa và Vũ Ninh, tự hiệu là Nam Việt Quốc Vương. Vương sai chia nước, cắt địa giới ở bãi Quân thần mà cai trị chung, sau Nam Đế chiếm cứ châu Ô Diên.

Con Hậu Nam Đế là Nhã Lang xin cưới con gái Triệu Quang Phục là Cảo Nương, Vương gả cho. Nhã Lang nói với Cảo Nương rằng:

– Ngày xưa hai thân phụ ta là cừu thù, ngày nay lại là thông gia, cũng thực hay lắm.

Nhân hỏi Cảo Nương rằng:

– Thân phụ em có linh thuật gì mà binh của thân phụ anh phải thua trận?

Cảo Nương lấy tình thực thưa với Nhã Lang; thuận theo ý chồng, nàng lấy trộm cái đâu mâu có móng rồng đưa cho Nhã Lang xem. Nhã Lang âm mưu đổi lấy móng rồng, rồi bảo riêng với Cảo Nương rằng:

– Anh nay dứt tình mà về thăm cha, vạn nhất có điều gì bất trắc như giặc đến mà thân phụ em đánh không hơn, nếu có chạy đi đàng nào thì em nên lấy lông ngỗng ở nệm gấm mà làm dấu, sẽ đến cứu giúp em.

Rồi sau Nam Đế đem binh đến đánh. Triệu Vương ban đầu chưa biết gì, đốc binh, cầm đâu mâu ngồi chờ; binh giặc càng tiến, Vương biết thế kém không chống nổi, bèn dắt con gái chạy về hướng Nam, bỗng thấy Long Vương chỉ mà bảo rằng:

– Con gái Vương rắc lông chỉ dấu là giặc đó.

Vương bèn rút gươm chém rồi cỡi ngựa chạy đến cửa biển Tiểu Nha; bị nước ngăn, cùng đường, lại thấy Hoàng Long rẽ nước làm đường, Vương theo xuống; nước bèn hợp lại.

Nam Đế đuổi đến, thấy nước mênh mông. Triệu Vương ở ngôi hai mươi ba năm, quốc dân cho là kinh dị, mới lập đền ở cửa biển Đại Nha mà phụng tự.

Nam Đế đuổi Triệu Việt Vương xong, trở về hai xứ Loa Thành và Vũ Ninh, phong anh làm Thái Bình Hầu, giữ thành Long Biên, Đại tướng quân Lý Tấn Đỉnh làm An Ninh Hầu giữ thành Ô Diên.

Nam Đế ở ngôi ba mươi mốt năm, bị tướng nhà Tùy là Lưu Phương tiêu diệt. Người đời sau lập đền ở cửa biển Tiểu Nha mà phụng tự.

---

[1]      tức Lý Phật Tử. So sánh với truyện Kim Quy ở trên.

 

 

➖➖➖

 

2023-08-19

Thăm lúa, Anh vẫn hành quân, Khó ngủ, Không đề - Trần Hữu Thung

2023-08-19

Thăm lúa, Anh vẫn hành quân, Khó ngủ, Không đề

Trần Hữu Thung

 

► Thăm lúa

► Anh vẫn hành quân

► Khó ngủ

► Không đề

Lời tựa:

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Trần Hữu Thung (1923-2023) – thân sinh của anh Trần Hữu Nam – “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” trân trọng giới thiệu đến anh/chị bốn bài thơ của ông là “Thăm lúa” (sáng tác 1.1.1950), “Anh vẫn hành quân” (sáng tác 12.963), “Khó ngủ” (sáng tác 11.1995) và “Không đề” (sáng tác năm 1944) lấy từ trang web thivien.net. Việc lựa chọn bốn tác phẩm này hoàn toàn do ý đồ chủ quan của “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” không dựa trên bất kỳ tiêu chí nào. Để tìm hiểu thêm về cuộc đời và các tác phẩm của nhà thơ, anh/chị có thể tham khảo bài “Nhớ Trần Hữu Thung” của tác giả Trình Quang Phú đăng trên báo Văn nghệ số 31/2023 và bài “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Trần Hữu Thung (1923-2023): Tôn vinh những giá trị người!” của tác giả Yên Ba đăng ngày 5.8.2023 trên trang web Hội Nhà Văn Việt Nam.

-:-

➖➖➖

 


 

Thăm lúa

Mặt trời càng lên tỏ

Bông lúa chín thêm vàng

Sương treo đầu ngọn gió

Sương lại càng long lanh.

 

Bay vút tận trời xanh

Chiền chiện cao cùng hót

Tiếng chim nghe thánh thót

Văng vẳng khắp cánh đồng

 

Đứng chống cuộc em trông

Em thấy lòng khấp khởi

Bởi vì em nhớ lại

Một buổi sớm mai ri

 

Anh tình nguyện ra đi

Chiền chiện cao cùng hót

Lúa cũng vừa sẫm hột

Em tiễn anh lên đường

Chiếc xắc mây anh mang

 

Em nách mo cơm nếp

Lúa níu anh trật dép

Anh cúi sửa vội vàng

Vượt cánh đồng tắt ngang

 

Đến bờ ni anh bảo

“Ruộng mình quên cày xáo

Nên lúa chín không đều

Nhớ lấy để mùa sau

Nhà cố làm cho tốt”

 

Xa xa nghe tiếng hát

Anh thấy rộn trong lòng

Sắp đến chỗ người dông

Anh bảo em ngoái lại

 

Cam ba lần ra trái

Bưởi ba lần ra hoa

Anh bước chân đi ra

Từ ngày đầu phòng ngự

 

Bước qua kì cầm cự

Anh có gửi lời về

Cầm thư anh mân mê

Bụng em giừ phấp phới

 

Anh đang mùa thắng lợi

Lúa em cũng chín rồi

Lúa tốt lắm anh ơi

Giải thi đua em giật

 

Xoè bàn tay bấm đốt

Tính cũng bốn năm ròng

Ai cũng bảo đừng mong

Riêng em thì vẫn nhớ

 

Chuối đầu vườn đã lổ

Cam đầu ngõ đã vàng

Em nhớ ruộng nhớ vườn

Không nhớ anh răng được

 

Mùa sau kề mùa trước

Em vác cuốc thăm đồng

Lúa sây hạt nặng bông

Thấy vui vẻ trong lòng

Em mong ngày chiến thắng.

1-1-1950

Diễn ngâm trên Youtube.

---

Bài thơ này được viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, dù mang giọng thơ năm chữ và đôi chỗ gợi nhớ nhịp điệu hát dặm Nghệ Tĩnh, nhưng đã đầy đủ cốt cách một thi phẩm mới mẻ của nền thơ cách mạng đang thời trứng nước và được phổ biến rộng rãi khắp cả đất nước, đoạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước, trong đó có giải thưởng thơ tại Liên hoan thanh niên thế giới ở Buy-ca-rét năm 1953, được đưa vào sách giáo khoa trung học.

 

➖➖➖

 


 

Anh vẫn hành quân

Anh vẫn hành quân

Trên đường ra chiến dịch

Mé đồi quê anh bước,

Trăng non ló đỉnh rừng

 

Anh vẫn hành quân

Như ngày em có nhớ

Đứng bên cầu xóm nhỏ

Nón che em dặn thêm

 

Anh vẫn hành quân

Lưng đèo qua bãi suối

Súng ngang đầu anh gối,

Súng kề tay anh cầm

 

Trời lại mưa lâm thâm

Gió xoay chiều rét dữ

Bên cầu em thấy chứ

Anh vẫn hành quân

 

Và tiếng hát vang ngân

Như đường lên Cao Lạng

Trời Điện Biên mây trắng

Cờ chiến thắng oai hùng

 

Anh vẫn hành quân

Như chín năm kháng chiến

Năm nay tròn thêm chín

Anh vẫn hành quân

 

Em ơi Mỹ điên cuồng

Có thêm nhiều chất độc

Súng tay anh cầm chắc

Anh vẫn hành quân

 

Ai trở bước lùi chân

Ai tình quên hẹn lại

Thì lòng anh em hỡi

Càng nóng bỏng tình em

 

Dù còn đó bóng đêm

Dù xa em xa má

Đã sáng bừng hai ngả

Em ơi ta thẳng đường

 

Ngoài này hỡi em thương

Trên cánh đồng hợp tác

Trên giàn giáo công trường

Trên tuyến đường anh đặt

 

Lòng anh mang Ấp Bắc

Anh vẫn hành quân

Em ơi anh càng gần

Bên cầu xưa em nhớ

Trong lời thơ giấc ngủ

Anh vẫn hành quân

12-1963

Bài thơ đã được nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc thành bài hát cùng tên. Trích đoạn bài thơ này được sử dụng trong sách giáo khoa tập đọc trong nhiều năm.

➖➖➖

 


 

Khó ngủ

Trằn trọc hoài chẳng ngủ

Lòng ngổn ngang lo buồn

Nhổm dậy ngồi thương mẹ

Thắp đèn lại nhớ con

Bên bình minh mặt bể

Bên bóng tà hoàng hôn

Mình cũng đầu nắng xế

Gió chiều se mây dồn...

 

Ánh ngày dang cánh vỗ

Đỉnh đại ngàn chon von

Niềm riêng đầy thương nhớ

Những băn khoăn bồn chồn

Thơ những dòng viết dở

Đời nắng mưa vẫn còn...

 

Ôi khuya càng thêm vắng

Đầu phên thưa gió luồn

Đành pha ấm trà đặc

Ngồi thức trắng đêm luôn

11-1995

Nguồn: Tuyển tập Trần Hữu Thung, NXB Nghệ An, 1997

 

➖➖➖

 


 

Không đề

Em hãy dừng đây mộng ảo huyền

Có đò đưa đón nắng trong đêm

Âm dương từ buổi đàn trôi hướng

Phách lạc ngoài khơi tình đảo điên

 

Mùa xưa quán lạnh ánh xiêm tan

Hoà hợp giai nhân ngấn lệ tàn

Đã hẹn cùng ai chờ kiếp trước

Sông dài che lấp mộng thời gian

 

Trao tay sầu hận mờ năm tháng

Xa ngái vườn xanh quạnh bóng nàng

Thu trước còn in lần ngọc vỡ

Tình xưa đưa vọng phút tà dương

 

Say mê một sớm động lòng thương

Cô gái chiều xuân tựa áo hường

Có phải hôm nay rồi cách biệt

Xa vời sương tuyết lạnh quê hương.

---

Bà Nguyễn Thị Chi Loan sinh ngày 11/11/1929 tại xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang (Huế) là em gái nhà thơ, nhà báo liệt sĩ Thúc Tề (tên thật là Nguyễn Thúc Nhuận). Thân mẫu của bà là Tôn Nữ Thị Tựu, con gái út của Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết. Bà Loan gọi Tôn Thất Thuyết là ông ngoại. Bà Loan tập kết ra miền Bắc, làm bác sĩ, từng làm trưởng Bệnh xá thị xã Hà Tĩnh (nay là Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh). Hiện bà sống tại Đà Nẵng, chồng bà là đại tá Hoàng Sửu quê ở thị trấn Đô Lương, Nghệ An, nay đã trên 90 tuổi. Vợ chồng bà Loan là người thờ tự liệt sĩ Thúc Tề. Bà từng học ở trường Ecole (Huế). Năm 1942 bà vừa học vừa đến ở với anh trai Thúc Tề giúp anh mở quán bánh bèo tại ngã ba Sỏi cũ dưới chân núi Ngự Bình. Do trước đó Thúc Tề hoạt động cách mạng ở Sài Gòn bị lộ, về quê được bố mẹ làm cho cái quán nhỏ đó để trốn tránh bọn mật thám. Tại đây, bà Loan thường được gặp những người bạn của anh mình như hai anh em nhà văn Trần Thanh Mai và Trần Thanh Dịch, nhạc sĩ Vĩnh Phan, nhà thơ Lưu Trọng Lư, nhà văn Hải Triều. Năm 1944, bà được gặp hai nhà thơ từ Nghệ An vào là nhà Bùi Tiên Cảnh và Trần Hữu Thung. Bà đã phục vụ rất chu đáo hai nhà thơ mới đến. Trước lúc chia tay nhà thơ Trần Hữu Thung đã chép tay tặng bà bài thơ này. Trong thời gian ở miền Bắc bà đã vài lần tìm gặp Trần Hữu Thung, nhưng có lần bà vừa tới thì nghe nói nhà thơ đi công tác.

Bài thơ này được bà Loan cung cấp cho nhà báo Nguyễn Ngọc Vượng, và được nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo công bố vào ngày 4/2/2015 trên blog cá nhân.

 

➖➖➖

 

Việt Điện U Linh Tập - Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) - Lý Tế Xuyên

 2026-10-10 Việt Điện U Linh Tập Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) ...