2023-11-04
Ngư
Ông và Biển Cả (6)
https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/28/ErnestHemingway.jpg
---
Ernest
Hemingway
(Giải
Nobel Văn học 1954)
Dịch giả: Phùng Khánh, Phùng Thăng
Nguyên bản tiếng Anh: The Old Man and the Sea
Nguồn: Project Gutenberg Canada ebook #948
Tham chiếu bản quyền: http://gutenberg.ca/links/licence.html
“Mày
rã rời đến tận xương tủy”.
Lũ
cá mập không tiếp tục tấn công mãi cho đến ngay trước khi mặt trời lặn.
Ông
lão nhìn thấy mấy chiếc vi xám lao theo vệt hơi rộng mà con cá kiếm hẳn đã để lại
trong nước. Chúng thậm chí không thèm tản ra đánh hơi. Cùng sánh đôi, chúng bơi
thẳng đến con thuyền.
Lão
chèn tay lái, buộc chặt dây lèo buồm rồi đưa tay xuống đuôi thuyền tìm cái
chày. Đấy là khúc cán được cưa từ mái chèo gãy, dài chừng tám tấc. Lão chỉ có
thể sử dụng nó hiệu quả bằng một tay bởi chỗ tay nắm của nó chỉ vừa vặn với một
bàn tay; tay phải lão đã nắm chắc cái chày trong lúc lão nhìn lũ cá mập xông đến.
Cả hai con thuộc loài galanos.
Mình
phải để con đầu tiên ngoặm chặt rồi mới nện nó vào ngay giữa mũi hay giã thẳng
vào đỉnh đầu, lão nghĩ.
Hai
con cá mập cùng tiến sát và khi thấy con gần lão há mồm cắm phập vào bên lườn
ánh bạc của con cá thì lão nâng cao cái chày, dốc sức bình sinh giáng ngay xuống
đỉnh đầu rộng của con cá mập. Khi chạm xuống, lão cảm thấy cái chày chùng lại
như chạm phải lớp cao su rắn. Nhưng lão cũng cảm nhận được độ cứng của xương rồi
lão giáng thêm một đòn cật lực vào chóp mũi của con cá mập khi nó trượt khỏi
con cá.
Con
cá mập kia cứ nhào vào táp rồi lùi ra, bây giờ nó lại ngoác to mồm xông vào. Ông
lão có thể nhìn thấy những dải thịt cá kéo thành vệt trắng trong khóe hàm con
cá mập khi nó lao vào con cá kiếm và khớp mõm xuống. Lão chồm người bổ một đòn
nhưng chỉ trúng vào đầu nó, con cá mập nhìn lão rồi bứt nốt chỗ thịt đã bị cắn
rời ra. Ông lão lại vung chày giã xuống khi nó lảng ra nuốt, cái chày chỉ đánh
trúng lớp thịt dày, chắc như cao su.
“Nhào
vô đi, GALANOS”, ông lão nói. “Hãy lại nhào vô xem”.
Con
cá mập xốc thẳng tới và khi nó vập hàm xuống, lão giáng cho nó một chày. Lão
giáng cật lực từ độ cao mà lão có thể nâng cái chày hết cỡ. Lần này lão cảm nhận
được lớp xương sọ, rồi lão lại quật tiếp vào ngay chỗ ấy trong lúc con cá mập lờ
đờ kéo đứt miếng thịt chìm xuống.
Ông
lão chờ nó lại xông đến nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu cả. Rồi lão thấy một con
đang lượn vòng trên mặt nước. Lão không thấy vi của con kia.
Mình
không hi vọng giết được chúng, lão nghĩ. Như mình có thể làm thuở còn trai trẻ.
Nhưng mình đã đánh chúng bị thương nặng và cả hai con cá mập ấy đều đã choáng
váng. Nếu mình có thể cầm cái chày bằng cả hai tay thì chắc mình đã hạ gục con
đầu tiên rồi. Thậm chí ngay cả bây giờ, lão nghĩ.
Lão
chẳng muốn nhìn con cá. Lão biết nó đã bị hủy hoại mất một nửa. Mặt trời đã lặn
trong lúc lão đang kịch chiến với hai con cá mập.
“Chốc
nữa trời sẽ tối”, lão nói. “Rồi mình sẽ nhìn thấy ánh đèn Havana. Nếu mình đi
quá xa về hướng Đông thì mình cũng thấy ánh đèn của một trong những bãi biển mới”.
Bây
giờ mình không còn xa quá nữa, lão nghĩ. Mình hy vọng không có ai phải lo lắng
nhiều. Dĩ nhiên chỉ có mỗi thằng bé lo mà thôi. Nhưng mình chắc nó vẫn tin tưởng.
Nhiều bạn chài luống tuổi cũng sẽ lo lắng. Nhiều người khác cũng vậy, lão nghĩ.
Mình sống trong một thành phố nghĩa tình.
Lão
không thể nói chuyện với con cá được nữa bởi lẽ nó đã bị xâu xé nát tươm cả rồi.
Lát sau đầu lão chợt nảy ra ý tưởng.
“Nửa
con cá kia ơi”, lão nói. “Cá à, trước khi mày là thế đấy. Ta ân hận vì đã đi
quá xa. Ta đã hủy hoại cả hai chúng mình. Nhưng chúng ta đã tiêu diệt được nhiều
cá mập, mày và ta, đã đánh trọng thương nhiều con khác. Mày đã từng giết được
bao nhiêu con, hỡi anh bạn cá già kia? Cái lưỡi kiếm trên đầu mày chẳng phải vô
cớ mà được sinh ra như thế”.
Lão
thích tưởng tượng về con cá và những gì nó có thể làm đối với một con cá mập nếu
nó được tự do bơi lội. Có lẽ mình nên cắt cái lưỡi kiếm để dùng làm vũ khí chiến
đấu, lão nghĩ. Nhưng chẳng có cái rìu nhỏ hay con dao nào cả.
Nhưng
nếu ta có và có thể buộc nó vào mái chèo thì đấy mới đích thực là vũ khí. Rồi
chúng ta sẽ cùng chiến đấu với bọn chúng. Bây giờ mày sẽ làm gì nếu bọn chúng
kéo đến vào ban đêm? Mày có thể làm gì?
“Chống
lại chúng”, lão nói. “Mình sẽ chống lại chúng cho đến lúc chết”.
Nhưng
lúc này, trong bóng tối, không một quầng sáng lấp lánh, không một ánh điện, chỉ
có gió và con thuyền lững thững trôi, lão cảm nhận như thể lão đã chết tự bao
giờ. Lão áp hai bàn tay vào nhau, sờ vào lòng bàn tay. Chúng chưa chết và lão
có thể cảm nhận nỗi đau đớn bằng cách đơn giản là nắm, mở đôi bàn tay. Lão ngả
người tựa lên đuôi thuyền và biết mình chưa chết. Đôi vai đã mách lão điều đó.
Mình
nhớ đọc tất cả những bài kinh khi mình bắt được con cá, lão nghĩ. Nhưng lúc
này, mình đã quá mệt để đọc nổi nữa rồi. Tốt hơn là mình nên lấy cái bao đắp
lên vai.
Lão
nằm xuống phía sau thuyền, tay vẫn lái và mắt dõi nhìn quầng sáng hắt lên nền
trời. Mình còn một nửa, lão nghĩ. Có lẽ vận may sẽ đến giúp mình mang nửa con
cá này vào bờ. Ít ra thì mình cũng phải có chút may mắn nào đấy. Không, lão
nói. Cứ đi quá xa thế này thì mày đã tự làm tổn hại cái vận may của mày rồi.
“Đừng
có ngốc”, lão nói lớn. “Cố mà thức và lái thuyền đi. Không chừng mày lại gặp
may nhiều đấy”.
“Ta
muốn mua một ít may mắn nếu nó được bán ở bất cứ nơi nào”, lão nói.
Thế
ta lấy gì để mua nó đây? Lão tự hỏi. Ta có thể mua nó bằng ngọn lao mất, con
dao gãy và đôi tay bị thương ư?
“Mày
có thể”, lão nói. “Mày cố mua nó bằng tám mươi tư ngày đi biển. Suýt nữa nó đã
được bán cho mày”.
Mình
đừng nghĩ vớ vẩn nữa, lão nghĩ. Vận may là thứ đến với vô vàn dáng vẻ, ai có thể
nhận diện ra nó? Dẫu sao thì mình sẽ nhận một ít trong bất cứ hình thức nào và
trả bất kỳ giá nào mà người bán đòi hỏi. Giá mà mình có thể nhìn thấy ánh điện,
lão nghĩ. Mình ao ước quá nhiều. Nhưng đấy là thứ mình cần bây giờ. Lão cố xoay
trở cho thoải mái để lái thuyền và nhờ nỗi đau nhức lão biết mình chưa chết.
Vào
khoảng mười giờ tối, lão trông thấy ánh đèn thành phố hắt xuống nước. Thoạt
tiên, đấy chỉ là thứ ánh sáng mang máng trên bầu trời như trước lúc mặt trăng mọc.
Thoáng chốc chúng hiện rõ ra ở đằng kia đại dương, lúc này đang dậy sóng theo
chiều gió mạnh. Lão lái thẳng vào giữa quầng sáng, lão nghĩ chẳng mấy chốc kể từ
lúc này lão sẽ chạm đến mé dòng nước.
Giờ
thì đã xong, lão nghĩ. Có lẽ chúng sẽ lại tấn công ta. Nhưng trong đêm tối,
không một tấc sắt trong tay, con người có thể làm gì để chống lại chúng?
Lúc
này lão đã tê cứng, nhức nhối và cái giá lạnh ban đêm càng làm những vết thương
và tất cả những chỗ xây xát trên khắp cơ thể lão đau buốt. Mình hy vọng là sẽ
không còn chạm trán với chúng, lão nghĩ. Mình rất hy vọng mình không phải chạm
trán lại với bọn chúng.
Nhưng
vào lúc nửa đêm lão phải chiến đấu và lần này lão biết cuộc chiến đấu là vô vọng.
Chúng kéo đến cả đàn, lão chỉ nhìn thấy những đường nước do vây chúng xẻ bơi và
những vệt lân tinh khi chúng quăng mình vào con cá. Lão nện chày xuống mấy cái
đầu, nghe tiếng răng bập và cảm thấy con thuyền chao đảo khi chúng luồn xuống
dưới. Lão vung chày tuyệt vọng vào bất cứ chỗ nào lão có thể phỏng đoán hoặc
nghe thấy, rồi lão cảm thấy có cái gì đó tóm lấy cái chày, lôi tuột đi.
Lão
giật cái tay lái ra khỏi ổ lái, cầm cả hai tay đâm, bổ dọc liên hồi kì trận.
Nhưng bây giờ bọn chúng lại dồn hết đến đằng mũi thuyền, lần lượt thay phiên
nhau, hay cả bọn cùng xông vào xâu xé con cá, chỗ thịt chúng rứt được lấp lánh
dưới nước khi chúng trở mình để lại lao vào.
Cuối
cùng một con xáp đến đớp vào cái đầu cá, lão biết thế là hết. Lão vung tay lái
quật ngang đầu con cá mập chỗ bộ hàm bị kẹp cứng trong xương đầu con cá kiếm mà
không thể rứt ra được. Lão quật lần nữa, thêm lần nữa, rồi thêm nữa. Lão nghe
tiếng cái tay lái gãy; dùng phần gãy lởm chởm, lão đâm vào con cá mập. Cảm thấy
đoạn tay lái cắm phập vào, lão biết nó sắc rồi thọc sâu xuống. Con cá mập buông
ra, lăn mình đi. Đấy là con cuối cùng của đàn cá mập. Chẳng còn gì nữa để chúng
xâu xé.
Lúc
này lão nặng nề thở và cảm thấy có vị là lạ trong miệng. Vị ấy ngòn ngọt và có
mùi tanh đồng; lão thoáng lo sợ. Nhưng chỗ mùi vị ấy không nhiều. Lão khạc nhổ
xuống đại dương rồi nói:
“Đớp
đi, lũ galanos kia. Và hãy tưởng tượng rằng bọn mày đã giết chết một con
người”.
Bây
giờ lão biết mình đã bại trận hoàn toàn, không thể nào cứu vãn nổi; lão quay lại
đằng lái, tìm đoạn tay lái gãy lởm chởm còn đủ dài để lắp vào ổ lái, đưa thuyền
vào bờ. Lão khoác cái bao qua vai rồi lái thuyền theo hướng cũ. Bây giờ, tay
lái lão nhẹ bẫng và lão chẳng còn nghĩ hay thoáng chút vương vấn gì nữa. Lúc
này lão quên hết mọi chuyện và chỉ tập trung đưa con thuyền vào bến khéo léo và
an toàn. Trong đêm, đàn cá mập kéo đến gặm bộ xương như kiểu ai đó nhặt những mẩu
bánh vụn trên bàn. Ông lão chẳng buồn bận tâm đến chúng và cũng không để ý đến
bất cứ chuyện gì ngoài việc lái thuyền. Bây giờ lão chỉ lưu ý đến độ lướt nhẹ
và đằm của con thuyền khi không còn phải đeo thêm cái gánh nặng bên mình.
Con
thuyền vẫn còn tốt, lão nghĩ. Nó cũng chắc và chẳng hư hại gì ngoài cái tay
lái. Cái đó thì dễ thay.
Bây
giờ lão có thể nhận thấy lão đã vào giữa dòng chảy; lão trông thấy ánh đèn trên
những bãi biển dọc bờ. Lão biết bây giờ lão đang ở đâu và lối về thì chẳng còn
là vấn đề gì nữa.
Ngẫm
cho cùng thì gió là bạn của ta, lão nghĩ. Rồi lão nghĩ tiếp, chỉ đôi khi. Và cả
đại dương bao la với những người bạn lẫn kẻ thù của ta. Và giường chiếu nữa,
lão nghĩ. Giường là bạn của ta. Chỉ có giường thôi, lão nghĩ. Giường chiếu hẳn
là việc trọng đại. Đơn giản làm sao khi mày bị đánh bại, lão nghĩ. Ta chưa hề
hình dung chuyện ấy lại đơn giản đến thế. Cái gì làm mày thất bại, lão nghĩ.
“Chẳng
gì cả”, lão nói lớn. “Ta đã đi quá xa”.
Khi
đưa được thuyền về cái bến nhỏ, đèn nơi Terrace đã tắt, lão biết mọi người đã
đi ngủ. Gió không ngừng lớn thêm và bây giờ đang thổi mạnh. Nhưng phía trong bến
cảng vẫn yên ả, lão cập thuyền vào con lạch nhỏ, đầy sỏi bên dưới ghềnh đá. Do
không có người giúp nên lão dốc sức đẩy con thuyền lên đến mức khả năng cho
phép. Rồi lão nhảy ra buộc thuyền vào một tảng đá.
Lão
hạ buồm, quấn lá buồm lại và buộc chặt. Rồi lão vác cột buồm dợm chân leo lên.
Chỉ đến khi ấy lão mới biết cơ thể lão rã rời đến mức nào. Lão dừng lại nghỉ một
lát, ngoái nhìn và thấy ánh đèn đường phản chiếu lên cái đuôi to kềnh của con
cá đang dựng thẳng đứng bên cạnh đuôi thuyền. Lão thấy cái xương sống vạch
thành đường thẳng trụi trần, trắng hếu và cái đầu đồ sộ và đen ngòm với lưỡi kiếm
nhô thẳng tới trước mà chẳng còn tí thịt da nào. Lão lại tiếp tục leo, lên đến
đỉnh dốc lão ngã rồi nằm một lát, cột buồm vẫn vắt ngang qua vai. Lão gượng đứng
dậy. Nhưng việc ấy lại quá khó nên lão cứ vác cột buồm ngồi đó nhìn con đường.
Đằng xa, một con mèo đang băng qua đường tìm kiếm cái gì đó, lão nhìn nó. Lát
sau lão chỉ nhìn con đường.
Cuối
cùng lão đặt cột buồm xuống, đứng dậy. Lão dựng cột buồm, vác lên vai rồi tiếp
tục đi. Lão phải ngồi nghỉ năm lần trước khi về đến lều.
Vào
trong lều, lão dựng cột buồm tựa vào tường. Lão tìm trong bóng tối ra chai nước
và uống một ngụm. Rồi lão nằm xuống giường. Lão kéo cái mền đắp qua vai, xuống
lưng rồi chân; lão nằm ngủ úp mặt lên lớp báo, hai tay dang rộng, lòng bàn tay
ngửa lên.
Sáng
hôm sau, khi thằng bé nhìn vào lều, ông lão đang ngủ. Trời đang nổi gió lớn đến
nỗi thuyền câu không thể ra khơi; thằng bé dậy muộn rồi tạt qua lều ông lão như
nó thường làm vào mỗi buổi sáng. Thằng bé thấy ông lão đang thở và khi nhìn vào
đôi bàn tay, nó bật khóc. Nó rón rén bước ra đi mua cà phê mang về; suốt con đường
dốc nó cứ thổn thức mãi.
Nhiều
người đánh cá quây quanh con thuyền, ngắm nhìn cái vật được buộc bên mạn, một
người xắn quần lội xuống nước dùng dây đo chiều dài bộ xương.
Thằng
bé không xuống đấy. Nó đã đến từ trước và một trong những người đánh cá thay nó
trông hộ con thuyền.
“Bác
ấy sao rồi?”, một trong những người đánh cá hỏi vọng lên.
“Đang
ngủ”, thằng bé đáp. Nó không bận tâm đến việc mọi người nhìn thấy nó khóc. “Đừng
để ai đến quấy rầy ông”.
“Từ
mũi đến đuôi, con cá dài gần sáu mét”, người đang đo xướng lên.
“Cháu
chắc là thế”, thằng bé nói. Nó đi vào Terrace và hỏi mua một lon cà phê.
“Thật
nóng và cho nhiều sữa, đường vào”.
“Cần
gì nữa không?”
“Thưa
không. Để lát nữa cháu xem ông có thể ăn được gì”.
“Con
cá thật ra trò”, chủ khách sạn nói. “Chưa từng có một con cá nào như thế. Kể cả
hai cái con đáng mặt mà cháu bắt hôm qua”.
“Mấy
con cá quèn của cháu ấy mà”, thằng bé nói rồi lại khóc.
“Cháu
có muốn uống chút gì không?”, chủ khách sạn hỏi.
“Thưa
không”, thằng bé đáp.
“Nhờ
bác nhắc hộ họ đừng đến quấy rầy ông Santiago. Cháu sẽ quay lại”.
“Chuyển
hộ lời hỏi thăm của bác đến ông lão”.
“Cám
ơn bác”.
Thằng
bé mang lon cà phê nóng lên lều ông lão và ngồi xuống bên cạnh cho đến khi lão
thức giấc. Có lúc, trông ông lão như thể sắp tỉnh dậy. Nhưng lão lại chìm vào
giấc ngủ vùi; còn thằng bé thì đi qua đường hỏi mượn ít củi về hâm nóng cà phê.
Rốt
cuộc thì lão cũng thức giấc.
“Ông
khoan ngồi dậy hãy”, thằng bé nói. “Cứ uống cái này đi đã”.
Nó
rót một ít cà phê ra cốc. Ông lão nhìn chỗ cà phê rồi uống.
“Chúng
đánh bại ông, Manolin à”, lão nói. “Chúng thật sự đã đánh bại ông”.
“Nó
không đánh bại được ông. Kể cả con cá”.
“Anh
Pedrico đang trông thuyền và dụng cụ. Ông định làm gì với cái đầu cá kia?”
“Để
Pedrico chẻ ra dùng bẫy cá”.
“Thế
còn lưỡi kiếm?”
“Nếu
cháu thích thì giữ lấy”.
“Cháu
thích lưỡi kiếm”, thằng bé nói. “Bây giờ ông cháu ta phải lên kế hoạch cho những
việc khác”.
“Họ
có tìm ông không?”
“Dĩ
nhiên. Cả thuyền tuần tra bờ biển lẫn máy bay”.
“Đại
dương vô cùng vô tận, thuyền câu thì quá ư nhỏ bé nên khó nhìn thấy”, ông lão
nói. Lão nhận thấy được nói chuyện với ai đó thì dễ chịu hơn phải tự nói với
chính bản thân mình hay với biển cả. “Ông nhớ cháu”, lão nói. “Cháu bắt được mấy
con?”
“Hôm
đầu được một con. Hôm thứ hai được một và hôm thứ ba được hai”.
“Giỏi
lắm”.
“Bây
giờ ông cháu ta lại cùng đi câu”.
“Đừng.
Ông không gặp may mắn. Ông chẳng còn may chút nào”.
“Vứt
quách cái chuyện may rủi ấy đi”, thằng bé nói. “Cháu sẽ mang vận may của cháu
theo”.
“Gia
đình cháu sẽ nói gì?”
“Cháu
không quan tâm. Hôm qua cháu bắt được hai con. Nhưng bây giờ ông cháu ta sẽ đi
câu cùng nhau bởi cháu còn phải học hỏi nhiều điều”.
“Ta
phải rèn một ngọn lao đâm cá thật tốt và luôn mang theo trên thuyền. Cháu nên cắt
một lưỡi dao từ lá thép giảm sóc của chiếc xe Ford cũ. Chúng ta có thể mài nó ở
Guanabacoa. Phải mài sắc chứ đừng mang nung lửa kẻo nó sẽ gãy. Dao của ông đã
gãy”.
“Cháu
sẽ cắt con dao khác và mang lá thép ấy đi mài. Chẳng biết đợt brisa lớn
này sẽ kéo dài mất mấy ngày?”
“Có
lẽ ba hôm. Không chừng lâu hơn đấy”.
“Cháu
sẽ chuẩn bị sẵn sàng đủ mọi thứ”, thằng bé nói. “Ông nhớ chăm sóc hai bàn tay
cho lành”.
“Ông
biết cách chữa trị. Hồi đêm ông khạc ra cái gì đó thật lạ và cảm thấy cái gì đó
trong ngực bị vỡ”.
“Cũng
để cái đó bình phục luôn”, thằng bé nói. “Ông hãy nằm nghỉ đi, ông ạ; cháu sẽ
mang chiếc sơ mi sạch của ông đến cho ông. Thêm cái gì đó để ăn”.
“Nhớ
mang bất cứ tờ báo nào trong khoảng thời gian ông đi vắng đến nhé”, ông lão dặn.
“Ông
phải khỏe lại thật nhanh vì còn nhiều thứ cháu cần phải học và ông có thể dạy
cháu mọi điều. Chắc ông đã chịu đựng quá nhiều?”
“Nhiều
lắm”, ông lão đáp.
“Cháu
sẽ mang thức ăn và báo đến”, thằng bé nói.
“Ông
cứ nghỉ cho lại sức. Cháu sẽ mua thuốc chữa tay từ hiệu thuốc nữa”.
“Đừng
quên bảo Pedrico cái đầu cá ông cho anh ấy đấy”.
“Vâng.
Cháu nhớ”. Khi thằng bé ra khỏi cửa, đi xuống con đường rải đá san hô vụn, nó lại
khóc. Chiều hôm ấy có đoàn du khách ở Terrace và nhìn xuống khoảng nước ngổn
ngang lon bia rỗng và xác cá nhồng, một người phụ nữ trông thấy bộ xương sống
dài, trắng phau, cực lớn với chiếc đuôi đồ sộ dính đằng cuối dập dềnh, đung đưa
theo làn sóng trong lúc gió Đông thổi trên vùng biển cồn sóng không ngớt phía
ngoài cửa cảng.
“Cái
gì kia?”, bà ta hỏi anh bồi và đưa tay chỉ chiếc xương sống dài của con cá khổng
lồ, bây giờ chỉ là đồ rác thải đang đợi thủy triều cuốn đi.
“Tiburon”,
anh bồi đáp.
“Cá
mập ấy mà”. Anh ta hàm ý giải thích chuyện gì đã xảy ra.
“Tôi
không ngờ cá mập lại đẹp như thế, dáng đuôi thật duyên dáng”.
“Anh
cũng thế”, bạn trai của bà ta nói. Phía trên đường, trong căn lều, ông lão lại
ngủ. Lão vẫn nằm úp mặt ngủ; thằng bé ngồi bên cạnh nhìn lão. Ông lão đang mơ về
những con sư tử.
---
Dịch
theo bản tiếng Anh “The Old Man and the Sea” Bantam Book 1965
➖➖➖
Phần tiếng Anh
The
Old Man and the Sea (6)
"You're
tired inside."
The
sharks did not hit him again until just before sunset.
The
old man saw the brown fins coming along the wide trail the fish must make in
the water. They were not even quartering on the scent. They were headed
straight for the skiff swimming side by side.
He
jammed the tiller, made the sheet fast and reached under the stern for the
club. It was an oar handle from a broken oar sawed off to about two and a half
feet in length. He could only use it effectively with one hand because of the
grip of the handle and he took good hold of it with his right hand, flexing his
hand on it, as he watched the sharks come. They were both galanos.
I
must let the first one get a good hold and hit him on the point of the nose or
straight across the top of the head, he thought.
The
two sharks closed together and as he saw the one nearest him open his jaws and
sink them into the silver side of the fish, he raised the club high and brought
it down heavy and slamming onto the top of the shark's broad head. He felt the
rubbery solidity as the club came down. But he felt the rigidity of bone too
and he struck the shark once more hard across the point of the nose as he slid
down from the fish.
The
other shark had been in and out and now came in again with his jaws wide. The
old man could see pieces of the meat of the fish spilling white from the corner
of his jaws as he bumped the fish and closed his jaws. He swung at him and hit
only the head and the shark looked at him and wrenched the meat loose. The old
man swung the club down on him again as he slipped away to swallow and hit only
the heavy solid rubberiness.
"Come
on, galano," the old man said. "Come in again."
The
shark came in a rush and the old man hit him as he shut his jaws. He hit him
solidly and from as high up as he could raise the club. This time he felt the
bone at the base of the brain and he hit him again in the same place while the
shark tore the meat loose sluggishly and slid down from the fish.
The
old man watched for him to come again but neither shark showed. Then he saw one
on the surface swimming in circles. He did not see the fin of the other.
I
could not expect to kill them, he thought. I could have in my time. But I have
hurt them both badly and neither one can feel very good. If I could have used a
bat with two hands I could have killed the first one surely. Even now, he
thought.
He
did not want to look at the fish. He knew that half of him had been destroyed.
The sun had gone down while he had been in the fight with the sharks.
"It
will be dark soon," he said. "Then I should see the glow of Havana.
If I am too far to the eastward I will see the lights of one of the new
beaches."
I
cannot be too far out now, he thought. I hope no one has been too worried.
There is only the boy to worry, of course. But I am sure he would have
confidence. Many of the older fishermen will worry. Many others too, he
thought. I live in a good town.
He
could not talk to the fish anymore because the fish had been ruined too badly.
Then something came into his head.
"Half
fish," he said. "Fish that you were. I am sorry that I went too far
out. I ruined us both. But we have killed many sharks, you and I, and ruined
many others. How many did you ever kill, old fish? You do not have that spear
on your head for nothing."
He
liked to think of the fish and what he could do to a shark if he were swimming
free. I should have chopped the bill off to fight them with, he thought. But
there was no hatchet and then there was no knife.
But
if I had, and could have lashed it to an oar butt, what a weapon. Then we might
have fought them together. What will you do now if they come in the night? What
can you do?
"Fight
them," he said. "I'll fight them until I die."
But
in the dark now and no glow showing and no lights and only the wind and the
steady pull of the sail he felt that perhaps he was already dead. He put his
two hands together and felt the palms. They were not dead and he could bring
the pain of life by simply opening and closing them. He leaned his back against
the stern and knew he was not dead. His shoulders told him.
I
have all those prayers I promised if I caught the fish, he thought. But I am
too tired to say them now. I better get the sack and put it over my shoulders.
He
lay in the stern and steered and watched for the glow to come in the sky. I
have half of him, he thought. Maybe I'll have the luck to bring the forward
half in. I should have some luck. No, he said. You violated your luck when you
went too far outside.
"Don't
be silly," he said aloud. "And keep awake and steer. You may have
much luck yet."
"I'd
like to buy some if there's any place they sell it," he said.
What
could I buy it with? he asked himself. Could I buy it with a lost harpoon and a
broken knife and two bad hands?
"You
might," he said. "You tried to buy it with eighty-four days at sea.
They nearly sold it to you too."
I
must not think nonsense, he thought. Luck is a thing that comes in many forms
and who can recognize her? I would take some though in any form and pay what
they asked. I wish I could see the glow from the lights, he thought. I wish too
many things. But that is the thing I wish for now. He tried to settle more
comfortably to steer and from his pain he knew he was not dead.
He
saw the reflected glare of the lights of the city at what must have been around
ten o'clock at night. They were only perceptible at first as the light is in
the sky before the moon rises. Then they were steady to see across the ocean
which was rough now with the increasing breeze. He steered inside of the glow
and he thought that now, soon, he must hit the edge of the stream.
Now
it is over, he thought. They will probably hit me again. But what can a man do
against them in the dark without a weapon?
He
was stiff and sore now and his wounds and all of the strained parts of his body
hurt with the cold of the night. I hope I do not have to fight again, he
thought. I hope so much I do not have to fight again.
But
by midnight he fought and this time he knew the fight was useless. They came in
a pack and he could only see the lines in the water that their fins made and
their phosphorescence as they threw themselves on the fish. He clubbed at heads
and heard the jaws chop and the shaking of the skiff as they took hold below.
He clubbed desperately at what he could only feel and hear and he felt
something seize the club and it was gone.
He
jerked the tiller free from the rudder and beat and chopped with it, holding it
in both hands and driving it down again and again. But they were up to the bow
now and driving in one after the other and together, tearing off the pieces of
meat that showed glowing below the sea as they turned to come once more.
One
came, finally, against the head itself and he knew that it was over. He swung
the tiller across the shark's head where the jaws were caught in the heaviness
of the fish's head which would not tear. He swung it once and twice and again.
He heard the tiller break and he lunged at the shark with the splintered butt.
He felt it go in and knowing it was sharp he drove it in again. The shark let
go and rolled away. That was the last shark of the pack that came. There was
nothing more for them to eat.
The
old man could hardly breathe now and he felt a strange taste in his mouth. It
was coppery and sweet and he was afraid of it for a moment. But there was not
much of it.
He
spat into the ocean and said, "Eat that, Galanos. And make a dream you've
killed a man."
He
knew he was beaten now finally and without remedy and he went back to the stern
and found the jagged end of the tiller would fit in the slot of the rudder well
enough for him to steer. He settled the sack around his shoulders and put the
skiff on her course. He sailed lightly now and he had no thoughts nor any
feelings of any kind. He was past everything now and he sailed the skiff to
make his home port as well and as intelligently as he could. In the night
sharks hit the carcass as someone might pick up crumbs from the table. The old
man paid no attention to them and did not pay any attention to anything except
steering. He only noticed how lightly and how well the skiff sailed now there
was no great weight beside her.
She's
good, he thought. She is sound and not harmed in any way except for the tiller.
That is easily replaced.
He
could feel he was inside the current now and he could see the lights of the
beach colonies along the shore. He knew where he was now and it was nothing to
get home.
The
wind is our friend, anyway, he thought. Then he added, sometimes. And the great
sea with our friends and our enemies. And bed, he thought. Bed is my friend.
Just bed, he thought. Bed will be a great thing. It is easy when you are
beaten, he thought. I never knew how easy it was. And what beat you, he
thought.
"Nothing,"
he said aloud. "I went out too far."
When
he sailed into the little harbour the lights of the Terrace were out and he
knew everyone was in bed. The breeze had risen steadily and was blowing
strongly now. It was quiet in the harbour though and he sailed up onto the
little patch of shingle below the rocks. There was no one to help him so he
pulled the boat up as far as he could. Then he stepped out and made her fast to
a rock.
He
unstepped the mast and furled the sail and tied it. Then he shouldered the mast
and started to climb. It was then he knew the depth of his tiredness. He
stopped for a moment and looked back and saw in the reflection from the street
light the great tail of the fish standing up well behind the skiff's stern. He
saw the white naked line of his backbone and the dark mass of the head with the
projecting bill and all the nakedness between.
He
started to climb again and at the top he fell and lay for some time with the
mast across his shoulder. He tried to get up. But it was too difficult and he
sat there with the mast on his shoulder and looked at the road. A cat passed on
the far side going about its business and the old man watched it. Then he just
watched the road.
Finally
he put the mast down and stood up. He picked the mast up and put it on his
shoulder and started up the road. He had to sit down five times before he
reached his shack.
Inside
the shack he leaned the mast against the wall. In the dark he found a water
bottle and took a drink. Then he lay down on the bed. He pulled the blanket
over his shoulders and then over his back and legs and he slept face down on
the newspapers with his arms out straight and the palms of his hands up.
He
was asleep when the boy looked in the door in the morning. It was blowing so
hard that the drifting-boats would not be going out and the boy had slept late
and then come to the old man's shack as he had come each morning. The boy saw
that the old man was breathing and then he saw the old man's hands and he
started to cry. He went out very quietly to go to bring some coffee and all the
way down the road he was crying.
Many
fishermen were around the skiff looking at what was lashed beside it and one
was in the water, his trousers rolled up, measuring the skeleton with a length
of line.
The
boy did not go down. He had been there before and one of the fishermen was
looking after the skiff for him.
"How
is he?" one of the fishermen shouted.
"Sleeping,"
the boy called. He did not care that they saw him crying. "Let no one
disturb him."
"He
was eighteen feet from nose to tail," the fisherman who was measuring him
called.
"I
believe it," the boy said.
He
went into the Terrace and asked for a can of coffee.
"Hot
and with plenty of milk and sugar in it."
"Anything
more?"
"No.
Afterwards I will see what he can eat."
"What
a fish it was," the proprietor said. "There has never been such a
fish. Those were two fine fish you took yesterday too."
"Damn
my fish," the boy said and he started to cry again.
"Do
you want a drink of any kind?" the proprietor asked.
"No,"
the boy said. "Tell them not to bother Santiago. I'll be back."
"Tell
him how sorry I am."
"Thanks,"
the boy said.
The
boy carried the hot can of coffee up to the old man's shack and sat by him
until he woke. Once it looked as though he were waking. But he had gone back
into heavy sleep and the boy had gone across the road to borrow some wood to
heat the coffee.
Finally
the old man woke.
"Don't
sit up," the boy said. "Drink this." He poured some of the
coffee in a glass.
The
old man took it and drank it.
"They
beat me, Manolin," he said. "They truly beat me."
"He
didn't beat you. Not the fish."
"No.
Truly. It was afterwards."
"Pedrico
is looking after the skiff and the gear. What do you want done with the
head?"
"Let
Pedrico chop it up to use in fish traps."
"And
the spear?"
"You
keep it if you want it."
"I
want it," the boy said. "Now we must make our plans about the other
things."
"Did
they search for me?"
"Of
course. With coast guard and with planes."
"The
ocean is very big and a skiff is small and hard to see," the old man said.
He noticed how pleasant it was to have someone to talk to instead of speaking
only to himself and to the sea. "I missed you," he said. "What
did you catch?"
"One
the first day. One the second and two the third."
"Very
good."
"Now
we fish together again."
"No.
I am not lucky. I am not lucky anymore."
"The
hell with luck," the boy said. "I'll bring the luck with me."
"What
will your family say?"
"I
do not care. I caught two yesterday. But we will fish together now for I still
have much to learn."
"We
must get a good killing lance and always have it on board. You can make the
blade from a spring leaf from an old Ford. We can grind it in Guanabacoa. It
should be sharp and not tempered so it will break. My knife broke."
"I'll
get another knife and have the spring ground. How many days of heavy brisa have
we?"
"Maybe
three. Maybe more."
"I
will have everything in order," the boy said. "You get your hands
well old man."
"I
know how to care for them. In the night I spat something strange and felt
something in my chest was broken."
"Get
that well too," the boy said. "Lie down, old man, and I will bring
you your clean shirt. And something to eat."
"Bring
any of the papers of the time that I was gone," the old man said.
"You
must get well fast for there is much that I can learn and you can teach me
everything. How much did you suffer?"
"Plenty,"
the old man said.
"I'll
bring the food and the papers," the boy said. "Rest well, old man. I
will bring stuff from the drug-store for your hands."
"Don't
forget to tell Pedrico the head is his."
"No.
I will remember."
As
the boy went out the door and down the worn coral rock road he was crying
again.
That
afternoon there was a party of tourists at the Terrace and looking down in the
water among the empty beer cans and dead barracudas a woman saw a great long
white spine with a huge tail at the end that lifted and swung with the tide
while the east wind blew a heavy steady sea outside the entrance to the
harbour.
"What's
that?" she asked a waiter and pointed to the long backbone of the great
fish that was now just garbage waiting to go out with the tide.
"Tiburon,"
the waiter said, "Eshark." He was meaning to explain what had
happened.
"I
didn't know sharks had such handsome, beautifully formed tails."
"I
didn't either," her male companion said.
Up
the road, in his shack, the old man was sleeping again. He was still sleeping
on his face and the boy was sitting by him watching him. The old man was
dreaming about the lions.
➖➖➖