2023-07-29

Lĩnh Nam chích quái (13, 14, 15, 16) - Trần Thế Pháp

2023-07-29

Lĩnh Nam chích quái (13, 14, 15, 16)
A person and person holding hands

Description automatically generated with medium confidence

Minh họa của Tạ Huy Long

---

Trần Thế Pháp (sáng tác ~ 1370-1400)

Vũ Quỳnh hiệu đính (1492)

Bản dịch của GS. Lê Hữu Mục (1960)

► XIII. Truyện Kim Quy

► XIV. Truyện Man nương

► XV. Truyện núi Tản Viên

► XVI. Truyện hai vị thần Long Nhãn và Như Nguyệt

XIII

Truyện Kim Quy

An Dương Vương nước Âu Lạc là người ở Ba Thục, họ Thục, tên Phán, nhân việc tiên tổ cầu hôn với con gái của Hùng Vương tên là Mỵ Nương không được nên sinh ra hàm oán; Phán muốn hoàn thành ý chí của tổ tiên nên cử binh đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang, cải hiệu là Âu Lạc mà ở, đắp thành ở đất Việt Thường; thành đắp xong lại sập, Vương mới lập đàn, trai giới cầu đảo ba tháng.

Ngày mồng bảy tháng Ba bỗng thấy một ông già theo phương tây mà đến thẳng cửa thành, vừa đi vừa than rằng:

– Xây đắp thành này thì bao giờ cho xong!

Vương rước vào trên điện, lạy và khóc rằng:

– Ta đắp thành này đã xong lại đổ, hao tốn công sức mà rồi không thành là tại làm sao?

Ông già thưa:

– Ngày nào có Sứ giả Thanh Giang cùng đắp với Vương thì thành ấy mới xong.

Nói đoạn cáo từ.

Rạng ngày, Vương đứng ở cửa Đông trông ra thì thấy một con rùa vàng theo hướng Đông mà bơi lại; rùa đứng trên mặt nước, nói được tiếng người, tự xưng là Thanh Giang sứ giả, biết rõ lẽ trời đất, âm dương, quỷ thần.

Vương mừng hỏi rằng:

– Điều đó ông già đã báo cho ta rồi.

Bèn sai lấy kim dư rước vào trong thành, mời ngồi trên điện, hỏi vì cớ gì mà thành không đắp được. Kim Qui nói:

– Ở đây có tinh khí núi sông, con Tiên vương phụ vào để báo thù nước, lại có con gà trắng sống ngàn năm hóa làm yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu, trên núi có con quỷ, nguyên trước có một nhạc công chôn cất ở đấy hóa ra quỷ. Ở bên có một cái quán để cho hành khách qua lại ngủ nhờ; chủ quán tên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng là dư khí của quỷ thần. Hễ có người khách nào qua lại đến đấy ngủ nhờ thì quỷ tinh hóa ra thiên hình vạn trạng mà giết hại rất nhiều. Bây giờ nên bắt con gà trắng và đứa con gái của chủ quán mà giết đi thì tinh quái sẽ hết. Nhưng chắc là nó lại hóa ra yêu thư, sai chim Si Hưu [1] ngậm thư bay lên trên cây chiên đàn, tâu với Thượng đế để xin phá thành ấy đi. Thần này xin cắn cho rơi cái thư ấy xuống, Vương lập tức thu lấy tất nhiên thành đắp mới xong.

Kim Qui bảo Vương giả làm khách đi đường xin ngủ nhờ trong quán. Vương để Kim Qui ở trên ngưỡng cửa.

Ngộ Không nói:

– Quán này có yêu tinh, đêm thường giết người, Lang Quân không nên ở lại, vả nay trời cũng chưa tối, nên đi mau đến chỗ khác để tránh họa.

Vương cười rằng:

– Sinh tử tại mệnh, quỷ mỵ mà làm gì, ta không sợ.

Mới ngủ lại đó.

Trong đêm có quỷ tinh đến ngoài kêu rằng:

– Ai ở trong nhà này phải mở cửa ra mau.

Kim Qui mắng rằng:

– Cửa đóng thì mày làm gì nào?

Quỷ tinh phóng hỏa tan ra vạn trạng, quỷ dị đủ phương để khủng bố nhưng rốt cuộc cũng chẳng vào được nhà.

Đến lúc gà gáy, các quỷ đều chạy tan. Kim Qui khiến Vương đuổi theo đến núi Thất Diệu, quỷ tinh thu về hết cả, Vương trở lại quán trọ.

Sáng ngày, chủ quán đem người đồng đến để chôn thi thể của khách ngủ lại hôm qua, thấy Vương ngồi đó, nói cười như không có gì cả. Quán chủ bước đến, vái lạy nói rằng:

– Lang quân được như thế tức là Thánh nhân rồi, xin ban linh thuật để cứu sinh linh.

Vương bảo:

– Hãy giết con gà trắng của mày mà tế thì quỷ thần tan hết.

Ngộ Không giết con gà trắng thì đứa con gái tự nhiên cũng nhào xuống chết. Vương lập tức bảo người đào núi Thất Diệu, được một nhạc khí đời cổ và một hài cốt, sai đốt trộn thành tro mà quăng ra sông.

Lúc bấy giờ trời đã gần chiều, Vương cùng Kim Qui leo lên núi Việt Thường, quỷ tinh đã hóa ra chim Si Hưu ngậm thư bay lên cây chiên đàn.

Kim Qui bèn hóa ra một con chuột mà bò theo sau lưng cắn chân chim; thư rơi xuống đất; Vương lập tức thu lấy thì sâu đã ăn hết hơn một nửa rồi.

Từ đó, quỷ tinh tan hết, không lại phá phách như xưa nữa.

An Dương Vương đắp thành nửa tháng đã xong; thành dài và rộng nghìn trượng, xoáy tròn như hình con ốc, lại đặt tên là thành Thăng Long [2]. Người nhà Đường gọi là thành Sát Quỷ Côn Lôn bởi vì thành rất cao lớn.

Kim Qui ở lại với Vương ba năm rồi từ về; Vương bảo rằng:

– Nhờ ơn của người, thành đã vững chắc, nếu như có việc ngoài thì lấy gì mà chống giữ?

Kim Qui thưa:

– Quốc tộ tu đoản, xã tắc an nguy là vận của trời, nhưng người biết tu đức thì có thể lâu dài được, Vương đã có lòng ước nguyện thì tôi đâu dám tiếc.

Mới cởi cái móng chân đưa cho Vương và nói:

– Thảng hoặc giặc có đến thì dùng móng này làm máy nỏ, đem ra mà đánh giặc thì không có gì đáng lo.

Nói đoạn trở về Đông Hải.

Vương khiến bầy tôi là Cao Lỗ làm nỏ, lấy móng làm máy, hiệu là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ; sau Triệu Đà đem quân đến xâm lăng, cùng Vương giao chiến; Vương dùng thần nỏ mà bắn, quân Triệu Đà thua chạy, đóng đồn ở núi Trâu Sơn, đối lũy với Vương. Triệu Đà biết Vương có nỏ thần nên không dám tái chiến mới khiển sứ thỉnh hòa. Vương mừng, cắt từ sông Tiền giang trở về phương Bắc cho Triệu Đà cai trị, trở về phương Nam thì do Vương cai trị (nay là sông Nguyệt Đức) [3].

Chưa được bao lâu, Đà sai con vào túc vệ cầu hôn con gái Vương là Mỵ Châu; Vương bất ý không ngờ gian kế của cha con Triệu Đà; Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu trộm lấy nỏ thần cho xem, rồi lén làm nỏ khác đổi lấy vuốt rùa giấu đi, nói dối với Mỵ Châu là trở về thăm cha mẹ. Nhân đó nói rằng:

– Tình phu phụ thì không nỡ quên, mà ơn phụ tử cũng không nên bỏ, ta nay về thăm cha mẹ mà vạn nhất hai nước thất hòa, Nam Bắc cách biệt, ta trở lại tìm nàng thì nàng lấy vật gì mà làm dấu cho ta biết.

Mỵ Châu nói:

– Thiếp là nhi nữ gặp phải bước phân ly thực khó thắng được tình cảm; thiếp có chiếc nệm [4] gấm lông ngỗng thường mang trên người, đến lúc ấy thì thiếp lấy lông ngỗng mà rải ở các ngã ba để chỉ cho chàng biết chỗ thiếp đi mà đến cứu.

Trọng Thủy từ tạ, cắp nỏ mà về báo cáo với Triệu Đà; Đà được nỏ rất mừng liền phát binh đánh Vương; Vương không lo phòng bị, mãi đánh cờ vây, cười rằng:

– Đà không sợ nỏ thần của ta sao?

Đến lúc quân Triệu Đà tiến bức, Vương mới xách nỏ ra bắn thì thần cơ đã mất; quân chạy tán loạn.

Vương chở Mỵ Châu lên ngựa chạy về hướng Nam, đến bờ biển, cùng đường, không có thuyền để sang ngang, Vương hét lớn lên rằng:

– Trời để mất ta hay sao? Giang sứ đâu mau đến cứu ta.

Kim Qui nổi lên trên mặt nước, mắng rằng:

– Người cỡi ngựa ở sau lưng là giặc đó, hãy giết nó ta mới cứu.

Vương bèn tuốt gươm chém Mỵ Châu.

Mỵ Châu ngửa mặt lên trời mà cầu xin:

– Thiếp là con gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại đến phụ thân thời chết hóa thành bụi trần, bằng như một niềm trung tín, bị người phỉnh phờ thời hóa làm ngọc châu để rửa cái thù nhục nhã này.

Mỵ Châu chết ở bờ biển, máu chảy trên nước, hàu hến ăn vào lòng hóa thành minh châu.

Vương cầm sừng vân tê bảy tấc, Kim Qui rẽ nước dẫn Vương vào biển, đời truyền tại núi Mộ Dạ, làng Cao Xá, châu Diễn tức là chỗ đó vậy.

Quân Triệu Đà đến chỗ ấy không thấy gì hết, chỉ thấy tử thi của Mỵ Châu; Trọng Thủy ôm thây nàng mà về chôn ở Loa Thành, hóa làm giếng ngọc; Trọng Thủy thương cảm vô cùng, thấy lại những chỗ trang điểm hay tắm gội của Mỵ Châu, tưởng nhớ đến hình dung của nàng bèn nhảy xuống giếng mà chết. Sau này, ai được ngọc châu ở Đông Hải, càng múc nước giếng ấy mà rửa thì sắc ngọc càng thêm rực rỡ. Nhân tránh tên Mỵ Châu nên gọi ngọc châu là Đại Cưu, Tiểu Cưu vậy.

---

[1]      Chim cú.

[2]      Chắc sai: bản của Deepierres ghi là Tư Long.

[3]      Theo bản của Despierres thì là sông Thiên Đức (xem Cổ Loa, Capitale du royaume Âu Lạc).

[4]      Dịch chữ nhục 溽. Có người dịch là áo choàng e không đúng. Nhưng thực ra nệm gấm mà thường mang trên người thì cũng là một thứ áo choàng.

➖➖➖

 


 

XIV

Truyện Man nương

Thời Hiến Đế nhà Hán, quan Thái thú tên là Sĩ Nhiếp đắp thành ở phía Nam sông Bình giang (nay là thành phía Nam sông Thiên Đức). Ở phương Nam có một ngôi chùa gọi là chùa Phúc Nham, có một nhà sư từ phương Tây đến, hiệu là Già La Đồ Lê, trụ trì ở chùa ấy, hay làm phép đứng một chân; trai gái, già trẻ tín mộ, kính phụng tôn hiệu làm Tôn sư, ai nấy đều cầu học đạo Phật.

Lúc bấy giờ có một người con gái tên là Man nương, cha mẹ đều đã mất, nhà nghèo khổ nhưng cũng dốc lòng cầu đạo, chỉ vì nói ngọng, khó tụng kinh chung với mọi người nên thường ở sau bếp giã gạo nhặt rau, lo việc nấu thổi đồ cung dưỡng các sư trong chùa và học giả bốn phương đến học đạo.

Khoảng trời tháng năm, đêm lại ngắn ngủi, Man nương vội vã lo thổi nấu cho xong. Nàng nấu đã xong xuôi, nhưng các sư còn tụng kinh chưa nghỉ để ăn cháo; Man nương ngồi chờ, ngủ gật ở ngạch cửa không ngờ quên lửng nằm ngủ say. Đến khi tăng đồ tụng niệm xong, ai về phòng nấy thì Man nương còn nằm ở cửa; nhà sư Đồ Lê bước ngang trên mình nàng, Man nương hỗn nhiên tâm động, từ đó thụ thai. Trong khoảng được ba bốn tháng, Man nương lấy làm xấu hổ bỏ đi, nhà sư Đồ Lê cũng tránh đi đến chùa ngã ba đầu sông mà ở.

Mãn nguyệt, Man nương sinh được một đứa con gái và tìm nhà sư để giao lại. Đêm khuya, nhà sư Đồ Lê đến dưới cây đa ở ngã ba đầu sông mà đặt đứa con gái và nói:

– Ta gửi Phật tử này cho mày, mày giữ lấy, sau được thành Phật đạo.

Sư Đồ Lê và Man nương từ biệt nhau mà đi, Đồ Lê cho nàng một chiếc gậy và bảo rằng:

– Ta cho em cái gậy này đem về, hễ gặp năm nào trời đại hạn thì lấy gậy vẩy vẩy dưới đất tự nhiên có nước chảy ra để cứu người ta.

Man nương cầm gậy trở về, lại ở chùa như trước; gặp năm trời hạn, nàng lấy gậy vẩy trên đất, tự nhiên có nước suối chảy ra ào ào, dân chúng được nhờ vả rất nhiều.

Khi Man nương đã hơn tám mươi tuổi thì bất đồ cây đa bị lật đổ trôi đến trước bến chùa, quanh quẩn ở đó không trôi đi; người ở đó đua nhau bửa củi thì búa rìu đều bị gãy mẻ hết; làng xóm rủ nhau ba trăm người đến kéo cũng không chuyển động. Gặp khi Man nương xuống bến rửa tay, nàng khẽ lấy tay kéo thử, cây lập tức chuyển động trôi vào, ai nấy kinh dị, vội bảo Man nương kéo thẳng lên bờ, khiến thợ mộc trổ làm bốn pho tượng Phật; kịp lúc đẽo đến giữa cây, chỗ giấu người con gái thì chỗ ấy đã hóa thành một phiến đá rất cứng; người thợ đẽo đúng vào chỗ đó thì rìu búa mẻ hết, mới lấy phiến đá ném xuống giữa sông; phiến đá phóng xuất hỏa quang, giờ lâu mới chìm xuống nước; các người thợ đều chết hết. Mọi người đều xin nhờ Man nương van vái mướn người kẻ chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào điện Phật, lấy vàng tô lên mà phụng thờ.

Sư Đồ Lê mới đặt tên cho bốn pho tượng Phật là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, và Pháp Điện. Già trẻ trai gái bốn phương thường nhóm họp ở chùa này chơi đùa ca múa, gọi là hội tắm Phật, đến nay đang còn vậy.

➖➖➖

 


 

XV

Truyện núi Tản Viên

Núi Tản Viên ở phía tây Kinh thành nước Nam Việt, núi đứng cao thẳng như hình một cái lọng nên đặt tên như vậy.

Xưa kia vua Lạc Long cưới nàng Âu Cơ, sinh được một bọc trăm trứng, Long quân đem năm mươi trai về biển, năm mươi trai theo mẹ về núi, phân trị thiên hạ, hiệu là Hùng Vương; Tản Viên Sơn Đại Vương là một người con trong số năm mươi trai chia về đó. Vương tử hải quốc do cửa biển Thần Phù mà về, tìm một nơi cao ráo thanh u, dân tục thuần hậu mà ở, mới chèo thuyền từ sông Cái đến làng Long Đậu thành Long Biên, toan muốn lưu lại đó nhưng còn có ý gì bất mãn, nên sau lại chèo thuyền từ sông Linh giang đi lên đến làng Phiên Tân ở bờ sông Phúc Lộc; Vương trông thấy núi Tản Viên tú lệ, ba hòn sắp hàng đứng, nghiễm nhiên như vẽ; dân ở dưới núi, tục chuộng tố phác. Vương khi ấy mở một con đường thẳng như dây đàn từ làng Phiên Tân mà đến bên núi Tản Viên, đi đến Uyên động, lại đi đến Nham tuyền là chỗ nguồn khác, rồi lại đi lên núi Thạch Bàn đầu non Vân Mộng mà ở; hoặc có khi chơi sông Chiết Giang để xem cá, phàm kinh qua đường thôn đều xây đền vũ để làm nơi nghỉ ngơi. Nhân những vết chân ấy, người đời sau lập đền thờ phụng, hạn thì đảo, lụt thì cầu, ngự hỏa tai, ngăn đại hạn mau hơn tiếng vang, cực kỳ linh ứng. Lại gặp ngày trời trong sáng như có hình trạng cái tàn phấp phới trên hang núi, những dân ở làng phụ cận đều bảo là sơn thần xuất hiện.

Cao Biền nhà Đường ở An Nam muốn yểm linh tích các nơi danh thắng mới mổ bụng mười bảy người, tất cả đều là con gái chưa chồng, bỏ ruột đi, lấy cỏ chỉ độn vào ruột, cho mặc áo xiêm để ngồi trên ghế ỷ, dùng trâu bò mà tế, nhòm lúc nào thấy cử động thời lấy gươm chém đi. Các vị thần phàm ngu đều dùng thuật ấy. Cao Biền thường lấy thuật ấy trêu thần núi Tản Viên thì thấy Vương cỡi ngựa trắng đứng trên mây, khạc nhổ mà đi. Cao Biền than rằng:

– Linh khí Nam phương chưa thể trắc lượng được, vượng khí đâu khá diệt được, uy linh hiển ứng là như thế.

Tục truyền Vương và Thủy Tinh cùng cưới con gái Hùng Vương là Mỵ Nương: Vương đủ lễ cưới đem đến trước; Hùng Vương gả cho; Vương rước vợ về ở trên núi Tản Viên. Thủy Tinh đến sau mới hàm oán, đem cả loài thủy tộc đánh Vương để đoạt Mỵ Nương lại. Vương bèn dùng lưới sắt chắn ngang sông Từ Liêm để trấn át. Thủy Tinh khơi riêng một con sông nhỏ từ sông Lý Nhân ra sông Hát vào sông Đà để đánh sau lưng núi Tản viên. Lại mở thêm một lối nhỏ từ Tích giang đi đến trước núi Tản Viên, trải qua các làng Cam Giá, Đông Lâu, Thạch Kê, Ma Xá, Dục Giang, xói lở thành vũng sâu để thông loài thủy tộc, thường lại nổi cơn gió mưa mù mịt, dâng nước lên để đánh Vương. Nhân dân ở núi đều chẻ tre đan làm rào thưa để che đỡ, đánh trống, giã gạo, reo hò để cứu, mỗi khi thấy rác rêu trôi ở ngoài rào thưa thì bắn trúng chết hết hiện thành hình trạng giao long, cá trạch trôi đầy sông ngòi. Quần chúng thủy tộc bị thua trở về, lòng vẫn chưa nguôi nên thường đến khoảng tháng Tám, tháng Chín có nhiều trận lụt, mùa màng bị hại, dân ở dưới núi chịu thiệt hơn đâu hết, đến nay vẫn còn.

Người đời đều bảo Thủy Tinh, Sơn Tinh đều cưới vợ vậy đó.

➖➖➖

 


 

XVI

Truyện hai vị thần Long Nhãn và Như Nguyệt

Năm Thiên Phúc của Lê Đại Hành hoàng đế tức là năm Tân Tỵ, vua Thái Tông nhà Tống sai tướng quân Hầu Nhân Bửu, Tôn Hoàng Hưng đem binh Nam xâm; họ đến sông Đại Than thì vua Đại Hành cùng với tướng quân Phạm Cự Lượng dàn quân ở Đồ Lỗ để chống cự, đối lũy cùng giữ.

Vua Đại Hành mộng thấy hai vị thần đến lạy ở trên sông và thưa rằng:

– Anh em thần tên là Trương Hống và Trương Hát nguyên trước thờ vua Triệu Việt Vương, thường theo vua đánh dẹp nghịch tặc lấy được thiên hạ. Sau vua Lý Nam Đế cướp ngôi, nghe tiếng anh em thần mới bảo người đến vời, bọn thần vì nghĩa không thể đến nên cùng nhau uống thuốc độc tự tử. Thượng đế thương người có công, khen là trung nghĩa nhất tiết, cho làm chức Quỷ Bộ Tướng quân thống lĩnh quỷ binh. Bây giờ thấy binh Tống vào cõi mà làm khổ cho sinh linh nước kia nên anh em thần đến đây ra mắt với Hoàng đế, nguyện giúp ngài đánh giặc để cứu sinh linh.

Vua Đại Hành giật mình tỉnh dậy, bảo thị thần rằng:

– Ấy là thần nhân giúp ta.

Lập tức đến trước ngự thuyền đốt hương vái rằng:

– Thần lực nếu có thể giúp cho công nghiệp này hoàn thành thì được ban phong huyết thực, vạn đại vô cương.

Bèn giết trâu bò cúng tế và cho áo mão, giấy tiền, voi ngựa đốt đi. Đêm ấy, lại mộng thấy hai vị thần đều mặc áo mão đã ban cho hôm trước đến lạy tạ ơn. Đêm sau lại thấy một vị thần thống lĩnh quỷ bộ áo trắng từ phía nam sông Bình giang đi lại, một vị thần thống lĩnh quỷ bộ áo đỏ do sông Như Nguyệt mà xuống, cả hai đều đến đánh doanh giặc.

Ngày hai mươi mốt tháng Mười, đêm đương canh ba, thiên khí hôn ám, gió to mưa lớn cả dậy; binh Tống kinh sợ thấy thần lờ mờ đứng ở trên không, cao giọng ngâm rằng:

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư.

Phân minh định phận tại Thiên thư.

Có sao nghịch lỗ sang xâm phạm.

Bọn chúng chờ xem phải bại hư.

Binh Tống nghe vậy, xô đạp nhau chạy tán loạn, bị bắt sống không xiết kể. Quân nhà Tống đại bại trở về. Vua Đại Hành lui quân, dâng lễ mừng thắng trận, bao phong hai vị thần: Ông anh là Uy Địch Đại Vương, lập đền thờ ở ngã ba sông Long Nhãn, bảo dân Long Nhãn Bình giang phụng tự; Ông em là Khước Địch Đại Vương, lập đền thờ ở sông Như Nguyệt, bảo dân duyên giang [1] phụng tự, đến nay vẫn còn vậy.

---

[1] Ở men sông.

 

➖➖➖

 

 

2023-07-22

Ẩm thực Bỉ - Lê Văn Lợi tổng hợp từ Wikipedia và Internet

2023-07-22

 

Ẩm thực Bỉ
an icon for Belgian cuisine

 

---

Lê Văn Lợi tổng hợp từ Wikipedia và Internet


 

Lời tựa:

Nhân kỷ niệm 192 năm ngày Quốc khánh Vương quốc Bỉ (21/07/1831 – 21/07/2023) - ngày Đức vua Leopold Đệ nhất, vị quốc vương đầu tiên lên ngôi – “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” trân trọng gửi đến nhân dân Bỉ, các thành viên BelUnion cùng gia đình, bạn bè thân hữu những lời chúc tốt đẹp nhất, sức khỏe, hạnh phúc và an lành!

Two bottles of champagne next to glasses of champagne

Description automatically generated

2023-07-21 BelUnion sketch with champagne and firework

-

Nhân dịp này, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” biên soạn và trân trọng giới thiệu đến anh/chị chủ đề “Ẩm thực Bỉ” (Belgian cuisine) lấy từ nguồn Wikipedia. Bản Wikipedia gốc là tiếng Anh, có bản dịch ra tiếng Việt và tiếng Pháp (cùng nhiều ngôn ngữ khác). Bản tiếng Pháp bị lược bỏ một số phần, theo tôi là có định kiến (biased) nên tôi không sử dụng bản này. Bản tiếng Việt sử dụng dịch máy nên có nhiều lỗi chính tả và ngữ pháp. Tôi chọn dùng phần mềm Google Translate để dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt, có điều chỉnh một số chỗ.

---

Ẩm thực Bỉ

Ẩm thực Bỉ rất đa dạng với các biến thể theo từng vùng, đồng thời cũng phản ánh ẩm thực của các nước láng giềng Pháp, Đức và Hà Lan. Đôi khi người ta nói rằng đồ ăn Bỉ được phục vụ theo số lượng của đồ ăn Đức (ý nói là nhiều) nhưng với chất lượng của đồ ăn Pháp (ý nói chất lượng hảo hạng). Ở nước ngoài, Bỉ nổi tiếng với sô cô la, bánh quế (waffles), khoai tây chiên (fries) và bia.

Mặc dù Bỉ có nhiều món ăn đặc trưng quốc gia của mình, nhưng nhiều món ăn phổ biến quốc tế như bánh mì kẹp thịt và mỳ Ý bolognese cũng phổ biến ở Bỉ, và hầu hết những gì người Bỉ ăn cũng được ăn ở các nước láng giềng. Do đó, "Ẩm thực Bỉ" ở đây là nói đến các món ăn có nguồn gốc từ Bỉ, hoặc những món ăn được coi là điển hình của Bỉ.

Ẩm thực Bỉ theo truyền thống coi trọng các nguyên liệu theo vùng và theo mùa. Các thành phần đặc trưng trong các món ăn của Bỉ bao gồm khoai tây, tỏi tây, tôm xám, măng tây trắng, bia Bỉ và bia địa phương, bên cạnh các món ăn phổ biến của châu Âu bao gồm thịt, pho mát và bơ. Người Bỉ thường ăn bốn bữa một ngày, với bữa sáng ăn nhẹ, bữa trưa ăn vừa phải, bữa ăn “dặm” (snack) giữa chiều và bữa tối thịnh soạn.

Bỉ có rất nhiều món ăn và đặc sản địa phương. Ví dụ, món waterzooi từ Ghent (món hầm từ cá hoặc gà), bánh Couque de Dinant (bánh quy cứng) từ thị trấn Dinant và tarte au riz (bánh gạo) từ Verviers. Mặc dù nguồn gốc địa phương của chúng được thừa nhận, nhưng hầu hết các món ăn như vậy đều được thưởng thức trên khắp nước Bỉ.

-

Món ăn đặc trưng

Món khai vị

🍲 Tartines (tiếng Pháp)/Boterhammen (tiếng Hà Lan): những lát bánh mì mộc mạc và một lớp phết không đậy nắp, thường là pa-tê hoặc pho mát mềm, được phục vụ trên thớt. Các loại phết điển hình bao gồm Americain, pa-tê và saucisson.

A plate of food on a table

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f4/Norwegian.open.sandwich-01.jpg

-

🍲 Jambon d'Ardenne (tiếng Pháp)/Ardeense (tiếng Hà Lan): đặc biệt là giăm bông hun khói và pa-tê, thường được làm từ thịt thú rừng chẳng hạn như lợn rừng. Vùng Ardennes có rừng ở phía nam nước Bỉ nổi tiếng với loại thực phẩm này.

undefined 

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/51/Couronne_d-office_et_salaisons.jpg/800px-Couronne_d-office_et_salaisons.jpg  

-

🍲 Salade Liégeoise (tiếng Pháp): một món salad với đậu xanh, thịt xông khói, hành tây và giấm (gốc từ thành phố Liège).

Salade Liegeoise

https://belgianfoodie.com/wp-content/uploads/2016/02/Salade-Liegeoise-100815-fin-min-e1466501996239-325x430.jpg

-

🍲 Croquettes aux crevettes (tiếng Pháp)/Garnaalkroketten (tiếng Hà Lan): một món ăn truyền thống của Bỉ, loại bánh croquettes này có nhân bechamel dày và kem trộn với tôm xám. Thường được phục vụ với một lát chanh và rau mùi tây chiên.

 

http://www.ca-drache.fr/wp-content/uploads/2016/06/Croquette_crevette_grise.jpg

-

🍲 Tomate aux crevettes (tiếng Pháp)/Tomaat-garnaal (tiếng Hà Lan): một đặc sản ẩm thực của Bỉ, bao gồm một quả cà chua rỗng, nhồi với tôm xám đã bóc vỏ và trộn với sốt mayonnaise.

https://assets.afcdn.com/recipe/20190816/96391_w1280h972c1cx1168cy2080cxb2336cyb4160.webp

-

Món mặn

🍲 Moules-frites (tiếng Pháp)/Mosselen met friet (tiếng Hà Lan): hến nấu hoặc hấp với hành tây và cần tây ăn kèm với khoai tây chiên kiểu Bỉ. Công thức này thường được coi là món ăn quốc gia của đất nước nhưng cũng phổ biến ở vùng lân cận Bắc nước Pháp.

A close-up of a pot of mussels and french fries

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6f/Moules_Frites.jpg

-

🍲 Carbonade flamande (tiếng Pháp)/Vlaamse karbonaden/stoofvlees (tiếng Hà Lan): một món thịt bò hầm của Bỉ, tương tự như món bò bourguignon của Pháp, nhưng được làm bằng bia Bỉ thay vì rượu vang đỏ. Ăn kèm với bánh mì hoặc khoai tây chiên và mù tạt. Thường đi kèm với bia. Đây cũng được coi là một trong những món ăn quốc gia, cùng với moules-frites.

A plate of food with fries and salad

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/82/Jielbeaumadier_carbonade_flamande_2010.jpg

-

🍲 Steak-frites (tiếng Pháp)/Biefstuk met friet (tiếng Hà Lan): một món ăn rất phổ biến và được phục vụ trong các quán bia trên khắp châu Âu bao gồm bít tết kết hợp với khoai tây chiên.

A plate of food on a table

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9a/Reel_and_Brand_-_September_2021_-_Sarah_Stierch_05.jpg

-

🍲 Waterzooi (tiếng Hà Lan): món hầm và súp đậm đà gồm thịt gà hoặc cá, rau, kem và trứng, thường gắn liền với thành phố Ghent.

A plate of food on a table

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/5e/%28waterzooi%29_%2879743868%29.jpg

-

🍲 Chicons au gratin (tiếng Pháp)/Gegratineerd witloof (tiếng Hà Lan): Chicons au gratin là một món ăn quốc gia của Bỉ bao gồm cải ô rô Bỉ om (hay còn gọi là chicons) bọc trong những lát giăm bông nướng và phủ sốt Mornay cùng một ít pho mai bào. Nóng hổi với nước sốt kem phô mai, chicons au gratin là món ăn ngon tuyệt hảo. Các loại rau đắng của Bỉ trộn với giăm bông nướng ngọt ngào cũng tạo nên một sự kết hợp tuyệt vời.

https://belgianfoodie.com/wp-content/uploads/2016/02/Chicons-au-gratin-plate-min-e1466500338702-325x415.jpg

-

🍲 Kip met frieten en appelmoes (tiếng Hà Lan)/Poulet avec des frites et compote (tiếng Pháp): món ăn bao gồm thịt gà, khoai tây chiên và compote, rất phổ biến ở Bruc-xen và vùng lân cận.

Poulet rôti, frites et compote maison - Picture of Brasserie ...

https://media-cdn.tripadvisor.com/media/photo-m/1280/19/f5/4b/0b/poulet-roti-frites-et.jpg

-

🍲 Konijn in geuze (tiếng Hà Lan)/Lapin à la gueuze (tiếng Pháp): thỏ trong gueuze, là một loại bia Bỉ lên men tự phát từ khu vực trong và xung quanh Bruc-xen.

Lapin à la gueuze là một đặc sản của Bỉ bao gồm một con thỏ nguyên con nấu trong một loại bia rất chua gọi là gueuze. Thịt thỏ thường được ướp với tỏi, lá nguyệt quế và hành tây trước khi nấu trong bia. Vị chua của bia giúp làm mềm thịt và mang lại hương vị độc đáo. Món ăn thường được ăn kèm với khoai tây luộc và cà rốt. Lapin à la gueuze là một món ăn phổ biến ở Bỉ và thường được phục vụ vào những dịp đặc biệt như Năm mới và Giáng sinh. Đó là một cách tuyệt vời để gây ấn tượng với khách bằng một món ăn lạ nhưng ngon.

https://fac.img.pmdstatic.net/fit/http.3A.2F.2Fprd2-bone-image.2Es3-website-eu-west-1.2Eamazonaws.2Ecom.2Ffac.2F2018.2F07.2F30.2F1329529d-b82f-42cf-b265-14878934b25f.2Ejpeg/970x485/quality/80/crop-from/center/lapin-a-la-gueuze-et-aux-pruneaux.jpeg

-

🍲 Filet américain: thịt bò xay rất mịn ăn sống và lạnh, được phết lên bánh kẹp (sandwich) hoặc bánh mì, đôi khi được phủ một loại nước sốt, thường là nước sốt américaine, ăn kèm với khoai tây chiên. Nếu là bữa tối, món này được trộn với hành tây và nụ bạch hoa giống như bánh tartare bít tết, nhưng vẫn giữ nguyên tên américain.

A group of bread with red spread on it

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/97/Filet_americain_on_bread.jpg

-

🍲 Paling in 't groen (tiếng Hà Lan)/Anguilles au vert (tiếng Pháp): lươn trong nước sốt xanh trộn các loại thảo mộc (bao gồm rau cây thảo hoàng liên và rau mùi tây). Ăn kèm với bánh mì hoặc khoai tây chiên. Thường đi kèm với bia hoặc (đôi khi) rượu Alsace. Món này chủ yếu từ Vùng Flanders dọc theo sông Scheldt, giữa Dendermonde và Antwerp. Tên tiếng Hà Lan (nghĩa đen là 'Lươn xanh') dùng để chỉ lươn nước ngọt trong nước sốt thảo mộc xanh.

A bowl of soup with a lime wedge

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/ea/Paling_in_t_groen.jpg

-

🍲 Pêches au thon (tiếng Pháp) / Perziken met tonijn (tiếng Hà Lan): đào tươi hoặc đào hộp nhồi với cá ngừ và mayonnaise, còn gọi là sa lát cá ngừ.

Pêches au thon

https://img.static-rmg.be/a/food/image/q75/w640/h400/1094175/pe-ches-au-thon.jpg

-

🍲 Boudin (tiếng Pháp)/Pens (tiếng Hà Lan): một loại xúc xích trong đó thịt hoặc huyết được trộn với vụn bánh mì mịn thường được ăn với khoai tây và sốt táo, đôi khi được ăn sống hoặc nướng.

A close-up of a bunch of sausages

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/3f/Boudin3.jpg

-

🍲 Stoemp (tiếng Hà Lan): khoai tây nghiền với rau (thường là cà rốt hoặc bắp cải), đôi khi ăn kèm với xúc xích.

A plate of food on a plate

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/23/Cod_and_stoemp.jpg

-

🍲 Vol-au-vent (tiếng Pháp): một hộp bánh phồng rỗng nhỏ nhân thịt gà, nấm, thịt viên nhỏ nấu với nước sốt trắng và thường được ăn kèm với khoai tây chiên.

A plate of food on a table

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/de/Vol-au-vent_20_cm.jpg

-

🍲 Boulets à la Liégeoise (tiếng Pháp)/Luikse balletjes (tiếng Hà Lan): Viên thịt lợn băm và thịt bò chấm nước sốt chua ngọt gọi là sốt lapin, ăn kèm với khoai tây chiên. Như tên gọi của nó, món ăn này có nguồn gốc từ thành phố Liège ở vùng Wallonia.

A bowl of meatballs and a glass of wine

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/05/Boulets_%C3%A0_la_li%C3%A9geoise_1.jpg

-

🍲 Lokerse paardenworst (tiếng Hà Lan): xúc xích ngựa băm nhỏ với cà chua bóc vỏ, hành tây, cần tây, rau thơm, có nguồn gốc từ Lokeren. Như tên gọi của nó, món này có nguồn gốc từ thành phố Lokeren.

A bowl of food with sauce

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/8c/Lokerse_Paardenworsten.jpg

-

Món ngọt và tráng miệng

🍪 Gaufres (tiếng Pháp)/Wafels (tiếng Hà Lan): Bánh quế của Bỉ, đôi khi được ăn như một món ăn vặt đường phố và được bán bởi các xe bán kem. Trong số các phong cách được biết đến nhiều nhất là bánh quế Liège, bánh quế Bruc-xen và bánh stroopwafel (tiếng Hà Lan có nghĩa là ngựa vằn).

A plate of waffles and strawberries

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/5b/Waffles_with_Strawberries.jpg

-

🍪 Speculoos: một loại bánh quy quế vỏ ngắn, được nướng theo truyền thống vào hoặc ngay trước Ngày Thánh Nicholas (tiếng Hà Lan: Sinterklaas, tiếng Pháp: la Saint-Nicolas) vào ngày 6 tháng 12.

A package of cookies on a table

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/3a/Vermeiren_speculoos_02.jpg

-

🍪 Croustillons (tiếng Pháp)/Smoutebollen (tiếng Hà Lan): viên bột chiên giòn, ăn tại các khu hội chợ hoặc trong những dịp đặc biệt như hội chợ tháng Mười.

A plate of food on a table

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/87/Oliebollen.jpg

-

🍪 Rijstevlaai (tiếng Hà Lan)/Tarte au riz (tiếng Pháp): một loại bánh có nhân làm từ bánh gạo, có nguồn gốc từ vùng Verviers.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9c/Tarte_au_riz.jpg

-

🍪 Sirop de Liège (tiếng Pháp)/Luikse siroop (tiếng Hà Lan): mứt hoặc phết dạng thạch làm từ nước trái cây cô đặc.

A bowl of food with a knife on it

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/4e/Sirop_de_Li%C3%A8ge.jpg

-

🍪 Cuberdon: một loại kẹo màu tím hình nón làm bằng kẹo cao su arabic, có nguồn gốc từ thành phố Ghent.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/68/6_cuberdons.JPG

-

🍪 Lacquements: bánh wafer mỏng, làm từ lúa mì, cắt đôi theo chiều ngang, đổ đầy và phủ một lớp xi-rô kẹo đường có hương hoa cam. Thường được ăn trong hội chợ tháng 10 ở Liège và Sinksenfoor ở Antwerp.

A plate of waffles on a black and white plate

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/20/Laquemant.jpg

-

Frites: khoai tây chiên kiểu Bỉ

Frites (tiếng Pháp: khoai tây chiên lát mỏng), rất phổ biến ở Bỉ. Người ta cho rằng Frites có nguồn gốc từ Bỉ. Bằng chứng sớm nhất là từ cuốn sách Curiosités de la table dans les Pays-Bas-Belgiques được viết năm 1781. Cuốn sách này miêu tả cách người dân Namur, Dinant và Andenne xung quanh sông Meuse đã ăn khoai tây chiên khoảng năm 1680. Ở Mỹ người ta thường gọi món này với cái tên "đồ chiên Pháp" (French fries). Sở dĩ như vậy vì có lập luận cho rằng trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất chính lính người Bỉ đã giới thiệu món ăn này, người giới thiệu nói tiếng Pháp nên lính Mỹ lầm tưởng đó là món ăn Pháp.

Ở Bỉ, Frites được bán ở quần đồ ăn nhanh hoặc nhà hàng đồ ăn nhanh được gọi là frietkot, hoặc frituur (có thể tạm dịch là: lều chiên, trong tiếng Anh là “Fries Snack”). Món này ăn với nhiều loại nước sốt và hoặc kèm với các đồ ăn nhẹ khác. Theo truyền thống, Frites được bán tại "cornet de frites" (tiếng Pháp) hoặc "puntzak" (tiếng Hà Lan), Frites được bọc trong một phễu giấy hình nón, với nước sốt ở trên. Xuất lớn hơn thường được đựng trong khay các tông. Tại các địa điểm này, ngoài Frites, các món ăn đường phố khác như frikandel, gehaktbal hoặc croquette cũng được bán cùng. Trong một số trường hợp, Frites cùng với nước sốt, thịt được đựng trong vỏ bánh mì gối, có tên gọi là "mitraillette". Trong khu vực nhập cư, món Frites được bọc trong dürüm – loại vỏ bọc theo kiểu Thổ nhĩ kỳ.

Phần lớn các hộ gia hình ở Bỉ đều có máy chiên chuyên dụng để rán Frites gọi là máy chiên ngập dầu, để làm món Frites tại nhà. Các siêu thị bán một loạt các loại mỡ động vật hoặc thực vật lỏng hoặc rắn để sử dụng làm món Frites; mỡ bò đặc biệt được hay dùng.

French fries on a table

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/83/French_Fries.JPG

Món Frites

-

A tray of food on a counter

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f3/Friterie_meats.jpg

Các loại thịt thường đi kèm với Frites.

-

A hand holding a hot dog and a sausage

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6c/Frituur_fries_frikandel_mayo_curry_ketchup.jpg

Frites được bọc trong phễu giấy hình nón truyền thống, ăn với sốt mayonnaise và tương cà cà ri, với một cái xiên nhựa, kèm với món frikandel ở bên cạnh.

-

A sandwich with fries and cheese

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/05/Mitraillette_%28fast_food%29.jpg

Mitraillette (tiếng Pháp, nghĩa đen là "súng tiểu liên") là một loại bánh sandwich ở Bỉ thường được bán tại các quán friteries và quán cà phê. Phổ biến trong giới sinh viên.

-

Bia

Đối với một quốc gia tương đối nhỏ, Bỉ sản xuất một số lượng rất lớn các loại bia với nhiều phong cách khác nhau—trên thực tế, nước này có nhiều loại bia khác nhau trên đầu người hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Năm 2011, có 1.132 loại bia khác nhau được sản xuất trong nước. Truyền thống sản xuất bia ở Bỉ được cho là bắt nguồn từ đầu thời Trung cổ và 6 Tu viện Trappist vẫn sản xuất bia, số tiền này được sử dụng để bảo trì tu viện.

Hầu hết các loại bia được đựng trong chai, chứ không phải lon, và hầu như mỗi loại bia có cốc hoặc vại có hình dáng riêng biệt, độc đáo. Sử dụng đúng loại cốc được cho là tăng hương vị bia.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/26/Chimay_triple.jpg

Chimay Tripel, một loại bia Trappist với cốc riêng của nó.

-

Sự đa dạng của bia Bỉ giúp ta có thể ghép từng bữa ăn với mỗi loại bia, ví dụ:

🍺 Bia lúa mì với hải sản hoặc cá.

A glass of beer on a table

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f0/2013_Augustiner_Weissbier_Munich_pub.jpg

🍺 Bia Blonde hoặc Tripel với lươn, gà hoặc thịt trắng

A glass of beer on a table

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/a8/Westmalle_Tripel_in_a_glass.jpg

🍺 Bia Dubbel và các loại bia tối màu khác với thịt tối màu

A mural of bottles and sauces

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/e5/Belgique_-_Louvain-la-Neuve_-_Gare_-_Quai_-_Belgian_beers_-_02.jpg

🍺 Bia trái cây Lambics với món tráng miệng

A group of bottles of alcohol

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/30/Bieren_uit_de_streek_rond_brussel.jpg

-

Jenever

Jenever, còn được gọi là genièvre, genever, peket hoặc gin Hà Lan, là rượu mạnh quốc gia của Bỉ, nó có chứa gin. Trong khi bia có thể là đồ uống có cồn nổi tiếng nhất ở Bỉ, jenever lại là đồ uống truyền thống và đồ uống quốc gia trong hơn 500 năm.

Trong nhiều thể kỷ, jenever đã được đóng trong chai thủ công từ đất sét. Nó mang tính biểu tượng đặc trưng cho jenever. Theo truyền thống người Bỉ phục vụ jenever trong cốc đầy được lấy từ tủ lạnh. Bước đầu tiên để uống jenever đúng kiểu là để cốc trên bàn, cúi xuống nhấp ngụm đầu tiên mà không giữ cốc. Sau khi ngụm truyền thống này được hoàn thành phần còn lại có thể uống như bình thường.

A shelf full of liquor

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/a3/Hasseltse_jenever.jpg

Chai jenever được bán ở Hasselt, trong đó có hai chai được đựng trong chai đất sét truyền thống

-

Sô cô la

Bỉ nổi tiếng với sô cô la chất lượng cao và có hơn 2.000 hãng sô cô la lớn nhỏ. Hiệp hội Sô cô la Bỉ được thành lập từ năm 1635 khi đất nước đang dưới ách đô hộ của Tây Ban Nha. Vào giữa thế kỷ 18, sô cô la đã rất nổi tiếng trong giới thượng lưu và trung lưu, đặc biệt là sô cô la nóng, bao gồm cả Charles-Alexander of Lorraine, thống đốc người Áo của lãnh thổ này. Từ đầu thế kỷ 20, đất nước này đã có thể nhập số lượng lớn ca cao từ thuộc địa châu Phi - Congo thuộc Bỉ. Cả sô cô la thỏi và sô cô la praline đều là các phát minh của ngành công nghiêp sô cô la Bỉ. Ngày nay, sô cô la rất phổ biến ở Bỉ, với 172.000 tấn được sản xuất mỗi năm, và xuất khẩu ra khắp nơi trên thế giới.

Thành phần của sô cô la Bỉ đã được quy định theo pháp luật từ năm 1884. Để ngăn chặn sự giả mạo sô cô la với các chất béo chất lượng thấp từ các nguyên liệu khyasc, mức ca cao tối thiểu được đặt ra là 35%. Sự tuân thủ kỹ thuật truyền thống này làm tăng chất lượng sô cô la Bỉ. Cụ thể, chất béo thực vật không được sử dụng. Nhiều công ty sản xuất sô-cô-la thủ công, tốn rất nhiều công sức và giải thích cho sự phổ biến của các hàng sô cô la nhỏ, độc lập mà thường phổ biến với du khách. Các công ty sô cô la nổi tiếng, như Neuhaus và Guylian, tuân theo công thức truyền thống (và đôi khi cả những bí mật) một cách nghiêm ngặt cho các sản phẩm của họ.

Sô cô la praline hải sản (có hình giống cá hoặc sò) rất nổi tiếng với du khách, và được bán trên toàn nước Bỉ.

Những nhà sản xuất sô cô la nổi tiếng của Bỉ là Côte d'or, Leonidas, Guylian và Neuhaus.

-

A red cup with a drink in it

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/e9/Hei%C3%9Fe_Schokolade.jpg

Sô cô la nóng.

-

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/cd/Green_and_Black%27s_dark_chocolate_bar_2.jpg

Sô cô la thỏi

-

A close-up of various chocolates

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/20/Pralines_cut.jpg

Sô cô la praline.

-

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/d/de/Cotedor.jpg

Thương hiệu Côte d'Or.

-

A logo for a chocolate company

Description automatically generated

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/ae/Confiserie_Leonidas_SA_logo.jpg

Thương hiệu Leonidas.

-

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/3/36/Guylianlogo.jpg

Thương hiệu Guylian.

-

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/0b/Neuhaus_logo.jpg

Thương hiệu Neuhaus.

➖➖➖

 

 

Việt Điện U Linh Tập - Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) - Lý Tế Xuyên

 2026-10-10 Việt Điện U Linh Tập Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) ...