2023-07-29
Lĩnh
Nam chích quái (13, 14, 15, 16)
Minh
họa của Tạ Huy Long
---
Trần
Thế Pháp (sáng tác ~ 1370-1400)
Vũ
Quỳnh hiệu đính (1492)
Bản
dịch của GS. Lê Hữu Mục (1960)
► XIII. Truyện Kim Quy
► XIV. Truyện Man nương
► XV. Truyện núi Tản Viên
► XVI. Truyện hai vị thần Long Nhãn và Như Nguyệt
XIII
Truyện Kim Quy
An
Dương Vương nước Âu Lạc là người ở Ba Thục, họ Thục, tên Phán, nhân việc tiên tổ
cầu hôn với con gái của Hùng Vương tên là Mỵ Nương không được nên sinh ra hàm
oán; Phán muốn hoàn thành ý chí của tổ tiên nên cử binh đánh Hùng Vương, diệt
nước Văn Lang, cải hiệu là Âu Lạc mà ở, đắp thành ở đất Việt Thường; thành đắp
xong lại sập, Vương mới lập đàn, trai giới cầu đảo ba tháng.
Ngày
mồng bảy tháng Ba bỗng thấy một ông già theo phương tây mà đến thẳng cửa thành,
vừa đi vừa than rằng:
–
Xây đắp thành này thì bao giờ cho xong!
Vương
rước vào trên điện, lạy và khóc rằng:
–
Ta đắp thành này đã xong lại đổ, hao tốn công sức mà rồi không thành là tại làm
sao?
Ông
già thưa:
–
Ngày nào có Sứ giả Thanh Giang cùng đắp với Vương thì thành ấy mới xong.
Nói
đoạn cáo từ.
Rạng
ngày, Vương đứng ở cửa Đông trông ra thì thấy một con rùa vàng theo hướng Đông
mà bơi lại; rùa đứng trên mặt nước, nói được tiếng người, tự xưng là Thanh
Giang sứ giả, biết rõ lẽ trời đất, âm dương, quỷ thần.
Vương
mừng hỏi rằng:
–
Điều đó ông già đã báo cho ta rồi.
Bèn
sai lấy kim dư rước vào trong thành, mời ngồi trên điện, hỏi vì cớ gì mà thành
không đắp được. Kim Qui nói:
–
Ở đây có tinh khí núi sông, con Tiên vương phụ vào để báo thù nước, lại có con
gà trắng sống ngàn năm hóa làm yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu, trên núi có con quỷ,
nguyên trước có một nhạc công chôn cất ở đấy hóa ra quỷ. Ở bên có một cái quán
để cho hành khách qua lại ngủ nhờ; chủ quán tên là Ngộ Không, có một đứa con
gái và một con gà trắng là dư khí của quỷ thần. Hễ có người khách nào qua lại đến
đấy ngủ nhờ thì quỷ tinh hóa ra thiên hình vạn trạng mà giết hại rất nhiều. Bây
giờ nên bắt con gà trắng và đứa con gái của chủ quán mà giết đi thì tinh quái sẽ
hết. Nhưng chắc là nó lại hóa ra yêu thư, sai chim Si Hưu [1] ngậm
thư bay lên trên cây chiên đàn, tâu với Thượng đế để xin phá thành ấy đi. Thần
này xin cắn cho rơi cái thư ấy xuống, Vương lập tức thu lấy tất nhiên thành đắp
mới xong.
Kim
Qui bảo Vương giả làm khách đi đường xin ngủ nhờ trong quán. Vương để Kim Qui ở
trên ngưỡng cửa.
Ngộ
Không nói:
–
Quán này có yêu tinh, đêm thường giết người, Lang Quân không nên ở lại, vả nay
trời cũng chưa tối, nên đi mau đến chỗ khác để tránh họa.
Vương
cười rằng:
–
Sinh tử tại mệnh, quỷ mỵ mà làm gì, ta không sợ.
Mới
ngủ lại đó.
Trong
đêm có quỷ tinh đến ngoài kêu rằng:
–
Ai ở trong nhà này phải mở cửa ra mau.
Kim
Qui mắng rằng:
–
Cửa đóng thì mày làm gì nào?
Quỷ
tinh phóng hỏa tan ra vạn trạng, quỷ dị đủ phương để khủng bố nhưng rốt cuộc
cũng chẳng vào được nhà.
Đến
lúc gà gáy, các quỷ đều chạy tan. Kim Qui khiến Vương đuổi theo đến núi Thất Diệu,
quỷ tinh thu về hết cả, Vương trở lại quán trọ.
Sáng
ngày, chủ quán đem người đồng đến để chôn thi thể của khách ngủ lại hôm qua, thấy
Vương ngồi đó, nói cười như không có gì cả. Quán chủ bước đến, vái lạy nói rằng:
–
Lang quân được như thế tức là Thánh nhân rồi, xin ban linh thuật để cứu sinh
linh.
Vương
bảo:
–
Hãy giết con gà trắng của mày mà tế thì quỷ thần tan hết.
Ngộ
Không giết con gà trắng thì đứa con gái tự nhiên cũng nhào xuống chết. Vương lập
tức bảo người đào núi Thất Diệu, được một nhạc khí đời cổ và một hài cốt, sai đốt
trộn thành tro mà quăng ra sông.
Lúc
bấy giờ trời đã gần chiều, Vương cùng Kim Qui leo lên núi Việt Thường, quỷ tinh
đã hóa ra chim Si Hưu ngậm thư bay lên cây chiên đàn.
Kim
Qui bèn hóa ra một con chuột mà bò theo sau lưng cắn chân chim; thư rơi xuống đất;
Vương lập tức thu lấy thì sâu đã ăn hết hơn một nửa rồi.
Từ
đó, quỷ tinh tan hết, không lại phá phách như xưa nữa.
An
Dương Vương đắp thành nửa tháng đã xong; thành dài và rộng nghìn trượng, xoáy
tròn như hình con ốc, lại đặt tên là thành Thăng Long [2]. Người nhà
Đường gọi là thành Sát Quỷ Côn Lôn bởi vì thành rất cao lớn.
Kim
Qui ở lại với Vương ba năm rồi từ về; Vương bảo rằng:
–
Nhờ ơn của người, thành đã vững chắc, nếu như có việc ngoài thì lấy gì mà chống
giữ?
Kim
Qui thưa:
–
Quốc tộ tu đoản, xã tắc an nguy là vận của trời, nhưng người biết tu đức thì có
thể lâu dài được, Vương đã có lòng ước nguyện thì tôi đâu dám tiếc.
Mới
cởi cái móng chân đưa cho Vương và nói:
–
Thảng hoặc giặc có đến thì dùng móng này làm máy nỏ, đem ra mà đánh giặc thì
không có gì đáng lo.
Nói
đoạn trở về Đông Hải.
Vương
khiến bầy tôi là Cao Lỗ làm nỏ, lấy móng làm máy, hiệu là Linh Quang Kim Trảo
Thần Nỏ; sau Triệu Đà đem quân đến xâm lăng, cùng Vương giao chiến; Vương dùng
thần nỏ mà bắn, quân Triệu Đà thua chạy, đóng đồn ở núi Trâu Sơn, đối lũy với
Vương. Triệu Đà biết Vương có nỏ thần nên không dám tái chiến mới khiển sứ thỉnh
hòa. Vương mừng, cắt từ sông Tiền giang trở về phương Bắc cho Triệu Đà cai trị,
trở về phương Nam thì do Vương cai trị (nay là sông Nguyệt Đức) [3].
Chưa
được bao lâu, Đà sai con vào túc vệ cầu hôn con gái Vương là Mỵ Châu; Vương bất
ý không ngờ gian kế của cha con Triệu Đà; Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu trộm lấy nỏ thần
cho xem, rồi lén làm nỏ khác đổi lấy vuốt rùa giấu đi, nói dối với Mỵ Châu là
trở về thăm cha mẹ. Nhân đó nói rằng:
–
Tình phu phụ thì không nỡ quên, mà ơn phụ tử cũng không nên bỏ, ta nay về thăm
cha mẹ mà vạn nhất hai nước thất hòa, Nam Bắc cách biệt, ta trở lại tìm nàng
thì nàng lấy vật gì mà làm dấu cho ta biết.
Mỵ
Châu nói:
–
Thiếp là nhi nữ gặp phải bước phân ly thực khó thắng được tình cảm; thiếp có
chiếc nệm [4] gấm lông ngỗng thường mang trên người, đến lúc ấy thì
thiếp lấy lông ngỗng mà rải ở các ngã ba để chỉ cho chàng biết chỗ thiếp đi mà
đến cứu.
Trọng
Thủy từ tạ, cắp nỏ mà về báo cáo với Triệu Đà; Đà được nỏ rất mừng liền phát
binh đánh Vương; Vương không lo phòng bị, mãi đánh cờ vây, cười rằng:
–
Đà không sợ nỏ thần của ta sao?
Đến
lúc quân Triệu Đà tiến bức, Vương mới xách nỏ ra bắn thì thần cơ đã mất; quân
chạy tán loạn.
Vương
chở Mỵ Châu lên ngựa chạy về hướng Nam, đến bờ biển, cùng đường, không có thuyền
để sang ngang, Vương hét lớn lên rằng:
–
Trời để mất ta hay sao? Giang sứ đâu mau đến cứu ta.
Kim
Qui nổi lên trên mặt nước, mắng rằng:
–
Người cỡi ngựa ở sau lưng là giặc đó, hãy giết nó ta mới cứu.
Vương
bèn tuốt gươm chém Mỵ Châu.
Mỵ
Châu ngửa mặt lên trời mà cầu xin:
–
Thiếp là con gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại đến phụ thân thời chết hóa
thành bụi trần, bằng như một niềm trung tín, bị người phỉnh phờ thời hóa làm ngọc
châu để rửa cái thù nhục nhã này.
Mỵ
Châu chết ở bờ biển, máu chảy trên nước, hàu hến ăn vào lòng hóa thành minh
châu.
Vương
cầm sừng vân tê bảy tấc, Kim Qui rẽ nước dẫn Vương vào biển, đời truyền tại núi
Mộ Dạ, làng Cao Xá, châu Diễn tức là chỗ đó vậy.
Quân
Triệu Đà đến chỗ ấy không thấy gì hết, chỉ thấy tử thi của Mỵ Châu; Trọng Thủy
ôm thây nàng mà về chôn ở Loa Thành, hóa làm giếng ngọc; Trọng Thủy thương cảm
vô cùng, thấy lại những chỗ trang điểm hay tắm gội của Mỵ Châu, tưởng nhớ đến
hình dung của nàng bèn nhảy xuống giếng mà chết. Sau này, ai được ngọc châu ở
Đông Hải, càng múc nước giếng ấy mà rửa thì sắc ngọc càng thêm rực rỡ. Nhân
tránh tên Mỵ Châu nên gọi ngọc châu là Đại Cưu, Tiểu Cưu vậy.
---
[1] Chim cú.
[2] Chắc sai: bản của Deepierres ghi là Tư
Long.
[3] Theo bản của Despierres thì là sông Thiên
Đức (xem Cổ Loa, Capitale du royaume Âu Lạc).
[4] Dịch chữ nhục 溽. Có người dịch là áo choàng e không đúng. Nhưng thực
ra nệm gấm mà thường mang trên người thì cũng là một thứ áo choàng.
➖➖➖
XIV
Truyện Man nương
Thời
Hiến Đế nhà Hán, quan Thái thú tên là Sĩ Nhiếp đắp thành ở phía Nam sông Bình
giang (nay là thành phía Nam sông Thiên Đức). Ở phương Nam có một ngôi chùa gọi
là chùa Phúc Nham, có một nhà sư từ phương Tây đến, hiệu là Già La Đồ Lê, trụ
trì ở chùa ấy, hay làm phép đứng một chân; trai gái, già trẻ tín mộ, kính phụng
tôn hiệu làm Tôn sư, ai nấy đều cầu học đạo Phật.
Lúc
bấy giờ có một người con gái tên là Man nương, cha mẹ đều đã mất, nhà nghèo khổ
nhưng cũng dốc lòng cầu đạo, chỉ vì nói ngọng, khó tụng kinh chung với mọi người
nên thường ở sau bếp giã gạo nhặt rau, lo việc nấu thổi đồ cung dưỡng các sư
trong chùa và học giả bốn phương đến học đạo.
Khoảng
trời tháng năm, đêm lại ngắn ngủi, Man nương vội vã lo thổi nấu cho xong. Nàng
nấu đã xong xuôi, nhưng các sư còn tụng kinh chưa nghỉ để ăn cháo; Man nương ngồi
chờ, ngủ gật ở ngạch cửa không ngờ quên lửng nằm ngủ say. Đến khi tăng đồ tụng
niệm xong, ai về phòng nấy thì Man nương còn nằm ở cửa; nhà sư Đồ Lê bước ngang
trên mình nàng, Man nương hỗn nhiên tâm động, từ đó thụ thai. Trong khoảng được
ba bốn tháng, Man nương lấy làm xấu hổ bỏ đi, nhà sư Đồ Lê cũng tránh đi đến
chùa ngã ba đầu sông mà ở.
Mãn
nguyệt, Man nương sinh được một đứa con gái và tìm nhà sư để giao lại. Đêm
khuya, nhà sư Đồ Lê đến dưới cây đa ở ngã ba đầu sông mà đặt đứa con gái và
nói:
–
Ta gửi Phật tử này cho mày, mày giữ lấy, sau được thành Phật đạo.
Sư
Đồ Lê và Man nương từ biệt nhau mà đi, Đồ Lê cho nàng một chiếc gậy và bảo rằng:
–
Ta cho em cái gậy này đem về, hễ gặp năm nào trời đại hạn thì lấy gậy vẩy vẩy
dưới đất tự nhiên có nước chảy ra để cứu người ta.
Man
nương cầm gậy trở về, lại ở chùa như trước; gặp năm trời hạn, nàng lấy gậy vẩy
trên đất, tự nhiên có nước suối chảy ra ào ào, dân chúng được nhờ vả rất nhiều.
Khi
Man nương đã hơn tám mươi tuổi thì bất đồ cây đa bị lật đổ trôi đến trước bến
chùa, quanh quẩn ở đó không trôi đi; người ở đó đua nhau bửa củi thì búa rìu đều
bị gãy mẻ hết; làng xóm rủ nhau ba trăm người đến kéo cũng không chuyển động. Gặp
khi Man nương xuống bến rửa tay, nàng khẽ lấy tay kéo thử, cây lập tức chuyển động
trôi vào, ai nấy kinh dị, vội bảo Man nương kéo thẳng lên bờ, khiến thợ mộc trổ
làm bốn pho tượng Phật; kịp lúc đẽo đến giữa cây, chỗ giấu người con gái thì chỗ
ấy đã hóa thành một phiến đá rất cứng; người thợ đẽo đúng vào chỗ đó thì rìu
búa mẻ hết, mới lấy phiến đá ném xuống giữa sông; phiến đá phóng xuất hỏa
quang, giờ lâu mới chìm xuống nước; các người thợ đều chết hết. Mọi người đều
xin nhờ Man nương van vái mướn người kẻ chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào
điện Phật, lấy vàng tô lên mà phụng thờ.
Sư
Đồ Lê mới đặt tên cho bốn pho tượng Phật là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, và
Pháp Điện. Già trẻ trai gái bốn phương thường nhóm họp ở chùa này chơi đùa ca
múa, gọi là hội tắm Phật, đến nay đang còn vậy.
➖➖➖
XV
Truyện núi Tản Viên
Núi
Tản Viên ở phía tây Kinh thành nước Nam Việt, núi đứng cao thẳng như hình một
cái lọng nên đặt tên như vậy.
Xưa
kia vua Lạc Long cưới nàng Âu Cơ, sinh được một bọc trăm trứng, Long quân đem
năm mươi trai về biển, năm mươi trai theo mẹ về núi, phân trị thiên hạ, hiệu là
Hùng Vương; Tản Viên Sơn Đại Vương là một người con trong số năm mươi trai chia
về đó. Vương tử hải quốc do cửa biển Thần Phù mà về, tìm một nơi cao ráo thanh
u, dân tục thuần hậu mà ở, mới chèo thuyền từ sông Cái đến làng Long Đậu thành
Long Biên, toan muốn lưu lại đó nhưng còn có ý gì bất mãn, nên sau lại chèo
thuyền từ sông Linh giang đi lên đến làng Phiên Tân ở bờ sông Phúc Lộc; Vương
trông thấy núi Tản Viên tú lệ, ba hòn sắp hàng đứng, nghiễm nhiên như vẽ; dân ở
dưới núi, tục chuộng tố phác. Vương khi ấy mở một con đường thẳng như dây đàn từ
làng Phiên Tân mà đến bên núi Tản Viên, đi đến Uyên động, lại đi đến Nham tuyền
là chỗ nguồn khác, rồi lại đi lên núi Thạch Bàn đầu non Vân Mộng mà ở; hoặc có
khi chơi sông Chiết Giang để xem cá, phàm kinh qua đường thôn đều xây đền vũ để
làm nơi nghỉ ngơi. Nhân những vết chân ấy, người đời sau lập đền thờ phụng, hạn
thì đảo, lụt thì cầu, ngự hỏa tai, ngăn đại hạn mau hơn tiếng vang, cực kỳ linh
ứng. Lại gặp ngày trời trong sáng như có hình trạng cái tàn phấp phới trên hang
núi, những dân ở làng phụ cận đều bảo là sơn thần xuất hiện.
Cao
Biền nhà Đường ở An Nam muốn yểm linh tích các nơi danh thắng mới mổ bụng mười
bảy người, tất cả đều là con gái chưa chồng, bỏ ruột đi, lấy cỏ chỉ độn vào ruột,
cho mặc áo xiêm để ngồi trên ghế ỷ, dùng trâu bò mà tế, nhòm lúc nào thấy cử động
thời lấy gươm chém đi. Các vị thần phàm ngu đều dùng thuật ấy. Cao Biền thường
lấy thuật ấy trêu thần núi Tản Viên thì thấy Vương cỡi ngựa trắng đứng trên
mây, khạc nhổ mà đi. Cao Biền than rằng:
–
Linh khí Nam phương chưa thể trắc lượng được, vượng khí đâu khá diệt được, uy
linh hiển ứng là như thế.
Tục
truyền Vương và Thủy Tinh cùng cưới con gái Hùng Vương là Mỵ Nương: Vương đủ lễ
cưới đem đến trước; Hùng Vương gả cho; Vương rước vợ về ở trên núi Tản Viên. Thủy
Tinh đến sau mới hàm oán, đem cả loài thủy tộc đánh Vương để đoạt Mỵ Nương lại.
Vương bèn dùng lưới sắt chắn ngang sông Từ Liêm để trấn át. Thủy Tinh khơi
riêng một con sông nhỏ từ sông Lý Nhân ra sông Hát vào sông Đà để đánh sau lưng
núi Tản viên. Lại mở thêm một lối nhỏ từ Tích giang đi đến trước núi Tản Viên,
trải qua các làng Cam Giá, Đông Lâu, Thạch Kê, Ma Xá, Dục Giang, xói lở thành
vũng sâu để thông loài thủy tộc, thường lại nổi cơn gió mưa mù mịt, dâng nước
lên để đánh Vương. Nhân dân ở núi đều chẻ tre đan làm rào thưa để che đỡ, đánh
trống, giã gạo, reo hò để cứu, mỗi khi thấy rác rêu trôi ở ngoài rào thưa thì bắn
trúng chết hết hiện thành hình trạng giao long, cá trạch trôi đầy sông ngòi. Quần
chúng thủy tộc bị thua trở về, lòng vẫn chưa nguôi nên thường đến khoảng tháng
Tám, tháng Chín có nhiều trận lụt, mùa màng bị hại, dân ở dưới núi chịu thiệt
hơn đâu hết, đến nay vẫn còn.
Người
đời đều bảo Thủy Tinh, Sơn Tinh đều cưới vợ vậy đó.
➖➖➖
XVI
Truyện hai vị thần Long Nhãn và Như Nguyệt
Năm
Thiên Phúc của Lê Đại Hành hoàng đế tức là năm Tân Tỵ, vua Thái Tông nhà Tống
sai tướng quân Hầu Nhân Bửu, Tôn Hoàng Hưng đem binh Nam xâm; họ đến sông Đại
Than thì vua Đại Hành cùng với tướng quân Phạm Cự Lượng dàn quân ở Đồ Lỗ để chống
cự, đối lũy cùng giữ.
Vua
Đại Hành mộng thấy hai vị thần đến lạy ở trên sông và thưa rằng:
–
Anh em thần tên là Trương Hống và Trương Hát nguyên trước thờ vua Triệu Việt
Vương, thường theo vua đánh dẹp nghịch tặc lấy được thiên hạ. Sau vua Lý Nam Đế
cướp ngôi, nghe tiếng anh em thần mới bảo người đến vời, bọn thần vì nghĩa
không thể đến nên cùng nhau uống thuốc độc tự tử. Thượng đế thương người có
công, khen là trung nghĩa nhất tiết, cho làm chức Quỷ Bộ Tướng quân thống lĩnh
quỷ binh. Bây giờ thấy binh Tống vào cõi mà làm khổ cho sinh linh nước kia nên
anh em thần đến đây ra mắt với Hoàng đế, nguyện giúp ngài đánh giặc để cứu sinh
linh.
Vua
Đại Hành giật mình tỉnh dậy, bảo thị thần rằng:
–
Ấy là thần nhân giúp ta.
Lập
tức đến trước ngự thuyền đốt hương vái rằng:
–
Thần lực nếu có thể giúp cho công nghiệp này hoàn thành thì được ban phong huyết
thực, vạn đại vô cương.
Bèn
giết trâu bò cúng tế và cho áo mão, giấy tiền, voi ngựa đốt đi. Đêm ấy, lại mộng
thấy hai vị thần đều mặc áo mão đã ban cho hôm trước đến lạy tạ ơn. Đêm sau lại
thấy một vị thần thống lĩnh quỷ bộ áo trắng từ phía nam sông Bình giang đi lại,
một vị thần thống lĩnh quỷ bộ áo đỏ do sông Như Nguyệt mà xuống, cả hai đều đến
đánh doanh giặc.
Ngày
hai mươi mốt tháng Mười, đêm đương canh ba, thiên khí hôn ám, gió to mưa lớn cả
dậy; binh Tống kinh sợ thấy thần lờ mờ đứng ở trên không, cao giọng ngâm rằng:
Nam
quốc sơn hà Nam Đế cư.
Phân
minh định phận tại Thiên thư.
Có
sao nghịch lỗ sang xâm phạm.
Bọn
chúng chờ xem phải bại hư.
Binh
Tống nghe vậy, xô đạp nhau chạy tán loạn, bị bắt sống không xiết kể. Quân nhà Tống
đại bại trở về. Vua Đại Hành lui quân, dâng lễ mừng thắng trận, bao phong hai vị
thần: Ông anh là Uy Địch Đại Vương, lập đền thờ ở ngã ba sông Long Nhãn, bảo
dân Long Nhãn Bình giang phụng tự; Ông em là Khước Địch Đại Vương, lập đền thờ ở
sông Như Nguyệt, bảo dân duyên giang [1] phụng tự, đến nay vẫn còn vậy.
---
[1]
Ở men sông.
➖➖➖