2026-10-10
Việt
Điện U Linh Tập
Trung
Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương
(Chuyện
Thần Bạch Hạc)
ChatGPT minh họa
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
An
đề Giao Châu ký của Triệu Công thì Vương vốn là Thổ Lệnh Trưởng. Giữa niên hiệu
Vĩnh Huy nhà Đường, Lý Thường Minh qua làm Đô Đốc Giao Châu thấy đất đai bằng
phẳng nghìn dặm, núi sông bao bọc đến ngã ba sông Bạch Đằng, liên tiếp đến ngã
ba sông Bạch Hạc, mới dựng quán Thông Linh, đặt tượng Tam Thanh, mở riêng ở trước
một nôi nhà gọi là tiền mạc. Ông khiến tạc pho tượng Hộ Quốc Thần. Tượng làm
xong mới đem lễ, đốt trầm vái rằng:
-
Trong này Thần Kỳ nếu có linh dị, sớm cho ta nhập mộng, hình trạng như pho tượng
này mới thỏa lòng ta.
Đêm
ấy, Lý Thường Minh mộng thấy hai dị nhân, mày râu như tượng, hình dung chải chuốt,
kẻ tuỳ tùng đến vài mươi người, đều tay cầm cờ tiết, trống phách, đờn sáo, vừa
đi vừa đánh vừa thổi, bước bước chậm rãi, giành nhau ở trước Tiền Mạc. Thường
Minh hỏi đến tính danh; một người xưng là Thổ Lệnh, một người xưng là Thạch
Khanh.
Thường
Minh xin hai người thị pháp thuật, ai thắng thì ở trước. Thạch Khanh nghe nói,
nhún mình nhảy một cái qua bên kia bờ sông đã thấy Thổ Lệnh Trưởng đứng trước
đó rồi. Thạch Khanh lại nhảy lại một cái qua bên này bờ sông, cũng lại thấy Thổ
Lệnh Trưởng đứng trước đó rồi. Như vậy, Thổ Lệnh Trưởng được ở trước.
Tục
người Thổ chuộng ma quỷ, nay thấy tượng thần uy nghiêm, lòng đều kính sợ, hễ có
sự gì lỗi lầm, lo ngại, đều đến đền cầu khấn, xin keo, đều thấy linh ứng, nghiễm
nhiên làm vị Phúc Thần một phương, nhang đèn không dứt.
Trải
mấy triều, các vị tướng soái mỗi khi có phụng mệnh đi đánh kẻ nghịch mệnh ở
trên nguồn Tam Giang, thường biện lễ phẩm, mặc đồ binh phục đến đền bái yết, phần
nhiều được Thần âm phủ, mặc tướng.
Niên
hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Trung Dực Vương. Năm thứ tư, gia phong Võ Phụ.
Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Uy Linh.
Phụ
bài thơ quan Hàn lâm viện Thị Độc Học Sĩ Nguyễn Sĩ Hồi hầu giá vua đi đánh Ai
Lao, đến bái yết đền Thần. Thơ rằng:
Phù
rùa, ấn cả buộc lưng ngang,
Lành
tốt, mong cầu giúp Tướng quan.
Hèn
yếu Thư sinh không chỗ cậy,
Chỉ
xin dưới miếu báo bình an.
Quan
Thị Độc Học sĩ tên là Vương Thành Vu hầu giá vua đi phương tây đánh mọi lào.
Lúc khải hoàn, vua bảo làm bài thơ tạ Thần, thơ rằng:
Tỳ
hưu mừơi vạn tỏ Vương linh.
Đè
bẹp Vân Nam ải ngoại thành.
Giang
tả mảy may nào đủ mến.
Gió
đưa tiếng hạc khiếp Tần binh.
~
Tiếm
bình
Ngã
ba sông Bạch Hạc tức là chỗ giao hội của sông Thao, sông Lô, xanh đó hai dòng đều
chảy vào sông Đại Hoàng. Núi sông xanh trong, phong cảnh như vẽ, trên bờ sông
có đội tuần đống, làm một chỗ thuyền bè buôn bán đông đúc. Mỗi năm cuối mùa
thu, đầu mùa đông, chim anh võ là thực phẩm rất quý giá, chỗ yếu hội như huyện
Sơn Vỹ có làng Trình Xá, làng Phú An, huyện Thanh Ba có làng Vụ Cầu, làng Vũ Yến,
ít nơi bì kịp.
Thổ
Lệnh Trưởng nay làm Thần làng Bạch Hạc, Thạch Khanh nay làm Thần làng Chi Cát hằng
được đội ơn phong tặng, hương lửa không ngớt. Các làng dựa theo bên sông cũng đều
thờ cả, có lẽ sơn kỳ thuỷ tú un đúc lại làm danh thần, nghiễm nhiên làm hộ vệ
cho thần Tam Thanh, hai bài thơ của hai ông Học Sĩ lưu lại đời không mất.
Khoảng
năm Canh thịnh, ông Tứ Thừa đến núi Tản Viên, đêm nằm mộng thấy Thần bảo:
-
Sáng ngày có kẻ dị nhân đến yết ta, ngươi nên quét dọn sạch sẽ cho được quang
khiết.
Ông
Từ tỉnh dậy, lo đi quét dọn trong ngoài sạch sẽ.
Đến
đúng ngọ, có một toán vài mươi người đến, trong số ấy có một người lớn tuổi,
tác độ bốn mươi, đem heo xôi đến tế thần, quỳ xuống khấn vái lầm rầm. Lễ xong,
ông Từ Thừa mới đến chào hỏi và thuật lại điềm mộng ban đêm cho người ấy nghe rồi
xin theo về nhà cho biết. Người ấy bằng lòng. Từ Thừa theo người ấy đi vào
trong núi, đi đến đâu cũng thấy ruộng vườn nhà cửa san sát, đi đã hai ngày cũng
đều như thế cả. Đến ngày thứ ba, người ấy nói với ông Từ rằng:
-
Không phiền ông phải theo tôi đi xa làm gì, hãy về đi, nhưng xem ở ngã ba sông
Bạch Hạc, lúc nào có thấy cắm cây cờ đen thì lập tức đến đó hội họp, tôi không
quên ông đâu!
Ông
Từ bái tạ trở về
Khoảng
năm Mậu Thình Hoàng Triều Gia Long, có giống chim hình như chim sẻ, kể hàng
nghìn, từ hạ lưu bay đến ngã ba sông Bạch Hạc, lủm chủm chúi đầu xuống nước,
như thế có đến năm ba ngày, thấy chim chất đống trên mặt sông.
Trấn
quan đem việc ấy tâu về triều, và dâng luôn cả thứ chim ấy nữa, nhưng rồi ai
cũng chẳng biết giống chim ấy là chim gì.
~
AI
overview
Truyền
thuyết về Thần Bạch Hạc (Uy Hiển Bạch Hạc) gắn liền với vùng đất ngã ba sông
linh thiêng tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. [1,
2]
Nhân
vật và nguồn gốc
- Thần
Thổ Lệnh (tên húy là Trần Lan) và em trai là Thạch
Khanh (tên húy là Trần Bảo) là hai vị thần anh em sinh đôi từ một bọc
trứng (hoặc được sinh ra bởi nàng Quý Nương), có tài phép thần y và cứu
giúp bách tính.
- Theo
Lĩnh Nam Chích Quái, đây là những vị phúc thần quan trọng được dân
gian và nhiều làng quê Việt Nam tôn vinh làm thành hoàng làng. [1,
2,
3,
4]
Truyền
thuyết thi bước qua sông
- Chuyện
kể rằng Thổ Lệnh và Thạch Khanh từng có cuộc thi bước qua sông Lô.
- Khi
Thạch Khanh vừa bước sang bờ, Thổ Lệnh đã đặt chân sang trước, để lại các
vết chân khổng lồ ở hai bên bờ sông (một vết chân ở khu vực đền Tam Giang
và một gót chân ở phường Bến Gót, TP. Việt Trì). [1,
2,
3,
4]
Di
tích lịch sử - Đền Tam Giang
- Nơi
thờ chính của Thần Bạch Hạc là Đền
Tam Giang Bạch Hạc tại ngã ba Bạch Hạc (nơi hợp
lưu của sông Lô, sông Thao và sông Đà).
- Khởi
nguyên nơi đây là một đạo quán mang tên Thông Thánh Quán, được xây
dựng vào thời nhà Đường (năm Vĩnh Huy, khoảng 650–655) bởi Đô đốc Lý Thường
Minh, sau đó phát triển thành ngôi đền linh thiêng được các triều đại (như
nhà Trần) nhiều lần tôn tạo, cúng dường. [1,
2,
3,
4,
5]
➖➖➖