2020-02-08
Quà Hà Nội
(Hà Nội băm sáu phố phường)
Thạch Lam
Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng ngon
lành và lịch sự. Ở các thôn quê, chút "quà Hà Nội" là của mong đợi,
và tỏ được lòng quý hóa của người cho. Con cháu ngày giỗ kỵ đưa về dâng cha mẹ,
hay các bà mẹ ra tỉnh mua về cho các con, và chồng đi làm Nhà nước ngày nghỉ
mua tặng cho cô vợ mới cưới ... Bao nhiêu ý tốt tình hay gửi vào trong chút quà
nơi đô hội, món quà đem đến cho khắp nơi các vị sành và trang nhã của băm sáu
phố phường.
Hàng quà rong
Người Hà Nội, ăn thì ngày nào cũng
ăn, nhưng thường không để ý. Nếu chúng ta về ở tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải
Phòng, Nam Định nữa, chúng ta mới biết quà ở Hà Nội ngon là chừng nào. Cũng là
thứ bún chả chẳng hạn, cũng rau ấy, thế mà sao bún chả của Hà Nội ngon và đậm
thế, ngon từ cái mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi.
Trong một ngày, không lúc nào là
không có hàng quà. Mỗi giờ là một thứ khác nhau; ăn quà cũng là một nghệ thuật:
ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán ấy, mới là người sành ăn.
Tang tảng sáng, tiếng bánh Tây đã
rao, lẫn với tiếng chổi quét đường. Đó là quà của những người thợ đi làm sớm.
Rồi, có từng độ, phố xá vang lên tiếng rao "bánh rán nóng, trinh một, xu
đôi" của một lũ trẻ con. Cái bánh rán vừa cứng và xấu, thật làm giảm thanh
thế của quà Hà Nội, do một cửa hàng nào đó muốn kiếm lời, cứ muốn bắt thiên hạ
ăn bánh rán lúc còn ngái ngủ.
Này đây mới là quà chính tông: bánh
cuốn, ăn với chả lợn béo, hay với đậu rán nóng. Nhưng là bánh cuốn Thanh Trì
mỏng như tờ giấy và trong như lụa. Vị bánh thơm bột mịn và dẻo. Bánh chay thì
thanh đạm, bánh mặn đậm vì chút mỡ hành. Người bán bánh cuốn Thanh Trì đội mẹt
và rổ trên đầu, từng tụm năm, bảy người từ phía Lò Lợn đi vào trong phố, dáng
điệu uyển chuyển và nhanh nhẹn.
Rồi mùa nực thì hàng xôi cháo: cháo
hoa quánh mùi gạo thơm, xôi nồng mùi gạo nếp. Xôi đậu, xôi lạc, xôi vừng mỡ và
dừa. Ở, cái xôi vừng mỡ, nắm từng nắm con, ăn vừa gậy vừa bùi. Mà có đắt gì
đâu! Ăn một, hai xu là đủ rồi. Mùa rét thì xôi nóng, hãy còn hơi bốc lên như
sương mù, ăn vừa nóng người vừa chắc dạ.
Và có ai ngẫm nghĩ kỹ cái vị hành
khô chưng mỡ ở trong bát ngô nếp bung non; hàng giòn và thơm phức, những hạt
ngô béo rưới chút nước mỡ trong ... Ngô bung (xôi lúa) thì có nhiều hàng ngon,
nhưng ngon nhất và đậm nhất là ngô bung của một bà già trên Yên Phụ. Cứ mỗi
sáng, bà từ ô xuống phố, theo một đường đi nhất định, đã ngoài hai mươi năm
nay, để các nhà muốn ăn cứ việc sai người ra đừng chờ. Bà đội thúng ngô, tay
thủ vào cái áo cánh bông, và cất lên cái tiếng rao, tựa như không phải tiếng
người, một tiếng rao đặc biệt và kỳ lạ: "Eéé ...éc", "Eé ...ééc
...".
Đối với các bà, các cô đi chợ, cô
hàng vải, cô hàng rau v.v ... là những người ưa món quà gì vừa rẻ vừa ngon, lại
vừa no lâu các cô khó tính, sành ăn và hay xét nét lắm đã có món quà của cô
hàng cơm nắm lẳng lơ với hai quang thúng bỏ chùng. Món quà này sạch sẽ và tinh
khiết, từ quà cho đến cả quang thúng, cả cô hàng, tóc vấn gọn, áo nâu mới, quần
sồi thâm, cô hàng trông cũng ngon mắt như quà của cô vậy.
Cơm nắm từng nắm dài, to nhỏ có, nằm
trên chiếc mẹt phủ tấm vải màu trắng tinh để che ruồi, muỗi. Con dao cắt, sáng
như nước, và lưỡi đưa ngọt như đường phèn. Cơm cắt ra từng khoanh, cô hàng lại
cẩn thận gọt bỏ lớp ngoài, rồi lại cắt ra từng miếng nhỏ, vuông cạnh và dài, để
bày trên đĩa. Cô muốn xơi với thứ gì? Với chả mới nhé hay giò lụa mịn màng?
Các cô vừa ăn vừa nhai nhè nhẹ và
thong thả hỏi han thân mật cô hàng: cùng bạn làm ăn cả, một gánh nuôi chồng
nuôi con, đóng góp thì nhiều. Âu cũng là cái phận chứ biết làm thế nào.
Đối với các bà ăn rở và thích của lạ
miếng và độc nữa đã có bà hàng tiết canh và lòng lợn. Một mâm đầy một bát tiết
canh đỏ ối, ngòng ngoèo sợi dừa trắng, điểm xanh mấy lá húng tươi. Thế mà họ ăn
ngon lành, một lúc hai, ba bát. Rồi đánh thêm một đĩa lòng vừa dồi, cổ hũ với
tràng giòn. Ăn xong quét miệng đứng dậy, bước đi thành chậm chạp.
Sao bằng ra đầu phố ăn một bát phở
bã của anh hàng phở áo cánh trắng, gilet đen, và tóc rẽ mượt? Nồi nước sôi sùng
sục, tỏa mùi thơm ra khắp phố. Nếu là gánh phở ngon cả Hà Nội không có đâu làm
nhiều, thì nuớc dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ
không dai, chanh ớt, và hành tây đủ cả. Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế
nữa. Ăn xong bát thứ nhất, lại muốn ăn thêm bát thứ hai. Và anh hàng phở chả
phải gánh nặng đi đâu cả, chỉ việc đỗ một chỗ nhất định, cũng đủ bán một ngày
hai gánh như chơi. Và người hàng phố tìm dấu hiệu để gọi tên anh cho dễ nhớ:
anh phở trọc, anh phở Bêrê, anh phở Mũ Dạ, anh phở Cao ... và dặn thằng nhỏ chớ
mua hàng khác về "ông không ăn mà chết đòn".
Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà
Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì ở Hà Nội mới ngon.
Đó là quà tất cả suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ
thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa, và ăn phở tối.
Phở bán gánh có một vị riêng, không
giống như phở bán ở hiệu. Các gánh phở có tiếng ở Hà Nội đều được người ta đặt
tên và tưởng nhớ: phố Ga, phố Hàng Cót, phố Ô Quan Chưởng, phố Cửa Bắc v.v ...
Bây giờ nhiều tài năng trẻ trong
nghề phở mới nhóm lên và trái lại, những danh vọng cũ trên kia không chắc còn
giữ được "hương vị xứng kỳ danh" nữa. Có người nào thứ chịu khó đi
khảo nếm lại một lượt xem sao? Một vòng quanh Hà Nội bằng vị phở, chắc có lắm
điều mặn, chát, chua, cay đấy.
Nhưng có một nơi phở rất ngon mà
không có ai nghĩ đến và biết đến: ấy là gánh phở trong nhà thương. Trong nhà
thương vốn có một bà bán các thứ quà bánh ở một gian hàng dựng dưới bóng cây.
Cái quyền bán hàng đó là cái quyền riêng của nhà bà, có từ khi nhà thương mới
lập. Bà là người ngoan đạo nên tuy ở địa vị đặc biệt đó bà cũng không bắt bí
mọi người và ăn lãi quá đáng. Thức gì bán cũng ngon lành, giá cả phải chăng.
Nhưng gánh phở của bà thì tuyệt: bát phở đầy đặn và tươm tất, do hai con gái bà
làm, trông thực muốn ăn. Nước thì trong và lúc nào cũng nóng bỏng, khói lên
nghi ngút. Rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một
chút cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ. Mà nhân tâm tùy thích, nhà hàng đã
khéo chiều: ai muốn ăn mỡ gầu, có, muốn ăn nạc, có, muốn ăn nửa mỡ, nửa nạc,
cũng có sẵn sàng.
Cứ mỗi buổi sáng, từ sáu giờ cho đến
bảy giờ, chỉ trong quảng ấy thôi, vì ngoài giờ gánh phở hết, chung quanh nồi
nuớc phở, ta thấy tụm năm tụm ba, các bệnh nhân đàn ông và đàn bà, các bác gác
san, các thầy y tá, và cả đến các học sinh trường Thuốc nữa. Chừng ấy người đều
hợp lòng trong sự thưởng thức món quà ngon, nâng cách ăn phở lên đến một nghệ
thuật đáng kính.
Cùng một thứ quà nước và mặn như
phở, Hà Nội còn có hãng mì và mằn thắn. Hai món này chắc hẳn là món ăn của
người Tàu, cho nên hễ người Tàu làm thì ngon hơn, cũng như họ làm ngon nhiều
món khác.
Cái chí của Việt ta cũng khác: món
quà bán thì cứ muốn bán cho rẻ và nhiều, thích thế để xiêu lòng Khách còn cái
phẩm có tốt hay không, không quan tâm đến. Cho nên bát mằn thắn của người mình
thì có đủ cả rau thơm, xà xíu, đôi khi mấy miếng dồi, và một phần chia tám quả
trứng vịt. Mằn thắn thì làm rất to bột, nặn xuề xòa để trông càng to hơn, nhưng
nhân thì hết sức kín đáo và nhỏ bé, vì được một tí thịt chỗ bạc nhạc, mua rẻ
của các hàng thịt lậu ôi ở ngoại ô, lúc trút hàng bán rẻ. Nước cũng rất nhiều
nữa, dềnh lên như ao sau trận mưa, nhưng nhạt ví như nước bèo. Ấy thế mà tất cả
chỉ bán có năm xu. Tưởng đắt hàng là phải.
Thế mà không: người Hà Nội ăn quà
sành, nên khó mà lấy nhiều làm hoa mắt người ta được. Có lẽ người bán nghĩ rằng
quà rao là sực tắc, hai thanh tre gõ vào với nhau như tiếng guốc đi của một gái
về đêm, mà sực tắc chính là hai tiếng Tàu Thực đắc mà ra. Thực đắc là ăn được,
cho nên quà chỉ cốt ăn được, không cốt gì ăn ngon.
Về thức quà này, tôi lại nhớ đến một
câu chuyện nhiều ý nghĩa, và có thể làm một bài học hay cho người mình. Trong
lúc mọi người bán hàng Việt Nam mỏi vai lê gánh khắp phố mòn đốt tre vì tiếng
gọi mà vẫn không bán được mấy, thì bỗng nhiên một hôm ở một phố ở Hà Nội nhỏ
hẹp và đông đúc, nẩy ra một chú Khách bán hàng rất dở người. Chú ta cũng bán mì
với mằn thắn, cũng với giá năm xu, nhưng mì thì chỉ có mì không và mằn thắn chỉ
có mằn thắn trần, đủ mười lăm cái. Nhưng nước rất trong và rất ngọt, mì thì đậm
vị và dẻo, mằn thắn thì bột mềm và mỗi cái có nhân một con tôm. Ăn mãi vẫn ngon
không thấy chán.
Bán hàng không cần gánh đi đâu, và
cũng không cần gì bát. Ai muốn ăn thì đến hàng mà ăn, ai muốn mua đem bát lại
mua, và người nhà mang về, chứ một bậc thang ngắn bác cũng không chịu bước lên.
Bác bán hàng cửa quyền như thế, người ta tuy tức vì cái làm bộ kiêu kỳ của bác,
chê vì quà của bác đắt hơn quà của các hàng thường, nhưng người ta vẫn phải
mua, vì quà của bác ngon. Người mua ngày dần đông: một bác bán không đủ, phải
làm hai gánh, rồi ba, rồi bốn, rồi năm sáu. Mỗi gánh bác phải thuê người bán,
mỗi tháng công năm đồng. Những người này bèn cách ăn bớt: một lượng bát mì bác
bán, cứ ba bó mì thì họ lại bớt một; mười lăm cái mằn thắn thì họ bán có mười
hai.
Nhưng mắc lòng, hàng bác vẫn bán
chạy. Mỗi gánh ít nhất bác cũng được lãi ba đồng một ngày. Sáu gánh vị chi là
mười tám, một tháng lãi năm trăm hơn. Sáu tháng sau khi bác ở Hải Phòng đặt
chân lên Hà Nội, bác đã nghiễm nhiên trở nên một người giàu.
Thế mới biết nghề gì là không có
lãi, mà cái nghề mà chúng ta tưởng là hèn mọn ấy lại chóng làm người ta giàu
hơn chánh vạn nghề khác. Miễn là thức hàng bán xứng với đồng tiền, đừng lừa dối
người mua của ngon thì người ta ăn, đắt rẻ không kỳ quản. Đó là một sự thất
giản dị trong nghề buôn bán, mà tiếc thay, nhiều nhà buôn người mình không biết
đến, hoặc người mình làm tồi bán rẻ hoặc họ đánh lừa được người mua thì lấy làm
sung sướng.
Tôi quên nói nốt rằng chú Khách bán
mằn thắn trên kia, giá cứ giữ lối bán gánh như thế thì không sao. Có tiền, chú
lại muốn làm ông chủ hiệu chú mở hàng cao lâu to ở phía Mã Mây. Cái chí này thì
không có gì đáng trách. Nhưng chú lại muốn giống các chủ khác ở chỗ đánh bạc
chú đánh phán thán, rồi chú thua. Ba tháng sau, chú vỡ nợ.
Nhưng đấy là tại chú, chứ không phải
là tại cái cửa hàng của chú, và cái phương pháp bán hàng của chú vẫn giữ nguyên
giá trị khiến chúng ta nên theo.
Sau khi vỡ nợ, tay trắng trở về, chú
lại ghé lưng xuống gánh lấy gánh hàng mằn thắn cũ tiếng vẫn rao vang, và cái
miệng vẫn tươi cười như trước. Đó là một tấm gương mà chúng ta lại càng nên
theo nữa.
Vẫn quà Hà Nội
Kể về các thứ quà mặn, thì Hà Nội
còn nhiều: nào bún riêu, bún chả, thang cuốn, nem chua, nào miến lươn và bún
ốc. Mỗi thứ, tất nhiên có một vị riêng, và cả đến mỗi hàng, lại cũng có cái
ngon riêng nữa.
Tôi thích nhất cô hàng bún ốc, không
phải vì món hàng cô tôi thích ăn xin thú thật rằng tôi sợ các bác ốc lắm nhưng
tôi thích nhìn người ta ăn, vì nghe thức quà của cô là cái điểm không thể thiếu
được của một cảnh bình dân hoạt động trong các ngõ con và trên các bờ hè. Người
ta xúm lại ăn quà bún ốc một cách mới ngon lành làm sao! Có ai buổi trưa hay
buổi đêm khuya, đi qua các nhà cô đào, và các chị em thanh lâu, thấy họ ăn cái
quà ấy một cách chăm chú và tha thiết đến đâu không? Nước ốc chua làm nhăn các
nét mặt tàn phần và mệt lả, miếng ớt cay làm xoa xuýt những cặp môi héo hắt, và
khiến đôi khi rõ những giọt lệ thật thà hơn cả những giọt lệ tình.
Cô hàng ốc có một cái dụng cụ, một
đầu là búa, một đầu là dùi nhọn. Một cái gõ nhẹ, và một cái trở tay, là con ốc
nguyên cả ruột đã gọn gàng rơi mình vào bát nước. Cô thoăn thoắt rút ốc không
kịp, trông thấy người ta ăn ngon lành, chính cô cũng sinh thèm. Ấy cô có thú
thực với tôi như thế.
Cùng họ nhà bún, riêu cua và thang
cuốn vốn là quà sở trường của các bà. (Mà nghiệm ra cái triết lý sâu sắc này:
thứ quà nào bán cho các bà bao giờ cũng đắt hàng, vì hai lẽ: một là vì các bà
nội trợ bao giờ cũng sẵn tiền, hai là các bà ăn quà đã thành tục ngữ, ca dao).
Lạ có một điều: nhà mình làm lấy, dù bà vợ khéo tay đến đâu, ăn cũng không thấy
ngon bằng mua các hàng rong, nhất là hai thứ thang riêu. Tại sao vậy? Có ai tìm
ra cái lẽ triết lý thứ ba không?
Miến lươn là thức quà ăn bổ âm,
nhiều người bảo thế. Đàn ông thì không hay tin, nhưng đàn bà thì dễ tin lắm.
Thế cho nên đã thấy nhiều ông chồng không thích ăn lươn, mà vẫn bị các bà vợ ép
cho ăn dù tiền các bà ấy trả lấy. Tình nghĩa đằm thắm của vợ chồng đôi khi có
thể lấy nhiều ít miến lươn mà đo được.
Ấy, suýt nữa đi khỏi các thứ quà cốt
bún, mà tôi quên không nói đến thứ quà bún quang trọng và đặc điểm nhất của Hà
Nội băm sáu phố phường: đó là thức quà bún chả.
Phải, cái thức quà tầm thường đó,
sáu tỉnh đường trong, bốn tỉnh đường ngoài, chẳng có đâu ngon bằng kinh đô. Ai
cũng phải công nhận như thế, hay ít ra những người sành thưởng thức. Một ông đồ
cuồng chữ ở nhà quê, một hôm khăn gói, ô lên Hà Nội, đã phải ứng khẩu đặt hai
câu thơ như thế này, khi ngửi thấy mùi khói chả:
Ngàn năm bửu vật đất Thăng Long
Bún chả là đây có phải không?
Mà cảm hứng thế thì chí phải. Khi
ngồi cuống chiều gió, đói bụng mà đón lấy cái khói chả thơm, thì ngài dễ thành
thi sĩ lắm. Khói lam cuộn như sương mờ ở sườn núi, giọt mỡ chả xèo trên than
hồng như một tiếng thở dài và tiếng quạt khẽ đập như cành cây rung động, quà
bún chả có nhiều cái quyến rũ đáng gọi là mê hồn, nếu không là mê bụng.
Những thứ rất là tầm thường, rất là
giản dị mà đi gần nhau sao lại sinh ra được mùi vị riêng như thế? Ai là người
đầu tiên đã nghĩ ra bún chả? Người đó đáng được chúng ta nhớ ơn và kính trọng
ngang, hay là hơn với người tạo nên được tác phẩm văn chương ... Có lẽ người
kia còn làm ít cho nhân loại hơn là người này nữa. Tiếc thay tên người tài tử
đó thất truyền, để không liệt kê vào cái sổ vàng của những danh nhân "thực
vi đạo".
Thứ bún để ăn bún chả, sợi mành và
cuộn từng lá mỏng, khác với các thứ bún thường. Chả phải thịt ba chỉ, mà phải
dùng cặp tre tươi nướng mới ngon. Quái, sao cái nước chấm của các hàng bún chả
hàng ngon thế! Có lẽ là họ dùng nước mắm hạng vừa, nghĩa là không quá chua, cho
nên thành ngon chăng? Nước chấm ấy mà điểm thêm mấy giọt chanh vào thì tuyệt:
có thể thấm nhuần cả bún, cả rau, cả chả mà không mặn, không gắt như nước chấm
của nhà.
Nhưng bún chả Hà Nội đặc biệt có lẽ
vì cái rau húng Láng. Vì chỉ có rau húng ở Láng là có mùi vị húng, đem trồng
chỗ đất khác, sớm chậm cũng đổi ra mùi bạc hà. Viết đến đây tôi lại nhớ đến bác
Tú Mỡ thường mời bạn hữu ăn và thường khoe mình là ẩn dật ngay trong rừng hung.
Thế cho nên bún chả thì phải là bún chả Hà Nội mới đủ vị cho người thưởng thức
và phải là bún chả xưa vẫn ngồi trước đến Bạch Mã, Hàng Buồn, mới là bán hàng
ngon. (Tất nhiên có nhiều các hàng khác ở phố cũng ngon chẳng kém, nhưng tiếng
tăm chưa nổi đó thôi).
Phụ thêm vào Phở
Nói về phở, tôi còn quên không
nhắc tới những sự thay đổi mới đây ở cái quà đặc biệt đó. Nghĩ
rằng thay đổi là tiến bộ, có người đã bỏ phở cũ là vị phở gà.
Nhưng sự cải cách ấy hình như không được hoan nghênh.
Có người khác rụt rè hơn, chỉ
thay đổi một vài thứ gia vị người thì thêm vị húng lìu (như gánh
phở phố Mới hồi năm 1928), kẻ thì thêm dầu vừng và đậu phụ. Họ
mệnh danh cái phở như thế là phở cải lương.
Như cái thứ phở thực cũng như
bản tuồng, chèo. Để nguyên tuồng chèo cổ thì hay, chứ đã pha cải
lương vào thì hỏng bét. Có chăng muốn cải cách thì để nguyên vị, mà
cách làm tinh vi hơn lên. Cái nội dung và thể tài vẫn cũ, mà tinh
thần thì ngày một sắc sảo thêm vào.
Kẻ viết bài này vẫn trung
thành với lối phở cổ điển cũng như ưa nghe tuồng chèo giữ đúng điệu
xưa.
Bổ khuyết
Tôi đã toan chấm hết cái bài
nói về quà bún, thì một bà hẳn cũng là một người sành ăn đến
trách rằng: Anh nói đến quà bún mà không quên nói đến quà bún bung
thì hẳn ra là một sự bất công. Vì bún bung là một thứ quà ngon
lắm, mà lại là một món quà rất Việt Nam.
Tôi biểu đồng tình, và vội
vàng bổ vào chỗ khuyết điểm ấy, để khỏi phụ lòng những bà sành ăn
bún, và khỏi phụ công những cô hàng sớm gánh nồi bún nóng đi rao
khắp phố phường. Tôi còn nhớ rõ trên đầu lưỡi, tê như một lượt rùng
mình nhẹ, cái vị đậm ngọt và hơi ngưa ngứa của những miếng dọc sơn
hà. Cái thứ rau này, sao mà đi với bún hay thế! Tựa như trời sinh ra
để nấu bún, và cái hòa hợp dịu dàng không ở đâu là không có, trong
một tác phẩm văn chương cũng giống như trong một nồi bung nấu khéo.
Cây sơn hà (cây mùng) vốn là
những giống tựa như cây khoai mà lá to, củ thì nhỏ và tròn như quả
trứng, luộc lên ăn cũng ngon. Dọc cây, người ta tước vỏ và chẻ nhỏ,
nấu kỹ cho rõ nhừ. Một vài miếng đầu mẩu sườn để lấy nước ngọt,
một ít nghệ để nhuộm thức ăn ấy một màu vàng đầm ấm như màu vàng
của ráng chiều những ngày mùa hạ. Thêm dăm quả cà chua đỏ, một vài
miếng đu đủ xắt vuông, màu trong mỡ như ngọc quý. Chừng thứ ấy mà
có sợi bún trắng vắt qua, như một cái dây liên lạc những thức thực
xa nhau, mà vì sự sành ăn của loài người bỗng chốc nên gần gụi. Thế
là bát bún bung không biết bao nhiêu vị điểm lẫn cho nhau như các
tiếng của bản đàn. Nếu ngài lại thích ăn cay nữa, thì mấy nhát quả
ớt chỉ thiên, đủ khiến chi vị quà thêm cái nóng rực rỡ và thắm màu
của những gia vị lạ nơi Ấn Độ.
Bún sườn và Canh bún
Lại một vị khác hẳn, ấy là
hai thứ bún sườn và canh bún. Bún sườn thì hiền lành thôi, về sắc
sảo chẳng có gì. Cứ quý hồ nước cho ngọt, bún cho dẻo là được
rồi. Người ta ăn bún sườn như đọc những tiểu thuyết ngon ngọt, thích
thôi chứ không dám mê. Không có người ghét nhưng cũng không có người
tha thiết quá. Cái gì cũng ở nửa chừng.
Canh bún thì cao hơn một bậc vì
có rau cần, sánh và gắt, và nhất là có cá rô con, lạng từng miếng
một, cũng có nơi nấu với cải, nhưng không ngon bằng. Thịt rô ấy đem
lại cho thức ăn một vị đậm ngọt khác thường, không hiền lành, bởi
vì chỉ ngon trong một độ nào đó, khiến người ăn có cái cảm tưởng đi
gần một vị ghê lợm ở đầu này và ở đầu kia, và bởi thế, càng
khiến cho thức quà ngon hơn, có cái ngon của sự chênh vênh và lo sợ
... Thực vậy; canh bún để nguội thì tanh mà đun già nóng quá thì
nồng ruỗng. Ấy chỉ lúc nóng vừa đổ miệng, ăn phải xuýt xoa. Và
người ta cho hồ tiêu vào, để thêm cái cay nóng có mực thước.
Còn quà Hà Nội
Trong một bài trước, tôi đã nói
đến thứ bánh cuốn Thanh Trì, là thứ quà Hà Nội. Nhưng đây là thứ
bánh không nhân, tuy cũng gọi là bánh cuốn, mà không cuốn gì hết. Hà
Nội còn thứ bánh cuốn khác nữa, mấy lần bánh mỏng lấy nhiều vị
làm nhân mà gần đây được người hàng phố hoan nghênh đặc biệt.
Chắc nhiều người còn nhớ hương
vị của những chiếc bánh cuốn "hai mươi bốn gian". Thuở ấy,
Hai mươi bốn gian còn là một xóm thịnh vượng của cô đầu, mà sự hoạt
động vui vẻ còn kéo dài mãi đến đêm khuya. Trước cửa những nhà hát
ấy, về phía bên này đường xe điện, có một chiếc nhà lá bé con, ẩn
núp dưới bóng cây xoan xanh tốt. Trong cái nhà nghèo nàn ấy tự mười
hai giờ đêm cho tới sáng, một bà già và hai cháu nhỏ cúi mình trên
một cái nồi con bí mật làm ra những chiếc bánh cuốn nóng sốt và
ngon lành. Khách chơi đêm khi lách nhìn qua cửa liếp vào, đã ngửi
thấy mùi hành thơm phi mỡ, và trông thấy làn khói trắng bốc lên ở
chiếc nồi.
Của đáng tội, bánh cuốn của bà
cụ, cứ kể về giá trị riêng thì cũng không lấy gì làm ngon lắm.
Nhưng người ta ăn thấy ngon, vì phải tìm tòi đến mà ăn, phải chờ đợi
từng chiếc một. Vì đêm khuya, sau những cuộc hành lạc còn để lại như
vị đắng trên đầu lưỡi, người ta thèm được nếm cái vị cay chua của
nước chấm, quất mạnh như chiếc roi vào cái chán nản của sự chơi
bời.
Sau đó, khi xóm cô đầu dọn đi
chỗ khác, thì bà cụ cùng hai đứa cháu cũng không bán hàng nữa, có
lẽ không biết bán cho ai. Và cái món bánh cuốn cũng hình như không
được ưa chuộng nữa.
Cho đến gần đây, các hiệu bánh
cuốn mới lại thi nhau mở. Hiệu bánh cuốn Hàng Đồng, hiệu bánh cuốn
phố Nhà Thờ, hiệu bánh cuốn phố Mã Mây. (Hồi đó là hồi thang cuốn
khởi đầu được hoan nghênh, cùng với hiệu phở Bình Dân). Người ta bán
khắp cả đủ các hạng từ một xu cho đến một hào một chiếc, không kể
những hàng bánh cuốn rong, mỗi tối lại làm vang phố phường Hà Nội
với cái tiếng rao lanh lảnh và kéo dài.
Không kể mấy anh hàng bánh cuốn
lập dị và có vẻ đôi chút thượng lưu, đáng lẽ đội thúng thì họ
gánh một gánh như gánh phở: một bên đựng thùng bánh cuốn lúc nào
cũng bốc hơi. Rồi họ đặt ra một thứ tiếng rao kỳ lạ lốc bểu. Nghĩa
là gì? Tôi chịu không biết hai nguồn gốc của hai tiếng đó ra sao?
Nhưng cái đó không cần lắm:
điều cần là thức hàng họ ăn ngon. Tiếc thay, lại ít khi được như thế
lắm. Bột bánh của họ phần nhiều thô không được mịn, còn nhân cũng
không phải là thứ thịt ngon.
Bánh cuốn muốn ngon thì phải
nhà làm lấy. Cách làm như thế này, và tôi trình bày ở đây các
phương pháp bí truyền làm bánh cuốn, đã nẩy ra trong óc tôi một ngày
đáng ghi nhớ ở trên bờ hồ Tây. (Tại sao lại hồ Tây, xin xem qua xuống
dưới sẽ biết).
Cốt bánh để bọc thì dùng bánh
cuốn Thanh Trì, là thứ mà bột dẻo và thơm hơn hết. Như vậy, đã được
công xay bột và tráng bánh, và vị tất làm đã ngon bằng. Còn nhân
thì một ít thịt vai nửa nạc nửa mỡ thật tốt, mấy cái nấm hương,
vài lá mộc nhĩ và một ít tôm tươi hồ Tây, bóc vỏ và thái miếng.
Tôm hồ Tây, của những thuyền siết mang lên bán vào khỏang mười hai,
một giờ trưa, là thứ tôm ăn ngậy và ngọt vị.
Chừng ấy thứ, thêm mấy nhát
hành, chút nước mắm ngon, hồ tiêu bắc xào qua với mỡ trên chảo nóng.
Rồi lấy bánh cuộn nhân vào; công việc nàu nên để tay mềm mại và
khéo léo của các bà làm, để nâng niu cái màng bột mỏng cho khỏi
rách. Xong, bỏ vào nồi hấp.
Lúc ăn chấm nước mắm Phú Quốc,
chanh, ớt và cà cuống nguyên chất hồ Tây; tùy thích có thể kèm them
đậu rán nóng; một miếng ăn là một sự khoái lạc cho khứu quan và
đầu lưỡi, và chúng ta cảm ơn Thượng Đế đã dành riêng cho loài người
những thứ vị ngon.
Tôm là cái nhân cốt cần cho
nhiều thứ bánh: bánh cuốn, bún cuốn, chả rán, thang ... Cho nên một
thứ bánh bột cũng ngon là thứ bánh ít nhân tôm (nhưng mà nhiều).
Sáng sớm, thường có một vài ba
hàng đội cái thúng trên đầu đi bán; họ bán một thứ gọi là bánh tôm
và một thứ kêu là bánh ít.
Bánh trên là những cái chén
bằng bột trắng nho nhỏ, thứ bột ăn giòn. Khi bán họ múc vào cái
thứ chén ấy, một ít tôm khô tơi vụn, tẩm vào một ít mỡ rất trong.
Thứ quà trông tựa như một thứ hoa lạ, dài trắng và nhị hồng.
Còn bánh ít thì lần bột chín
trong để cho người ta đoán thấy cái màu đỏ của lưng tôm, và màu đen
của mộc nhĩ. Họ trình bày chiếc bánh như những hòn tròn, cứ trượt
trơn dưới đũa. Tôi ưa thích hơn cái hình thù bánh bao, bánh bẻ của
những nhà sang trọng ngày giỗ Tết. Trong cách nặn bánh theo hình thể
thanh thanh, người cảm thấy cái hoa tay mềm mại của các cô thiếu nữ;
cái tìm tòi nghệ thuật ấy giúp cho bánh ngon thêm nhiều lắm. Không cứ
phải có của ngon, còn cần phải nâng niu kính trọng nữa.
Hết mặn, lại đến ngọt ... Có
lẽ một độc giả nào đó không thích cái mục Hà Nội ... phố phường,
sẽ nói thế khi bắt đầu đọc bài này. Nhưng tôi không thể bỏ qua những
quà rong Hà Nội, mà lại không nói đến các thứ quà ngọt, ở Hà Nội,
cũng nhiều bằng quà mặn, và nếu người ta ưa mặn lắm, thì người ta
ưa ăn ngọt cũng không phải không nhiều.
Nhưng mà tôi cũng chỉ nói sơ qua
mà thôi. Vì các thứ quà ngọt ở Hà Nội cũng không có gì là đặc
sắc, nhất là quà nước.
Đêm đêm các phố vẫn vang động
tiếng rao của người bán hàng lục tầu xá và người bán chè sen.
Quà trên là một thứ chè đậu
xanh, ngọt đậm từ thứ nấu cả vỏ đến thứ bỏ vỏ, từ thứ đặc sệt
như bột của phần nhiều người bán Việt Nam, đến thứ loãng hơn và sặc
mùi vỏ quýt của chú Khách vẫn bán kèm với "chí mã phù"
ở các ngõ Quãng Lạc và Hàng Buồm. Còn chè sen thì chỉ người ta
bán, mà bao giờ người bán hàng cũng là một đàn ông đứng tuổi, mặc
áo cánh nâu và quần nâu. Nhưng cái thứ chè của bác ta ngọt quá, và
đắc nữa. Một xu thường chỉ được bốn, năm nhân hạt sen. Thứ quà của
bác người ta không ăn luôn, chỉ để mời mấy ông cụ nhà quê ra chơi
tỉnh, hoặc để cho bà trưởng giả nuông chiều mấy cậu non yếu dạ dày.
Cùng một thứ quà nước ngọt và
nóng ấy, thỉng thoảng ở Hà Nội, tôi còn nghe thấy cái tiếng rao là
lạ "Sa cốc mày". Lầu đầu nghe, tôi tưởng là một thứ quà
ngon lắm, ít ra cũng có một vị lạ như cái tên gọi nửa Tàu, nửa Mán
kia. Tôi gọi mua ăn. Nhưng hóp được vài hóp, thì miếng quà trở nên
khó nuốt và ngán như lúc phải nói hết một câu hài mình thấy là
nhạt rồi. Nó có gì đâu: chẳng qua là một thứ bột viên nhỏ và tròn,
nấu với nước đường.
Sao bằng mát ruột và lạnh hơn
lúc đương nực, ăn một xu chè đậu đen của cô hàng đòn gánh cong ở sau
phố Sinh Từ? Trong buổi đêm mùa hạ, khi các hè phố ngổn ngang những
người nằm ngồi hóng mát, từ viên công chức cho đến bác thợ thuyền,
thì các cô qua lại luôn luôn bật ra cái tiếng rao: "Ai cháo đậu
xanh, chè đậu đen ra", lanh lảnh và kéo dài như một luồng gió
mát.
Giờ tôi nói đến mấy thứ quà
nước ngọt có lẽ chỉ riêng Hà Nội mới có. Mà cũng không phải là
phố nào các hàng quà ấy cũng đi qua. Các thứ ấy chỉ bán quanh quẩn
trong mấy đường lối gần Hàng Buồm và phố Mã Mây, phần nhiều trong
các ngõ tối tăm. Bán cho ai? Cho những người hút thuốc phiện nghiện
hay không là những người vừa thích ăn của ngọt, lại của ngọt mát để
có nhuận tràng, và đủ cầu kỳ đề ưa những món quà phiền phức ấy.
Khi ngài say thuốc rồi, muốn ăn
thư quà ngọt để hãm dư vị của Phù Dung, nóng để khỏi giã sự say
sưa, và rẻ để đủ no với vài xu nữa, thì xin gọi mua một bát
"Súi ỉn" (hay duỷn, sùi din, hoặc tương tự) của chú Khách
trọc đầu ngồi bán ngoài cửa tiệm. (Tiện đây nói rằng chú ưa ngồi
đấy, một là để bán hàng, mà hai nữa cũng là để hịt lấy mùi hương
khói). Đó là thứ bánh trôi nước, bột bọc nhân vừng, dừa và đường,
thả lềnh bềnh trong một thứ nước cũng đường. Thứ quà rất nóng hỏi,
vô ý cắn vào thì buốt răng. Quà ấy có ngon không? Tôi chịu không biết
được. Và theo như lời một đồ đệ lão luyện của Phù Dung Tiên Tử,
muốn thưởng thức được hoàn toàn cái hương vị của cái quà ấy, thì
phải ăn lúc bụng đói và sau khi đã say sưa. Nhưng có một điều chắc
là thức quà đó hẳn khó tiêu.
Hút thuốc hay ráo cổ. Thì có
khó gì. Đã có thứ mía ngọt, nhưng mà hâm nóng, luộc trong một thứ
nước riêng, có những vị gì tôi không biết, vì mấy lần hỏi, chú bán
hàng cứ giữ bí mật của nhà nghề. Khấu mía và chén nước ấy, người
ta rao bốn tiếng lạ lùng là: "Mạo cán chè, sủi!".
Nếu ông lại muốn vừa đỡ khát,
vừa bổ âm, bổ tì hay bổ vị nữa, thì gọi mua một chén nước nóng
"Bát bảo lường xà". Bát bảo là tám của quý, tám vị thảo
mộc trong thuốc bắc, chú khách bán hàng đã cẩn thận phơi bã ở trên
ria mép cái bình, để tỏ ý muốn hàng chân thật. Cái thứ nước ngon
ngọt lờ lợ ấy đã suýt làm tôi buồn nôn. Nhưng nhiều người uống ngon
lành lắm, hứng từng giọt cho đến cặn.
Giờ ông muốn được tiêu và nhuận
tràng thì lại xin ăn một bát chè khoai. Khoai là khoai thường, cách
nấu cũng rất thường, nhưng người ta gọi bằng ba tiếng nghe rất có vẻ
Tàu: "Phán sì thoòng".
Tất cả những tiếng rao Tàu ấy,
đêm khuya văng vẳng trong những gõ tối quanh co hòa với tiếng reo của
nhĩ tẩu, với khói thơm của Phù Dung, đã tạo nên một không khí riêng
cho Hà Nội, có lẽ không đâu có.
➖ ➖ ➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét