2023-07-08
Lĩnh
Nam chích quái (5, 6, 7, 8)
Minh
họa của Tạ Huy Long
---
Trần
Thế Pháp (sáng tác ~ 1370-1400)
Vũ
Quỳnh hiệu đính (1492)
Bản
dịch của GS. Lê Hữu Mục (1960)
-----
► V. Truyện trầu cau
► VI. Truyện đầm Nhất Dạ
► VII. Truyện Đổng Thiên Vương
► VII. Truyện bánh chưng
V
Truyện trầu cau
Đời
thượng cổ có một chàng tên là Quang Lang, trạng mạo cao lớn, Quốc vương cho họ
là Cao, nhân lấy chữ Cao làm họ, sinh được hai trai, người đầu tên là Tân, người
thứ tên là Lang, học với thầy Đạo sĩ họ Lưu.
Nhà
họ Lưu có một người con gái, tuổi chừng mười bảy hay mười tám muốn tìm đôi bạn,
nhưng không biết người nào là anh em, bèn bưng một bát cháo và một đôi đũa mời
hai người ăn để xem ai là anh ai là em. Thấy người em nhường cho người anh ăn
trước, nàng bèn ghi nhớ lấy, đem tình thực trình bày với cha mẹ. Cha mẹ gả cho
người anh kết làm vợ chồng, tình ái càng ngày càng thân mật.
Sau
đấy, người em thấy anh đãi xử với mình không bằng lúc xưa, đem lòng hờn giận mới
bỏ anh mà đi. Đi đến một nơi thôn dã bỗng gặp một cái suối lớn; không có thuyền
để sang ngang, người em ngồi một mình khóc ròng rồi chết hóa thành một cái cây.
Đến khi người anh mất em mới bỏ vợ đi tìm thì thấy em đã chết bèn gieo mình bên
gốc cây, mà tự tận hóa thành một tảng đá quẩn quanh gốc cây. Sau đấy, người vợ
lấy làm lạ sao chồng mình đi đã lâu mà không thấy về liền bỏ đi tìm, thấy chồng
đã chết, nàng cũng gieo mình ôm lấy tảng đá mà chết luôn, hóa ra một sợi dây
leo vấn vít trên đá, ngọn lá mùi thơm và cay. Cha mẹ Lưu Thị đi tìm con, đến đó
cũng than khóc, rồi lập đền ở chỗ ấy mà thờ, người đương thời đi qua đấy, ai
cũng đốt nhang vái lạy, khen là anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa.
Trong
khoảng tháng Bảy, tháng Tám, khí nóng còn nồng, Hùng Vương đi tuần hành thường
nghỉ chân ở đây để tránh nắng. Trông thấy trước đền im mát, dây lá phủ trùm,
Vương lên tảng đá đứng ngắm nghía, hỏi ra mới biết công việc như thế, Vương lập
tức bảo cận thần hái một trái cây và hái một lá dây leo, Vương thân nhai đi rồi
nhổ trên đá, thấy có sắc đỏ tươi biết là vị ngon mới lấy đem về, bảo lấy đá lửa
nung đá làm vôi, cùng với trái cây, lá dây hợp làm một mà ăn, thấy vị ngọt béo,
thơm cay, môi mép sinh đỏ, mới truyền ban ra thiên hạ, phàm những lễ giá thú, hội
đồng lớn nhỏ, đều phải lấy vật này làm trước. Từ bấy giờ nước Nam có tục ăn trầu
cau là bắt đầu từ đấy vậy.
➖➖➖
VI
Truyện đầm Nhất Dạ [1]
Hùng
Vương truyền ngôi đến vua cháu ba đời, có sinh được một người con gái tên là
Tiên Dung Mỵ Nương, tuổi vừa mười tám, dung mạo tú lệ, nguyện không lấy chồng,
chỉ thích ngao du thiên hạ. Vương chiều mà nghe theo. Mỗi năm khoảng tháng Hai,
tháng Ba, nàng sửa soạn thuyền ghe, lênh đênh ngoài biển, vui chơi quên cả ngày
về.
Lúc
bấy giờ Chử Xá Lang [2] có người tên là Chử Vy Vân sinh được một người
con trai tên là Chử Đồng Tử, hai cha con tính vốn hiền lành, nhà nghèo lại gặp
nhà cháy, của cải khánh tận chỉ còn một cái khố vải, cha con ra vào thay đổi
nhau mà mặc. Bị bệnh già, cha bảo con rằng:
–
Ta chết thì chôn lỗ cũng được, để cái khố lại cho con mặc kẻo xấu hổ.
Cha
chết, người con không nỡ làm thế, cứ để cả khố mà chôn. Chử Đồng Tử bấy giờ
thân hình trần truồng, lạnh đói khôn xiết, mới cầm cần câu đi đến bờ sông câu
cá, trông thấy thuyền buôn đi qua, đứng vào giữa nước mà xin ăn. Nào ngờ thuyền
của Tiên Dung bỗng đến đó; nghe thấy tiếng chuông trống đàn sáo, thấy những
nghi trượng cờ xí, Đồng Tử sợ hãi, không biết trốn tránh vào đâu, trông thấy
trong bãi phù sa có chồm lau sậy, lơ thơ năm ba gốc, bèn ẩn thân vào đó, đào
cát thành huyệt để giấu mình, lại lấy cát vùi lên trên. Giây lát, thuyền của
Tiên Dung ghé vào đó; nàng dạo chơi trên bãi cát, truyền lấy mùng màn vây kín cả
chỗ lau sậy để tắm. Tiên Dung vào trong màn, cởi áo múc nước dội tắm; cát chảy,
thân hình Đồng Tử lộ ra, hồi lâu Tiên Dung biết là con trai. Tiên Dung nói:
–
Ta đã không thích lấy chồng, nay lại gặp người này ở trong huyệt cát, có lẽ trời
khiến thế chăng? Thôi ngươi hãy dậy mà tắm rửa đi.
Rồi
ban cho áo quần, cùng nhau xuống thuyền ăn uống hoan lạc; người trong thuyền đều
cho là một sự gặp gỡ tốt lành xưa nay chưa từng có. Đồng Tử nói rõ sự tích cho
Tiên Dung nghe; Tiên Dung thương xót, bảo làm vợ chồng. Đồng Tử cố từ. Tiên
Dung nói:
–
Việc này tự trời tác hợp, việc gì mà từ chối?
Những
người tháp tùng đem việc ấy lâu lên với Hùng Vương; Hùng Vương giận bảo rằng:
–
Tiên Dung không biết trọng danh tiết, không biết tiếc tiền của ta, đi chơi giữa
đường lại hạ giá [3] với người nghèo, còn mặt mũi nào mà thấy ta nữa;
từ nay mặc kệ nó, không cho trở về nước nữa.
Tiên
Dung nghe tin, sợ không dám trở về mới cùng với Đồng Tử mở chợ búa, lập phố xá,
cùng nhân gian mậu dịch, dần dần nơi ấy thành một ngôi chợ lớn (nay là chợ Hà
Lõa); thương nhân ngoại quốc qua lại buôn bán, kính sự Tiên Dung Đồng Tử làm chủ;
có một nhà đại thương đến nói với Tiên Dung rằng:
–
Quý nhân xuất ra một thoi vàng, năm nay cùng với người nhà buôn ra ngoài biển
mà mua vật quý, sang năm sẽ lời được một thoi.
Tiên
Dung bảo Đồng Tử rằng:
–
Vợ chồng ta do trời định khiến, ăn mặc là của trời cho, bây giờ nên lấy một
thoi vàng cùng với người nhà buôn đi ra biển mà mua hàng đem về làm kế sinh
nhai.
Đồng
Tử bèn cùng đi với người nhà buôn; ngoài biển có một hòn núi tên là Quỳnh Viên
Sơn; trên núi có một chiếc am nhỏ, người đi buôn ghé thuyền ở đấy mà múc nước;
Đồng Tử lên chơi trên am, có một tiểu tăng tên là Phật Quang truyền phép cho Đồng
Tử. Đồng Tử mới lưu lại am nghe thuyết pháp, giao vàng cho người đi buôn mua
hàng, dặn lúc nào trở về thì ghé lại am để chở Đồng Tử về. Nhà sư mới tặng cho
Đồng Tử một cái gậy và một cái nón, bảo rằng:
–
Linh thông tại đây đó.
Đồng
Tử trở về, đem chuyện đạo Phật nói hết với Tiên Dung, từ đó giác ngộ, bỏ chợ
búa, nghề buôn, đem nhau đi tìm thầy học đạo. Một hôm trời đã tối mà chưa đến
nhà trọ, họ mới ở lại giữa đường, cắm gậy úp nón lên trên để che. Đêm đến canh
ba, thấy hiện ra thành quách, lầu son đền báu, đài các lăng miếu, kho tàng miếu
xã, vàng bạc châu ngọc, chiếu giường mùng màn, tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị
vệ la liệt đầy ở trước mặt. Sáng ngày, ai trông thấy cũng lấy làm kinh dị,
tranh nhau đem những vật hoa hương ngọc thực đến dâng hiến và xưng thần. Văn võ
bá quan phân quân túc vệ, biệt lập thành một nước.
Hùng
Vương hay tin cho là con gái mình làm loạn mới phát binh đi đánh; quan quân đến
rồi, quần thần xin phân quân án ngữ. Tiên Dung cười rằng:
–
Chuyện này không phải tự ta làm ra, cũng là trời giun giủi; sinh tử tại thiên,
ta đâu dám chống cha, phải thuận chịu điều chính, chờ lệnh chém giết.
Lúc
bấy giờ những người mới tập hợp sợ hãi mà chạy tán loạn, chỉ còn bọn người cũ ở
lại với Tiên Dung. Quan quân kéo đến đóng doanh ở bãi Tự Nhiên, chỉ còn cách một
con sông lớn; ngày sắp tối nên chưa kịp tiến binh. Chừng đến nửa đêm, hốt nhiên
gió lớn thổi làm nổi sóng đổ cây; quan quân đại loạn; bộ đảng, thành quách của
nàng Tiên Dung nhất thời nhổ đi bay lên trời; đất ở chỗ ấy sập xuống thành một
cái đầm lớn. Sáng ngày, dân gian trông không thấy thành nữa, cho là linh dị bèn
lập miếu đường, thời thường đến tế, gọi đầm ấy là Nhất Dạ Trạch, châu ấy là Man
Trù Châu (hoặc gọi là Tự Nhiên Châu), chợ ấy là Hà Lõa Thị. Sau đến đời Nam Đế,
binh nhà Lương sang xâm chiếm nước ta, vua sai Triệu Quang Phục làm tướng đem
binh ngăn giữ. Quang Phục xuất chúng [4] tàng ẩn ở trong đầm, cái đầm
ấy sâu rộng bùn lầy, khó bề tiến lui; Quang Phục cỡi chiếc thuyền độc mộc qua lại
cho tiện, thường nhân đêm tối, cỡi thuyền độc mộc mà đột xuất đánh phá cướp lấy
lương thực, làm kế trì cửu cho giặc kiệt quệ. Ba bốn năm trường giặc không đánh
được. Bá Tiên than rằng:
–
Đời xưa gọi là đầm nhất dạ thăng thiên, ngày nay lại là cái đầm nhất dạ đạo kiếp.
Gặp
lúc Hầu Cảnh tác loạn bên Trung Hoa, vua Lương triệu Bá Tiên về, ủy quyền cho tỳ
tướng Dương Sằn thống lĩnh quần chúng.
Quang
Phục trai giới thiết đàn ở trong đầm, đốt hương cầu đảo. Thoát thấy thần nhân cỡi
rồng giáng xuống giữa đầm, bảo Quang Phục rằng:
–
Ta lên trời nhưng linh dị còn ở đây, người có lòng thánh cầu đảo, ta đến giúp để
bình loạn tạc.
Rồi
cởi vuốt rồng đưa cho Quang Phục bảo giắt vào đầu đâu mâu, hễ đánh đâu là được
đó. Nói đoạn lại bay lên trời; Quang Phục y như lời dặn đem binh đột kích, binh
Lương đại bại, chém được tướng Dương Sằn ở trận tiền, binh Lương lui chạy.
Quang
Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn tự lập lên làm Triệu Vương, đóng đô ở quận Vũ
Ninh núi Trâu Sơn. [5]
[1] Đầm Một Đêm.
[2] Làng Chử Xá.
[3] Lấy một người dưới.
[4] Điều khiển một số người.
[5] Nghe giọng văn thì truyện Triệu Quang Phục
khó lòng là một truyện có thực. Có lẽ là một truyện như các truyện khác, do óc
tưởng tượng của nhà văn sáng tạo ra.
➖➖➖
VII
Truyện Đổng Thiên Vương
Đời
Hùng Vương thứ ba, thiên hạ thái bình, dân vật đầy đủ, Ân Vương lấy sự thiếu lễ
triều cống, giả đi tuần thú để xâm chiếm nước ta.
Hùng
Vương nghe được mới triệu quần thần hỏi về kế hoạch đánh hay giữ. Có nhà phương
sĩ dâng lời nói rằng:
–
Không gì bằng cầu Long quân để nhờ âm phù.
Hùng
Vương nghe theo mới đắp đàn trai giới, đặt vàng bạc lụa là ở trên bàn, đốt
hương cầu tế ba ngày thì trời cảm sấm mưa, thoắt thấy một ông già cao hơn sáu
thước mặt vuông, bụng lớn, râu mày bạc phơ, ngồi ở ngã ba mà nói cười ca múa;
người ta trông thấy, ngờ là người phi thường mới tâu với vua. Vua thân hành ra
bái yết, rước vào trong đàn; ông già không ăn uống, không nói năng gì cả.
Hùng
Vương đến trước hỏi rằng:
–
Nay binh nhà Ân sắp sang đánh, hơn thua ra sao, nếu có kiến thức gì xin bày cáo
cho.
Ông
già giây lát mò thẻ ra bói, thưa với vua rằng:
–
Sau ba năm giặc mới qua đánh.
Vua
lại hỏi kế hoạch để đánh giặc, ông già đáp rằng:
–
Nếu có giặc đến thì phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ tốt để cho nước
có uy thế, rồi tìm khắp thiên hạ có ai dẹp được giặc thì phong cho tước ấp, hễ
được người ấy thì dẹp được giặc ngay.
Nói
đoạn, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân.
Vừa
đúng ba năm, biên binh cáo cấp có quân Ân sang, Hùng Vương y theo lời nói của
lão nhân, sai sứ đi khắp thiên hạ để tìm người dẹp giặc.
Sứ
giả đến làng Phù Đổng, quận Vũ Ninh, trong làng có một ông nhà giàu đã hơn sáu
mươi tuổi mới sinh được một người con trai ba tuổi không biết nói, chỉ nằm ngửa
không ngồi dậy được. Bà mẹ nghe Sứ giả đến, nói bỡn với con rằng:
–
Sinh được thằng này thì chỉ biết ăn uống chớ không biềt đánh giặc để lĩnh thưởng
của triều đình mà đền ơn bú mớm.
Đứa
trẻ nghe mẹ, thình lình nói lên rằng:
–
Mẹ hãy gọi Sứ giả vào đây, con hỏi thử xem là việc gì.
Bà
mẹ cả kinh, mừng rỡ bảo với xóm làng:
–
Con tôi đã biết nói.
Xóm
giềng cũng lấy làm lạ mới rước Sứ giả về nhà; Sứ giả hỏi rằng:
–
Mầy là đứa trẻ mới biết nói mà bảo kêu ta đến làm gì?
Đứa
trẻ mới ngồi dạy bảo sứ giả rằng:
–
Lập tức về tâu với vua đúc cho ta một con ngựa sắt cao mười tám thước, một gươm
sắt dài bảy thước, một cái nón sắt, trẻ này cỡi ngựa, đội nón đi đánh giặc cho,
giặc sẽ phải tan tành, nhà vua việc gì mà lo.
Sứ
giả chạy về trình cáo với vua. Vua mừng bảo rằng:
–
Thế thì ta không lo gì vậy.
Quần
thần đều tâu:
–
Một người đánh giặc làm sao mà phá nổi?
Vua
nói:
–
Đó là Long Quân giúp ta, lời lão nhân đã nói trước không phải là nói không, các
ngươi không nên ngờ.
Rồi
sai tìm sắt cho được mười cân luyện thành ngựa sắt, gươm sắt và nón sắt; Sứ giả
đem tất cả đến; bà mẹ thấy thế cả kinh, sợ họa đến cho mình, lo sợ hỏi con.
Đứa
trẻ cả cười nói rằng:
–
Mẹ đem cơm thật nhiều cho con ăn, con đi đánh giặc, mẹ đừng lo sợ.
Rồi
đứa trẻ lớn rất mau, áo cơm hằng ngày bà mẹ cung cấp không đủ; hàng xóm nấu
thêm cơm; làm thịt trâu, rượu, bánh, trái, thế mà đứa trẻ vẫn không no bụng; vải
lụa gấm vóc mặc chẳng kín hình, đều phải lấy thêm hoa cây lô mà che nữa.
Đến
khi quân nhà Ân kéo đến Trâu Sơn, đứa trẻ mới duỗi chân đứng dậy, mình cao hơn
mười trượng, nghểnh mũi mà nhẩy, nhẩy mũi hơn mười tiếng rồi tuốt gươm nói lớn
lên rằng:
–
Ta là Thiên tướng đây!
Bèn
đội nón nhảy lên ngựa, ngựa phi như bay, múa gươm xông đến trước, quan quân
theo sau đến sát lũy giặc, dàn trận dưới núi Trâu Sơn. Quân Ân cả vỡ, trở giáo
chạy lùi, Ân Vương chết ở Trâu Sơn, còn dư đảng thì la liệt sụp lạy và hô rằng:
–
Thiên tướng, chúng tôi hết thảy xin đầu hàng.
Đứa
trẻ đi đến núi Việt Sóc mới cởi áo mặc rồi cỡi ngựa bay lên trời, chỉ lưu dấu
chân trên đá ở dưới núi mà thôi.
Hùng
Vương, nhớ đến công lao, không biết lấy gì đền báo mới tôn làm Phù Đổng Thiên
Vương, lập đền thờ ở vườn nhà làng ấy, cho ruộng một trăm khoảnh để làm lễ hưởng
tế xuân thu.
Đời
nhà Ân hai mươi bảy vua, trải qua sáu trăm bốn mươi năm, không dám đem binh
sang đánh nữa.
Man
di bốn phương nghe được như vậy cũng đều thần phục, về phụ với Vương. Sau vua
Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập miếu tại làng Phù Đổng (nay ở
huyện Tiên Du) bên chùa Kiến Phúc, tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu đều có lễ
tế vậy.
Có
bài thơ rằng:
Vệ
Linh năm tháng đám mây nhàn.
Muôn
tía nghìn hồng chói thế gian.
Ngựa
sắt ở trời, danh ở sử.
Uy
linh lừng lẫy khắp giang san.
➖➖➖
VIII
Truyện bánh chưng
Sau
khi Hùng Vương đã phá giặc Ân rồi, trong nước thái bình mới lo việc truyền ngôi
cho con, hội hai mươi hai vị Công tử lại mà bảo rằng:
–
Ta muốn truyền ngôi cho đứa nào làm vừa lòng ta là đến kỳ cuối năm biết đem
trân am mỹ vị đến dâng cúng Tiên vương để tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi
cho.
Các
công tử lo đi tìm các vị trân kỳ, hoặc săn bắn, chài lưới, hoặc mua ở chợ, vụ
được nhiều của ngon vật lạ không biết bao nhiêu mà kể. Duy có công tử thứ chín
tên là Lang Liệu, bà mẹ hàn vi đã lâm bệnh mà quá cố rồi, tả hữu lại ít người
nên khó bề toan tính, ngày đêm thao thức ăn ngủ không yên.
Hốt
nhiên mộng thấy thần nhân bảo rằng:
–
Trong trời đất không có vật gì quý bằng gạo, vì gạo là của để nuôi dân, người
ta ăn mãi không chán, không có vật gì đứng trước được; nếu lấy gạo nếp hoặc gói
làm hình tròn để tượng trời, hoặc gói làm hình vuông để tượng đất, ở trong làm
nhân cho thật ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý cái ơn
trời đất phát dục vạn vật, như thế thì lòng cha sẽ vui, tôn vị chắc được.
Lang
Liệu kinh sợ tỉnh dậy, mừng rằng: “Thần minh giúp ta, ta nên bắt chước theo mà
làm”.
Lang
Liệu mới lựa hột nếp nào trắng tinh, hoàn toàn không sứt mẻ thì đem vứt đi, để
cho ráo rồi lấy lá chuối gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đem nấu
đi cho chín, gọi là bánh chưng. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho thực nhuyễn, nắn
làm hình tròn để tượng hình trời, gọi là bánh dày,
Đúng
kỳ, Vương hội các con lại trưng bày phẩm vật; các con đem dâng không thiếu thức
gì, duy chỉ có Lang Liệu đem bánh tròn, bánh vuông đến dâng. Hùng Vương lấy làm
lạ hỏi Lang Liệu. Lang Liệu trình bày như lời thần nhân đã bảo. Vương thân hành
nếm thử thì thấy vị ngon vừa miệng ăn không chán, phẩm vật của các công tử khác
không sao hơn được. Vương khen ngợi giây lát, rồi cho Lang Liệu được giải nhất.
Năm
hết, Vương dùng bánh ấy dâng lên Tiên Miếu và cung phụng cha mẹ, thiên hạ bắt
chước truyền đến bây giờ, lấy tên của Lang Liệu để gọi là Tiết Liệu.
Hùng
Vương truyền ngôi cho Lang Liệu; hai mươi mốt anh em đều giữ các phiên trấn, lập
làm bộ đảng, cứ thủ núi sông để làm hiểm cố.
Về
sau, họ hằng tranh nhau làm trưởng, mỗi người dựng mộc sách để che kín bởi vậy
gọi là sách, là trại, là trang, là phường khởi thủy từ đấy vậy.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét