2023-11-18
Lòng
Cha
Rabindranath Tagore
(Giải
Nobel Văn học 1913)
Dịch giả: Trí Hải
Mini,
bé gái năm tuổi của tôi, có lẽ không sống được nếu không nói ba hoa suốt ngày.
Tôi nghĩ suốt đời cô bé đã không phí một phút giây nào im lặng. Mẹ nó thường
không hài lòng về điều ấy, và thường ngăn cô lại, nhưng tôi thì không. Với
Mini, im lặng là chuyện bất thường, và tôi không thể chịu đựng lâu. Bởi thế,
câu chuyện giữa tôi và cô bé luôn luôn sinh động. Chẳng hạn một buổi sáng, khi
tôi đang viết dở một chương tiểu thuyết thì cô bé lẻn vào, cầm lấy tay tôi mà
nói:
-
Cha! Lão bộc gọi con con chó là con muông. Lão không biết gì cả, phải không
cha?
Tôi
chưa kịp giảng giải, thì cô bé đã chuyển sang một vấn đề khác.
-
Cha nghĩ sao, cha? Bộc nói có con voi trong những đám mây, vòi nó phun nước, và
thế là trời mưa. Có phải vậy không cha?
Trong
khi tôi đang tìm cách trả lời câu này, bé đã hỏi một câu khác:
-
Cha! Mẹ và cha bà con ra sao nhỉ?
Tôi
cố lập nghiêm bảo:
-
Ra chơi với Bộc đi, Mini. Cha đang bận.
Cửa
sổ phòng tôi trông ra đường. Cô bé đã ngồi xuống dưới chân tôi, cạnh bàn viết
và đang chơi một mình. Tôi đang suy nghĩ rất lung để viết. Bỗng cô bé Mini vùng
chạy lại cửa và reo lên:
-
Ông Cabul, ông Cabul!
Và
quả thế, ngoài đường dưới kia, một người đàn ông miền Cabul đang tiến bước. Y mặc
bộ quần áo trông có vẻ nghèo nàn và dơ dáy, buộc một thắt lưng dài, lưng mang
chiếc bị, tay cầm những hộp nho khô. Không biết cô bé nghĩ gì khi thấy người
này, nhưng cô bắt đầu gọi ông thật lớn. Ngay lúc ấy lão ta quay lại và nhìn lên
cô bé.
Cô
bé thấy vậy thất kinh hồn vía, chạy bay đến nấp bên mẹ. Cô tin chắc thế nào
trong chiếc bị mà lão đang mang cũng có hai ba đứa trẻ con như cô. Người hàng
rong ấy đã vào đến cửa và mỉm cười chào tôi. Phản ứng đầu tiên của tôi là mua một
món gì đó, vì Mini đã gọi y vào nhà. Tôi mua ít vật dụng, và chúng tôi khởi sự
nói chút đỉnh chuyện chính trị. Khi sắp từ giã, bỗng hắn hỏi:
-
Còn cô bé đâu rồi, thưa ông?
Nghĩ
rằng nên làm cho Mini hết sợ hão huyền, tôi cho đem cô bé ra. Cô đứng bên ghế
tôi, nhìn chòng chọc vào người Cabul cùng chiếc bị. Y biếu cô cả đậu phụng và
nho khô, nhưng cô nhất định không để bị dụ dỗ. Cô càng bám riết lấy tôi và càng
nghi ngờ lão thêm.
Đấy
là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa lão Cabul và cô bé. Tuy nhiên, vài hôm sau, khi đi
ra có tí việc, tôi giật mình thấy Mini ngồi trên chiếc ghế nhỏ cạnh cửa ra vào,
đang cười nói với lão Cabul ngồi dưới chân. Suốt đời, cô chưa bao giờ được ai
ngoài cha cô, đã nghe cô một cách chăm chú như vậy. Cái túi áo của cô đã đầy ắp
đậu phụng và nho khô của người khách lạ. “Sao ông cho nó làm gì thế?”, tôi nói,
vừa rút tiền trả cho lão. Ông thản nhiên nhận tiền cho vào túi.
Một
giờ sau trở về, tôi mới thấy tai hại của đồng bạc tôi đưa ra. Người Cabul đã
đưa cho Mini, và khi mẹ nó thấy đồng bạc, bèn vồ lấy cô bé:
-
Con lấy đồng bạc ở đâu, bé?
-
Ông Cabul cho con! Mini hớn hở đáp.
-
Ông Cabul cho con! Mẹ nó thét lên - Mini, sao dám lấy bạc hở?
Vừa
lúc ấy tôi đi vào cứu cô bé thoát nạn bị đòn. Tôi tiếp tục điều tra về đôi bạn.
Tôi
khám phá đấy không phải lần đầu họ gặp nhau. Người Cabul đã đánh tan sự sợ hãi
của cô bé bằng cách đút lót thật nhiều đậu phụng và nho khô.
Đến
nay hai bên đã thành đôi bạn thiết. Họ có nhiều trò đùa mà họ rất khoái. Mini
thường ngồi trước lão Cabul, nhìn xuống vóc dạng khổng lồ ấy với vẻ đường bệ của
một bà chủ tí hon, khuôn mặt cười lên rạng rỡ, và cô hỏi:
-
Ông Cabul, ông Cabul, ông đựng cái gì trong bị ấy?
Và
ông lão sẽ trả lời bằng giọng mũi của người thượng du:
-
Một con voi!
Không
có gì đáng tức cười lắm, vậy mà họ hoan hỉ làm sao. Và riêng tôi, cuộc chuyện
trò giữa một đứa trẻ với người lớn luôn có vẻ gì đó rất quyến rũ.
Rồi
người Cabul, để khỏi thua bạn, bắt đầu hỏi lại cô bé:
-
Còn cô, này cô bé, bao giờ thì cô về nhà ông nhạc?
Hầu
hết các cô bé Ấn Độ đều sớm nghe danh từ ấy, nhưng chúng tôi thì không bao giờ
nói những chuyện như thế với con gái, cho nên trước câu hỏi ấy, cô hơi bối rối.
Nhưng cô không muốn để lộ sự lúng túng của mình, và đã hỏi lại:
-
Còn ông có về đấy không?
Đối
với giai cấp người Cabul này, thì từ ngữ về nhà ông nhạc lại có nghĩa là nhà
tù, nơi họ được ăn ở miễn phí. Người ấy bèn trả lời:
-
Ô, tôi sẽ đánh vỡ mặt ông nhạc ra!
Vừa
nói lão vừa nắm tay hăm doạ một viên cảnh sát vô hình. Mini nhíu mày, rồi cười
lên như nắc nẻ. Lão cũng cười theo phụ hoạ.
Đấy
là vào những buổi sáng đầu thu, mùa các vua chúa ngày xưa lên đường viễn chinh
dẹp giặc. Còn tôi không rời khỏi góc nhà quê hương, nhưng vẫn để tâm hồn phiêu
du khắp chân trời góc bể. Mỗi khi nghe địa danh một nơi nào, hồn tôi đã vươn tới
chỗ ấy, và bóng một người xứ khác đến trên đường cũng khiến tôi dệt nên những
giấc mơ xa xăm về quê hương của anh ta ở cuối chân trời, nghĩ đến những cuộc đời
giang hồ lãng tử. Những xứ lạ hiện lên trong trí tôi càng sống động, có lẽ vì
cuộc sống hiện tại của tôi quá giống với cỏ cây. Tiếng gọi viễn du réo rắc
trong tôi, tựa hồ tiếng sóng triều gào thét. Bởi thế, trông thấy người Cabul
này, trí tôi liên tưởng ngay đến những vùng núi non cằn cỗi trên cao, chen chúc
với mây trời. Tôi mường tượng những đoàn lạc đà chở hàng đi trên sa mạc, những
thương gia lưng đeo vũ khí hộ thân đang tiến về hướng bình nguyên. Tôi thấy và
thấy trong trí tưởng tượng…
Nhưng
giữa lúc ấy, luôn luôn mẹ Mini sẽ xen vào, tha thiết dặn tôi phải “coi chừng
lão ấy”. Bà rất dè dặt mỗi khi nghe tiếng huyên náo ngoài đường, hay thấy người
vào nhà, và luôn đi đến kết luận, một là kẻ cướp, hai là kẻ say, hoặc rắn hổ
mang, bệnh sốt rét, phong cùi. Sau bao nhiêu năm kinh nghiệm giữa trường đời,
bà vẫn chưa thắng lướt được nỗi sợ hãi triền miên trong lòng bà. Bởi thế, bà
luôn luôn nghi ngờ về người Cabul, và thường van nài tôi phải coi chừng lão ấy.
Nếu tôi cố xua đuổi nỗi sợ hãi vô căn cứ của bà bằng cách cười lớn, thì bà
nghiêm mặt hỏi với dáng điệu rất trịnh trọng:
-
Thế trẻ con không bao giờ bị bắt cóc ấy à? Thế không phải ở Cabul còn có bán nô
lệ ư? Một người đàn ông to lớn bắt một đứa trẻ xíu không được hay sao?
Tôi
nói, không phải là không được, nhưng không lẽ nào có chuyện như thế. Tuy thế bà
vẫn lo sợ. Nhưng vì nỗi sợ hãi ấy thật bâng quơ, nên không lý gì để cấm đoán
lão vào nhà. Sự thân thiện giữa đôi bạn - một khổng lồ, một chim chích - vì thế
vẫn tiếp tục không bị ngăn cản.
Hàng
năm vào giữa tháng giêng, Rahman - tên người Cabul ấy, thường về xứ một lần, và
khi sắp về, y thường rất bận rộn đi các nhà để thâu tiền nợ. Năm nay, tuy vậy
ông vẫn còn thì giờ đến thăm Mini. Một người khác rất có thể nghi ngờ lão có
mưu toan gì đấy, vì khi không tới được buổi sáng, lão cũng tới vào buổi chiều.
Ngay
cả tôi, đôi khi cũng thấy chột dạ chút đỉnh lúc bắt gặp bóng người to lớn ấy đứng
trong góc phòng của tôi. Nhưng khi Mini hớn hở reo lên “ông Cabul, ông Cabul”
và đôi bạn khởi sự những trò đùa thường lệ, thì tôi lại yên tâm ngay.
Một
buổi sáng vài ngày trước khi lão về nhà, tôi đang chữa lại bản thảo trong phòng
viết. Trời rất lạnh. Qua song cửa, ánh mặt trời chiếu vào sưởi ấm hai chân tôi.
Lúc ấy vào khoảng tám giờ, những khách bộ hành đi đường đang trùm khăn lạnh. Bỗng
chốc tôi nghe ngoài đường huyên náo. Nhìn ra thì thấy Rahman đang bị còng tay dẫn
đi giữa hai người cảnh sát, sau lưng là một lũ trẻ tò mò. Áo quần Rahman dính đầy
máu, và một trong hai cảnh sát đang cầm một con dao. Tôi vội bước ra hỏi xem có
chuyện gì. Từ mỗi người một ít, tôi được biết rằng một người lối xóm đã nợ
Rahman tiền mua một cái khăn quàng, nhưng lại chối, bảo không từng mua nó.
Trong lúc cãi vã, Rahman đã đánh người kia. Bấy giờ, trong cơn tức giận, phạm
nhân chửi rủa đối phương đủ điều. Và điều tệ nhất đã xảy ra. Nhưng bỗng chốc từ
hiên nhà tôi, Mini đã xuất hiện với tiếng reo thường lệ “Ông Cabul, ông Cabul”.
Gương mặt người Cabul rạng rỡ lên khi nhìn thấy cô bé. Hôm nay lão không mang
chiếc bị, nên cô bé không thể nói về con voi với lão. Bởi thế cô hỏi sang câu
thứ hai:
-
Ông về nhà ông nhạc ấy à?
Rahman
cười lớn bảo:
-
Chính thế, bé ơi!
Rồi
thấy câu trả lời không làm cô bé thích thú, lão đưa hai bàn tay bị còng lên:
-
A! Đáng lẽ tôi đánh cho vỡ mặt ông nhạc, nhưng tay tôi bị còng rồi.
Bị
kết tội cố ý giết người, Rahman ở tù nhiều năm. Thời gian trôi nhanh, Rahman đã
bị quên lãng. Công việc thường ngày trong chỗ ở thường ngày vẫn tiếp diễn, nên
chúng tôi không bao giờ nghĩ đến một người thượng du nghèo khó đang chịu tù tội
trong ngục thất. Cả đến cô bé Mini cũng đã quên mất người bạn cũ của nàng. Càng
lớn, nàng càng có nhiều mối quan hệ với bạn gái, và không còn vào phòng làm việc
của tôi như trước. Bởi thế tôi rất hiếm dịp nói chuyện với con.
Nhiều
năm trôi qua, lại một mùa thu trở về. Chúng tôi đang sửa soạn hôn lễ cho cô gái
Mini của chúng tôi. Đám cưới sẽ cử hành trong một dịp lễ. Với Mini, về nhà chồng,
có nghĩa là ánh sáng của ngôi nhà cũng sẽ đi theo, để lại cha nàng trong bóng tối.
Buổi
mai ấy thật tươi sáng. Sau những ngày mưa, không trung như đã được rửa sạch và
ánh sáng mặt trời trông như ánh vàng ròng. Những tường gạch cũ kỹ ngoài đường
phố cũng sáng lên dưới ánh nắng trong vắt. Từ rạng đông, những hồi còi đã vang
lên báo hiệu hôn lễ. Mỗi hồi còi làm cho tim tôi rộn ràng muôn mối, đồng thời
cũng làm tăng nỗi đau buồn của tôi trước cảnh chia ly. Mini sẽ về nhà chồng đêm
ấy. Trong sân, lọng che rợp đất. Những đèn lồng và lục lạc được treo khắp các
phòng và hiên nhà. Khắp nơi người ta vội vàng hối hả. Tôi đang ngồi trong phòng
một mình tư lự thì bỗng một người đi vào lễ phép chào, và đứng trước mặt tôi. Đấy
là Rahman, người Cabul dạo nọ. Ban đầu, tôi không nhận ra lão, vì lão không
mang bị, mảng tóc dài đã được hớt cao, và vẻ cường tráng năm xưa không còn nữa.
Nhưng khi lão mỉm cười, tôi lại nhận ra ngay.
-
Ông về lúc nào thế, Rahman?
-
Tôi được thả tối qua.
Những
lời ấy làm tôi hơi choáng. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với một người nào từng cố
ý đã thương đồng loại. Lòng tôi đau nhói khi nhớ ra điều này, vì tôi nghĩ ngày ấy
sẽ tốt hơn nếu hắn ta đừng xuất hiện.
-
Hôm nay nhà có việc, và tôi đang bận. Có lẽ ông có thể đến vào một dịp khác
chăng?
Lão
liền quay đi, nhưng khi ra đến cửa, lão ngập ngừng bảo:
-
Thưa ông, tôi có thể thăm cô bé một lát?
Lão
tin tưởng rằng Mini vẫn còn bé xíu như ngày xưa. Chắc lão mường tượng cô bé sẽ
chạy ra hớn hở gọi “ông Cabul, ông Cabul” như dạo nào, và họ sẽ cười đùa với
nhau như trước.
Quả
vậy, cũng như những ngày xưa, hôm nay lão cũng mang đến ít đậu phụng và nho khô
gói kỹ trong bọc giấy. Những thứ ấy không biết làm thế nào lão kiếm được trong
lúc mới ở tù về.
Tôi
lặp lại:
-
Nhà có việc, ông không thể gặp ai hôm nay cả.
Lão
sa sầm nét mặt, và nhìn tôi với vẻ thèm muốn số phận của tôi, đoạn nói một lời
chúc tụng rồi đi ra. Tôi hơi thương hại, muốn gọi lão trở vào. Nhưng lão đã tự
ý quay trở lại, đến cạnh tôi và nói:
-
Thưa ông, tôi đã đem lại chút quà này biếu cô bé. Ông có thể trao lại dùm tôi?
Tôi
nhận gói quà, định trả tiền, nhưng ông ngăn lại:
-
Ông thật quý hoá. Xin ông hãy nhớ đến tôi là đủ. Đừng cho tôi tiền. Ông có một
cô con gái. Tôi cũng có một bé gái giống như thế ở quê nhà. Tôi nhớ con tôi,
nên mang quà tới cho cô bé, chứ không phải để hòng kiếm chác gì đâu.
Nói
xong, lão sờ tay vào túi trong, lấy ra một mảnh giấy dơ dáy, mở ra vuốt thật thẳng
bằng cả hai tay trên mặt bàn. Mảnh giấy in hình một bàn tay nhỏ xíu. Không phải
một bức ảnh, hay bức hoạ, mà chỉ là dấu mực in một tay bé con trên tờ giấy nhàu
nát. Hình bàn tay của con gái lão, lão đã luôn mang theo bên trái tim mình, từ
khi lão đến xứ này bán hàng rong năm này qua năm khác.
Mắt
tôi ướt đẫm. Tôi quên rằng lão là một người thượng du nghèo khó, còn tôi…. Ồ
không, tôi có gì hơn lão? Lão cũng là một người cha.
Bàn
tay in của cô bé con lão ở vùng thượng du quê nhà xa xăm của lão, nhắc tôi nhớ
đến con tôi. Tôi cho gọi ngay Mini vào. Cô bé đang mặc chiếc áo cưới bằng lụa đỏ,
trang sức kiểu cô dâu, rụt rè tiến đến bên tôi. Người Cabul dường như kinh ngạc
trước sự xuất hiện này. Lão không thể làm sống lại tình bạn ngày trước. Cuối
cùng lão mỉm cười:
-
Cô bé, có phải cô sắp về nhà ông nhạc đấy không?
Bây
giờ thì Mini đã hiểu nghĩa danh từ "ông nhạc", nên không trả lời, đỏ
mặt đứng trước lão, với vẻ e lệ của cô dâu mới. Tôi nhớ cái ngày họ gặp nhau lần
đầu, và lòng tôi se lại. Khi con tôi trở vào nhà trong, Rahman thở dài buồn bã,
ngồi phịch trên sàn nhà. Có lẽ lão bỗng nhớ rằng con gái lão cũng phải lớn lên
nhiều, trong thời gian lão xa quê. Lão sẽ phải làm quen với cô bé trở lại. Chắc
chắn lão không còn gặp lại một cô bé như ngày lão từ giã ra đi. Ngoài ra, biết
đâu lại không có bao nhiêu chuyện xảy đến cho nàng sau mười mấy năm xa cách.
Tiếng
còi lại vang lên, ánh mặt trời dịu của mùa thu lan khắp không trung, Rahman ngồi
trên mảnh đất này mà tưởng như thấy trước mặt một miền núi khô cằn của quê
hương. Tôi lấy ra một xấp bạc, và bảo:
-
Rahman, hãy về quê với con gái ông đi. Cầu nguyện cho cuộc hạnh ngộ của cha con
ông sẽ đem lại cho con gái tôi nhiều may mắn!
Sau
khi biếu lão món tiền, tôi đã giảm bớt nhiều lễ lạc, như không thể bắt điện,
cũng không thể mướn ban nhạc giúp vui, và điều này làm nhiều bà thất vọng.
Nhưng với tôi, buổi hôn lễ thật rực rỡ hơn lên, khi nghĩ rằng ở miền đất xa xăm
kia, có một người cha biệt tích tha phương đang được trở về gặp lại đứa con gái
dấu yêu.
➖➖➖

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét