2023-12-02
Hoa
hồng cho Emily
William
Faulkner
(Giải
Nobel Văn học 1949)
Dịch giả: Doãn Quốc Sĩ và Nguyễn Văn Nha
Nguyên tác tiếng Anh: A Rose for Emily
1.
Khi
cô Emily Grierson chết, cả tỉnh chúng tôi đi dự đám tang; đàn ông thì vì lòng
quí mến một thứ gì cổ kính đã sụp đổ; còn đàn bà thì hầu hết là vì tính hiếu kì
muốn dòm ngó phía trong nhà cô, ít ra cũng đã mười năm không ai được đặt chân tới,
trừ ông lão bộc vừa là người đầu bếp, vừa là người làm vườn.
Đây
là một tòa nhà bằng gỗ to lớn vuông vắn, trước kia đã có lần sơn trắng. Toà nhà
đó với đường mái cong, với những chóp nhọn hoắt, với những bao lơn cuốn vòng
theo đúng lối kiến trúc thanh kỳ của những năm 70, tọa lạc tại một khu phố sang
trọng nhất nước kia. Nhưng rồi thì những nhà sửa xe, những nhà máy cán bông lấn
dần và xoá mờ ngay cả những danh hiệu cổ kính của khu phố, chỉ còn trơ lại có
nhà cô Emily vẫn ngạo nghễ vươn lên với dáng suy tàn mà đỏng đảnh giữa đám xe
goòng chở bông và những trạm sơn băng, đúng là một cảnh chướng mắt giữa những cảnh
chướng mắt khác. Và giờ đây, cô Emily đã nối gót theo những đại diện của hai
danh hiệu cổ kính ấy vào nằm trong nghĩa trang dưới bóng tùng vi vu, giữa những
dãy mồ vô danh của các Hợp chủng miền Bắc và Liên Quân miền Nam đã gục ngã trên
chiến trường Jefferson.
Lúc
sinh thời, cô Emily là một truyền thống, một nghĩa vụ, một lo âu, một thứ đảm
phụ thế truyền vào năm 1894 đè nặng cả tỉnh kể từ ngày viên đại tá thị trưởng
Sartoris, người đã ban hành điều luật cấm các phụ nữa da đen ra phố nếu không
quấn tạp dề, đã miễn hẳn mọi khoản thuế cho cô. Việc xá thuế này được tính từ
ngày cha cô qua đời, và có hiệu lực vĩnh viễn. Không phải là cô Emily sẽ mang
tiếng chịu nhận cứu trợ. Đại tá Sartoris đã bịa ra một câu chuyện loanh quanh
là trước đây thân phụ cô Emily đã cho tỉnh vay tiền, và như vậy theo lẽ sòng phẳng
thường tình, tỉnh mới tìm cách trả nợ như thế. Chỉ có người thuộc cùng thế hệ
và với tầm kiến thức như đại tá Sartoris mới có thể bịa ra câu chuyện tương tự,
mà cũng chỉ có phụ nữ mới tin được chuyện đó.
Khi
thế hệ sau với tư tưởng mới mẻ hơn lên làm thị trưởng, làm hội viên hàng tỉnh
thì việc thu xếp như vậy đã gây ra ít nhiều điều bất bình. Vào ngày đầu năm, họ
gửi giấy báo thuế cho cô. Sang tháng hai rồi mà cũng chẳng nhận được hồi âm. Họ
bèn gửi tới cô một công văn chính thức yêu cầu cô lúc nào thuận tiện hãy tới
văn phòng ông quận trưởng viết giấy đề nghị là sẽ đến nhà cô hoặc là đánh xe tới
đón cô. Ông nhận được thư trả lời viết trên một khổ giấy cổ lỗ, tuồng chữ trôi
chảy, nhỏ xíu, nét mực mờ mờ. Thư đáp rằng cô sẽ chẳng bao giờ ra khỏi nhà, giấy
báo thuế gửi hoàn không một lời giải thích.
Họ
triệu tập một phiên hội đồng hàng tỉnh bất thường. Một toán đại diện được cử đến
nhà cô, họ gõ cửa, cánh cửa đã tám năm hay mười năm nay không một người khách
nào lọt qua, kể từ ngày cô thôi không dạy vẽ hình trên đồ sứ nữa. Người lão bộ
da đen ra mở cửa, họ vào một hành lang tôi tối, nơi đây có một cầu thang hun
hút đưa lên một chỗ còn tối tăm hơn nữa. Thoang thoảng có mùi bụi và mùi mốc, một
thứ mùi bưng bít ẩm ướt. Người lão bộ da đen dẫn họ vào phòng khách: đồ đạc chắc
nịch, ghế có bọc da. Khi người da đen kéo cái màn ở một cửa sổ ra họ nhìn thấy
mặt da ghế đã rạn nứt. Đến lúc họ ngồi xuống thì một đám bụi mỏng uể oải bốc
lên quanh đùi họ. Trên một cái giá vẽ mạ véc ni đã xạm màu đặt trước lò sưởi có
bức chân dung thân phụ cô Emily vẽ bằng chì than.
Họ
đứng dậy khi cô Emily vào, người cô thấp và mập bận đồ đen, đeo một dây chuyền
mảnh bằng vàng xệ tới bụng buông lẫn vào trong dây lưng. Cô chống một cây gậy gỗ
mun có tay cầm bịt vàng đã xạm màu. Cốt cách cô mảnh nhỏ, vì vậy vẻ mập mạp đó
với người khác là khoẻ mạnh nhưng với cô chỉ là béo bệu mà thôi. Trông cô
trương phù lên như một xác chết lâu ngày ngâm trong vũng nước tù, màu da lờn lợt.
Cặp mắt cô chìm lẫn dưới những nếp nhăn bệu mỡ trông tựa hai mẩu than nhấn chìm
trên tấm bánh bột phồng, cặp mắt đưa đẩy lần lượt ngó vào mặt từng người trong
khi họ bày tỏ lý do đến nhà cô.
Cô
chẳng buồn mời họ ngồi. Cô cứ đứng sững nơi ngưỡng cửa, im lặng nghe cho đến
khi một người trong bọn họ dứt lời. Lúc đó họ nghe tích tắc của cái đồng hồ khuất
nẻo nơi đầu sợi dây chuyền vàng của cô.
Cô
cất giọng khô khan lạnh lẽo:
-
Tôi không có thuế má gì phải đóng ở Jefferson cả. Đại tá Sartoris đã giải thích
với tôi như vậy. Có lẽ một người trong bọn các ông có thể tới văn khố toà thị
chính mà tự tìm hiểu.
-
Nhưng mà chúng tôi đã làm việc đó rồi. Chúng tôi là nhân viên toà thị chính mà,
thưa cô. Cô không nhận được một giấy báo thuế do ông quận trưởng ký gửi sao?
-
Có, tôi có nhận được giấy - cô ta đáp - có lẽ ông ta tự phong là quận trưởng...
tôi chẳng có thuế gì mà cần phải đóng ở Jefferson cả.
-
Không thấy sổ sách nào ghi như vậy cả, cô hiểu cho chúng tôi phải...
Các
ông nên đi mà gặp đại tá Sartoris. Tôi chẳng có thuế má gì ở Jefferson
-
Nhưng cô Emily này......
-
Hãy đi gặp đại tá Sartiris (Đại tá Sartoris đã qua đời gần mười năm rồi). Tôi
chẳng có thể có thuế má gì phải đóng ở đây cả. Chú Tobel! (Người da đen xuất hiện)
Dẫn đưòng cho các ông ấy ra.
2.
Như
vậy là cô đã chế ngự được họ, đúng như cô đã thắng cả những bậc cha chú của họ,
ba mươi năm về trước đối với cái mùi hôi thối phát ra từ nhà cô. Vụ này xảy ra
hai năm sau khi thân phụ cô mất, ít lâu sau khi người tình của cô bỏ đi nơi
khác, một người mà chúng tôi ai cũng nghĩ là sẽ cưới cô làm vợ. Sau khi thân phụ
cô mất, ít khi cô ra ngoài; và khi người tình bỏ cô mà ra đi, khó có ai thấy được
mặt cô. Có một vài bà táo gan dám liều đến thăm cô, nhưng họ không được cô tiếp,
dấu hiệu sinh hoạt duy nhất nơi cô ở là người đàn ông da đen - thuở đó ông ta
còn trẻ - cắp làn đi chợ, đi đi về về.
-
“Bất kỳ một người đàn ông nào trông nom bếp nước đều như thế cả!” . Các bà tán
với nhau như vậy, nên chẳng ai ngạc nhiên khi có mùi hôi thối phát ra, thế là
có một mối liên quan mới giữa đám người đông đảo, thô kệch với dòng họ Grierson
cao cả và hiển hách.
Một
bà láng giềng của cô tìm đến phàn nàn với ông thị trưởng là vị thẩm phán tám
mươi tuổi Stevens.
-
Bà bảo tôi làm thế nào bây giờ? - Ông thị trưởng hỏi.
-
Khó gì, ông thị trưởng cứ việc ra lệnh bắt phải chặn đứng cái đó lại. Không còn
luật pháp gì nữa sao?
-
Tôi chắc là chẳng cần đến như thế - Ông thẩm phán nói - hẳn đây chỉ là con rắn
hay con chuột mà anh chàng da đen đập chết ở trong sân nhà mà thôi. Để tôi bảo
hắn.
Hôm
sau lại có hai người đến kêu ca nữa. Một người đàn ông đã tới rụt rè đưa ra lời
khẩn cầu.
-
Đã đến lúc bắt buộc phải làm một cái gì, ông thẩm phán ạ. Bất đắc dĩ lắm tôi mới
phải tính đến chuyện quấy rầy cô Emily, nhưng quả thật đã đến lúc chúng ta phải
làm một cái gì.
Tối
hôm ấy, hội đồng thành phố họp: ba người đứng tuổi và một thanh niên, một nhân
vật của thế hệ đang lên.
-
Giản dị lắm - chàng thanh niên nói - bảo cô phải tẩy uế nhà cửa. Hạn cho cô một
thời gian, nếu không thì...
-
Trời đất, thưa ông bạn - lời ông thẩm phán Stevens - liệu ông có thể sỗ sàng
nói thẳng vào mặt một phụ nữ rằng người bà ta hôi hám sao?
Thế
rồi đêm hôm sau vào lúc quá nửa đêm, bốn người đàn ông băng qua sân cỏ nhà cô
Emily, lén vào như bọn ăn trộm, họ đánh hơi dọc cái hầm nhà xây gạch, theo những
cửa thông hơi phía trên hầm, đồng thời một người thọc tay vào bao tải đeo trên
lưng, rồi vung tay ra đều đặn hệt như người gieo mạ. Họ đẩy cửa hầm, đi vào
trong, rắc vôi bột, rắc cả những gian nhà phụ bên ngoài. Khi họ trở ra, cũng lại
băng qua sân cỏ, thì thấy một khung cửa sổ lúc trước tối, bây giờ có ánh sáng,
và họ thấy cô Emily ngồi đó trước ánh đèn, cô ngồi thẳng im lìm như một pho tượng.
Họ lặng lẽ bò qua sân cỏ, lẩn vào bóng những hàng cây dạ hợp trồng dọc theo hè
phố. Một hai tuần sau thì mùi hôi thối không còn.
Chừng
đó mọi người mới thấy thương hại cô. Dân trong tỉnh lại nhớ đến bà cụ Wyatt, bà
cô của cô ta, sau cùng đã thực sự phát điên vì nhận ra là dòng họ Grierson đã tự
đề cao hơi quá lố. Không một chàng trai tráng nào khả dĩ có thể xứng hợp với cô
Emily. Chúng tôi thường hình dung những nhân vật trong dòng họ cô như những
hình trên một bức ảnh - phía trong cùng là cô Emily mặc đồ trắng, dáng mảnh
mai, phía trước là cha cô, xây lưng lại phía cô, hai chân dang ra, tay lăm lăm
chiếc roi ngựa, cả hai nổi bật trong khung cửa mặt tiền. Vì vậy khi cô vừa ba
chục tuổi xuân mà vẫn chưa chồng, chúng tôi đúng ra nào có sung sướng gì, nhưng
cũng cảm thấy được hả giận. Ngay cả khi có chứng điên trong gia đình, cô cũng
chẳng bỏ lỡ tất cả những cơ hội may mắn nếu quả những cơ hội đó có đến thật.
Khi
thân phụ cô qua đời, người ta đồn rằng tất cả của cải để lại cho cô chỉ còn căn
nhà đó, dân chúng về một phương diện nào đó có vẻ bằng lòng. Bây giờ thì họ có
thể rủ lòng thương hại cuộc đời cô được rồi. Bị bỏ lại trong cô độc và nghèo
nàn, lúc ấy cô mới thấm thía nhân tình, lúc ấy cô mới hiểu thế nào là niềm vui
hoặc nỗi buồn của một đồng xu kiếm được hoặc mất đi.
Sau
hôm thân phụ cô mất tất cả các bà đều sẵn sàng qua nhà cô để phân ưu và giúp đỡ
theo thông lệ. Cô Emily tiếp họ ở cửa, cô ăn bận như ngày thường, tuyệt không một
nét buồn rầu thoáng hiện, cô bảo các bà là thân phụ cô không chết. Cô cũng đã
nói như vậy ba ngày liên tiếp với các mục sư đến viếng, với các y sĩ đến thuyết
phục cô để lo liệu cho xác chết. Mãi đến lúc họ định dựa vào pháp luật để cưỡng
bách cô thì cô mới nhượng bộ, và họ vội vàng chôn cất cha cô.
Chúng
tôi không cho là cô điên. Chúng tôi nghĩ là cô chẳng thể nào làm khác được,
chúng tôi nhớ tới những chàng trai trẻ mà thân phụ cô đã xua đuổi đi, và chúng
tôi hiểu giờ đây cô thấy chẳng còn có gì, nên phải bám víu lấy cái đã tước đoạt
mọi thứ nơi cô như mọi người vẫn thường làm thế....
3.
Cô
đau khá lâu. Khi chúng tôi gặp cô thì tóc cô cắt ngắn trông cô như con gái, phảng
phất tựa những hình thiên thần vẽ trên cửa kính màu ở nhà thờ, vừa có vẻ bi thảm
vừa có vẻ trong trắng.
Thành
phố vừa ký những hợp đồng lát đá các lề đường, và mùa hè sau năm thân phụ cô mất,
người ta khởi công. Hãng thầu tới đem theo bọn phu da đen với những con la và
máy móc. Có gã đốc công tên là Homer Barron, dân Bắc Mỹ, vạm vỡ da ngăm, tính
tình cương quyết, tiếng nói oang oang, cặp mắt sáng hơn màu da mặt. Lũ trẻ con
xúm nhau đi theo nghe gã nhiếc mắng bọn da đen và nghe bọn này cất tiếng hát
theo nhịp cuốc. Chẳng bao lâu gã quen khắp mặt trong tỉnh. Cứ mỗi khi nghe tiếng
cười ran ở đâu là y như có gã Homer Barron giữa đám đó rồi. Thời gian này, vào
những chiều chủ nhật, chúng tôi bắt đầu thấy gã và cô Emily ngồi trên chiếc xe
ngựa thuê không mui hai chỗ, bánh màu vàng đóng cặp ngựa hồng.
Thoạt,
chúng tôi lấy làm hoan hỉ khi thấy cô Emily đã có được niềm vui sống, bởi các
bà đều bàn tán:
-
Dĩ nhiên là con gái dòng họ Grierson chẳng thể cặp bồ với một anh chàng người
miền Bắc, kẻ làm công nhật được.
Nhưng
cũng có những người khác nhiều tuổi hơn bàn tán rằng ngay cả trong nỗi sầu tư một
cô gái quyền quý cũng không quên được câu phú quý sinh lễ nghĩa. Ấy thế rồi họ
chép miệng nói với nhau:
-
Tội nghiệp cho Emily. Thân quyến cô sẽ phải đến với cô.
Cô
có một số thân quyến ở Alabama, nhưng mấy năm trước, thân phụ cô đã xích mích với
họ về việc kế thừa tài sản của bà Wyatt, một bà cụ điên, vì vậy mà hai gia đình
cắt đứt liên lạc với nhau. Chẳng một ai ở gia đình bên kia đến phúng điếu nữa.
Rồi
chẳng bao lâu các bà lại chép miệng:
-
Tội nghiệp cho Emily!
Rồi
họ thì thào hỏi nhau:
-
Các bà có nghĩ vậy không?
Kẻ
tán vào thì bảo:
-
Dĩ nhiên là thế. Còn gì bằng...
Những
lời đàm tiếu đó thốt ra sau những bàn tay che miệng, phía sau những màn lụa và
sa tanh, bên trong những bức mành che nắng, được sột soạt cuộn lén vào những
chiều chủ nhật khi vừa có tiếng clop clop clop của cặp ngựa hồng lanh lẹ lướt
qua. “Tội nghiệp cho Emily”.
Cô
vẫn ngẩng cao đầu - ngay cả khi chúng tôi cho rằng cô thật thế. Có thể nói hơn
bao giờ hết cô đòi mọi người phải công nhận cái phẩm cách của cô như một người
cuối cùng trong dòng họ Grierson dường như chính cái vẻ tầm thường ấy tái xác
nhận nhân cách bất khả xâm phạm của cô. Ví như hôm cô đi mua thuốc diệt chuột,
chất nhân ngôn. Đó là việc xảy ra hơn một năm sau lời thốt thương hại “Tội nghiệp
cho Emily” của thiên hạ, vào thời gian hai người chị họ cô đến chơi ở nhà, cô bảo
với người bán thuốc:
-
Tôi muốn mua độc dược.
Năm
ấy cô ngoài ba chục. Người cô vẫn mảnh mai tuy có gầy hơn thường lệ, cặp mắt
đen láy của cô lạnh lùng, ngạo mạn trên một khuôn mặt mà da thịt căng xếch tới
thái dương bao quanh hai quầng mẳt trông tựa khuôn mặt của kẻ gác hải đăng
-
Tôi muốn mua độc dược, - cô nói.
-
Vâng được, cô Emily, loại nào thưa cô? Cho chuột hay giống vật nào khác? Theo
như tôi biết thì...
-
Tôi muốn thứ mạnh nhất mà nhà hàng có. Bất cứ loại nào.
Người
bán thuốc nêu một số rồi nói:
-
Những thứ đó có thể giết được cả voi... nhưng loại cô muốn dùng là......
-
Mua thạch tín.
Người
bán thuốc nhìn cô, cô nhìn lại ông ta, đứng thẳng người, mặt như là cờ căng
gió.
-
Dĩ nhiên là có, - người bán thuốc nói, - nếu quả thực đó là thứ cô cần. Nhưng
theo luật xin cô cho biết cô sẽ dùng chất đó vào việc gì.
Cô
Emily chỉ nhìn chằm chằm vào mặt ông ta, đầu cô ngả ra phía sau, mắt dán vào
ông ta đến nỗi ông phải quay lưng đi rồi lấy thạch tín gói lại. Một chú bé giao
hàng người da đen mang gói thạch tín đến cho cô; người bán thuốc không ra nữa.
Khi về đến nhà, cô mở gói thì thấy trên cái hộp, hình sọ người và hai xương ống
bắt chéo, hàng chữ “Dùng cho chuột”.
4.
Rồi
ngày hôm sau chúng tôi đều bảo: “Cô ta sẽ tự sát” và chúng tôi cho rằng như thế
có lẽ là hay nhất. Lần đầu tiên khi thấy cô đi với Homer Barron, chúng tôi đã bảo:
“Cô sẽ lấy gã”, ít lâu sau chúng tôi bàn: “Tất nhiên cô sẽ thuyết phục được gã”,
bởi lẽ Homer Barron - gã thích tụ bạ với gã cánh đàn ông và đã từng đi uống với
những hội viên trẻ nhất của câu lạc bộ Elks cũng đã tự nhận rằng mình không phải
là hạng người sinh ra để lấy vợ. Sau nữa chúng tôi lại nói: “Tội nghiệp cho
Emily” phía sau mành cửa khi họ đi qua vào chiều chủ nhật trên chiếc xe ngựa
mui trần bóng loáng, cô Emily ngẩng cao đầu, còn Hormer Barro mũ lệch bên tai,
răng cắn chặt điếu xì gà, dây cương và roi ngựa trong cái bao tay màu vàng.
Rồi
thì có vài bà nghĩ đó là điều xỉ nhục cho cả tỉnh, làm gương xấu cho giới trẻ.
Bọn đàn ông thì không muốn can dự đến; nhưng sau cùng các bà ép mục sư giáo
phái Baptist - gia đình cô Emily theo giáo phái Episcopal - đến tiếp xúc với
cô. Mục sư không tiết lộ những gì đã xảy ra trong cuộc tiếp xúc ấy, nhưng khước
từ không trở lại nhà cô nữa. Ngày chủ nhật sau đó, họ lại đánh xe đi với nhau ở
ngoài phố, và hôm sau thì bà vợ ông mục sư biên thư cho thân quyến cô Emily ở
Alabama.
Thế
là trong nhà cô lại có thân quyến tới ở, và chúng tôi ngồi chờ xem diễn biến.
Thoạt thì chẳng thấy gì hết. Sau rồi chúng tôi yên chí là họ sắp sửa lấy nhau.
Kế đó chúng tôi được tin là cô Emily đã tới hiệu kim hoàn đặt một bộ trang sức
cho nam giới bằng bạc có khắc hai chữ đầu H.B ở mỗi món đồ. Hai hôm sau, chúng
tôi lại được tin cô sắm một lô quần áo đàn ông, có cả áo ngủ, và chúng tôi kết
luận: “Họ lấy nhau thật rồi”. Chúng tôi rất mừng. Mừng là vì hai cô chị họ còn
điệu bộ Grierson hơn cả cô Emily nữa.
Thế
nên chúng tôi không ngạc nhiên khi thấy Homer Barron - lề đường phố khi đó lát
đã xong được ít lâu rồi - bỏ đi. Chúng tôi hơi thất vọng là chẳng có cuộc vui
chung nào, nhưng chúng tôi tin rằng gã ra đi để sửa soạn đón cô Emily, hay để
cô có cơ hội thuận tiện tống khứ được hai người chị họ đi. Vào thời gian ấy quả
là chúng tôi đã hùa nhau, đứng về phe cô Emily, giúp cô mưu kế để đẩy cho bằng
được hai cô chị họ kia. Có điều khá chắc chắn là trong vòng một tuần lễ cả hai
người chị họ đều ra đi. Và đúng như chúng tôi trông chờ, chưa đầy ba ngày,
Homer Barron trở lại thành phố, Người láng giềng của cô trông thấy anh hầu da
đen để gã vào lối cửa bếp một buổi tối lúc trời chạng vạng.
Và
đó là lần chót chúng tôi thấy Homer Barron. Rồi cả cô Emily cũng chả thấy mặt
trong suốt một thời gian. Vẫn chỉ thấy anh da đen đi đi về về với cái làn đi chợ,
còn cửa chính thì đóng im ỉm. Thỉnh thoảng chúng tôi trông thấy cô ở cửa sổ một
lúc như tối hôm nào mấy người rắc vôi bột xung quanh nhà cô, nhưng đến gần sáu
tháng trời không thấy cô xuất hiện ở ngoài thành phố. Lúc đó chúng tôi mới ngã
ngửa người ra là cũng phải dự liệu cả đến điều này nữa: dường như tính nết đó của
thân phụ cô, đã quá nhiều lần mâu thuẫn với nếp sống phụ nữ của cô, nó độc địa
quá, dữ dằn quá đến không thể tiêu tan đi được.
Khi
chúng tôi gặp được cô Emily sau này thì thấy người cô béo phệ ra, tóc cô xám
thêm đến độ ngả sang màu muối tiêu, màu xám sắt thì giữ màu không đổi nữa. Cho
đến ngày cô chết, vào tuổi bảy mươi tư, tóc cô vẫn giữ nguyên màu xám sắt mạnh
mẽ như tóc người đàn ông năng hoạt động vậy.
Từ
độ đó trở đi cửa nhà cô vẫn đóng chặt, trừ một thời gian khoảng sáu, bảy năm,
thuở cô trạc bốn mươi, cô dạy vẽ hình trên đồ sứ. Cô thu dọn một phòng ở tầng một
làm xưởng vẽ, nơi đây những con gái, cháu gái của những người đồng thời với đại
tá Sartoris được gửi tới học đều đặn, cần mẫn như đi nhà thờ vào ngày chủ nhật,
mang theo đồng hai mươi lăm xu để góp trong đĩa. Ấy thế mà thuế má của cô được
xá hết.
Rồi
khi thế hệ trẻ trở thành cột trụ và linh hồn của thành phố, và những học trò lớp
vẽ của cô lớn lên, tản lạc đi các nơi, họ cũng chẳng gửi con cái họ đến học cô,
mang theo những hộp màu, những cọ sơn buồn nản và những hình cắt trong các tập
san phụ nữ, cửa tiền nhà cô đóng chặt sau lưng đứa học trò cuối cùng, rồi đóng
kín như thế mãi. Khi thành phố được phát thư tín miễn phí, riêng một mình cô
Emily từ chối không cho họ treo bảng số trên cửa nhà, mà cũng không cho gắn hộp
thư vào cửa, cô nhất thiết không chịu nghe một lời phân giải nào.
Ngày,
tháng, năm trôi qua, chúng tôi thấy anh người làm da đen tóc thêm xạm màu, lưng
thêm còng, vẫn đi đi về về với cái làn đi chợ. Cứ mỗi tháng chạp tới, chúng tôi
lại gửi đến nhà cô một giấy báo thuế và sau đó một tuần nhận được giấy gửi hoàn
toàn qua bưu điện, với mấy chữ: không người nhận. Thỉnh thoảng chúng tôi có
trông thấy cô xuất hiện sau một khung cửa sổ tầng dưới - hẳn là cô đã đóng kín
tầng trên - như một pho tượng. Cứ như vậy, cô sống trải từ thế hệ này qua thế hệ
khác, cao giá, không lẩn trốn, bất khả xâm phạm, trầm tĩnh, ngang bướng.
Và
rồi cô chết. Cô lâm bệnh trong căn nhà đầy bụi bặm và bóng tối với người lão bộc
da đen lụm cụm hầu hạ. Chúng tôi cũng không hay là cô đau, đã từ lâu chúng tôi
từ bỏ việc hỏi dò người lão bộc về cô. Lão chẳng nói với ai lời nào, chắc cả với
cô cũng vậy, tiếng lão đã khàn khàn, rỉ sét bởi đã từ lâu không dùng.
Cô
chết ở một trong mấy căn phòng dưới nhà, trên cái giường nặng chịch bằng gỗ hồ
đào, có tấm màn che, mái đầu tóc xám đặt trên chiếc gối màu vàng mốc meo vì lâu
ngày thiếu ánh mặt trời.
5.
Lão
da đen ra cửa tiền đón người đi đầu trong bọn các bà rồi dẫn tất cả vào nhà, giọng
nói của các bà tắc nghẹn, thì thầm với những cái nhìn vội vàng lén lút, đoạn
lão lần đi. Lão đi thẳng qua căn nhà, ra lối cửa hậu và rồi không thấy đâu nữa.
Hai
người chị họ cũng vừa tất tưởi đến viếng. Họ cho làm đám tang ngay hôm sau, và
tất cả tỉnh đến viếng cô Emily nằm dưới đống hoa mới mua, chân dung thân phụ cô
vẽ bằng chì than như trầm tư trên cỗ áo quan, các bà thì thầm ma quái, trên sân
cỏ, trong hành lang, những cụ già - một vài cụ vận binh phục Liên Quân miền Nam
chải chuốt diêm dúa tán gẫu về cô Emily, coi cô như người cùng thế hệ với mình,
tin rằng mình đã có lần khiêu vũ với cô, và có lẽ đã tán tỉnh cô nữa, các cụ đã
lẫn thời gian với cấp số toán học của nó, như những người già thường lẫn, đối với
họ dĩ vãng không phải là con đường suy giảm dần, mà là một cánh đồng cỏ bao la
mùa đông chẳng bao giờ chậm tới, ngăn cách họ bằng cái cổ chai nhỏ hẹp của mười
năm vừa qua.
Chúng
tôi vốn biết trên lầu có một căn phòng đóng kín mà đã bốn mươi năm qua không một
ai biết tới, phải phá cửa mới vào được. Người ta đợi cô Emily đã mồ yên mả đẹp
mới dám phá cửa đó ra.
Sức
phá cửa mạnh dường như đã làm căn phòng tràn ngập bụi bặm. Tưởng như có tấm
khăn phủ quan tài mỏng mùi hăng trùm khắp căn phòng được trang trí cho cô dâu
chú rể: trên những tấm màn buông có riềm màu hồng bạc phếch, trên những chụp
đèn màu hồng, trên cái bàn phấn, trên loạt đồ pha lê thanh nhã, trên bộ đồ
trang sức của nam giới mà mặt trong bằng bạc đã xám xịt, xám đến nỗi mấy chữ viết
tắt đã ám đen. Giữa những thứ đó có một chiếc cổ cồn và chiếc cà vạt tưởng như
vừa được tháo ra, và khi nhấc lên còn để lại trên mặt bàn một hình trăng lưỡi
liềm mờ nhạt trên nền bụi. Trên ghế còn vắt bộ quần áo gấp nếp cẩn thận, dưới
ghế là đôi giày câm nín và đôi tất chơ vơ.
Chính
gã đàn ông đó nằm trên giường.
Chúng
tôi đứng yên đó một lúc lâu, cúi nhìn cái miệng cười rộng hoác sâu thẳm và
không còn da thịt. Người ta thấy hình như thân gã có một lúc nằm với dáng điệu
ôm ấp, nhưng rồi giấc ngủ dài, dài vượt tình yêu, giấc ngủ dài đã chinh phục được
sự đỏng đảnh của tình yêu, đã lừa gạt được y. Thi thể gã đã rữa nát dưới những
gì còn sót lại của chiếc áo ngủ, chẳng thể gỡ khỏi nơi mặt giường gã nằm, và
trên xác gã cũng như trên chiếc gối bên cạnh gã phủ một lớp bụi đều đặn, dẻo
dai và bền bỉ.
Lúc
ấy chúng tôi để ý nhận thấy trên mặt gối thứ hai còn in hằn vết lõm đầu người.
Một người trong bọn tôi nhặt lên được một cái gì trên gối, và khi chúng tối cúi
xuống, lớp bụi gờn gợn vô hình khô khan mùi hăng sè xông thẳng lên mũi, chúng
tôi nhìn ra thì đó là một sợi tóc dài, một sợi tóc màu xám sắt.
➖➖➖
Phần tiếng Anh
A
Rose for Emily
I
WHEN
Miss Emily Grierson died, our whole town went to her funeral: the men through a
sort of respectful affection for a fallen monument, the women mostly out of
curiosity to see the inside of her house, which no one save an old
man-servant--a combined gardener and cook--had seen in at least ten years.
It
was a big, squarish frame house that had once been white, decorated with
cupolas and spires and scrolled balconies in the heavily lightsome style of the
seventies, set on what had once been our most select street. But garages and
cotton gins had encroached and obliterated even the august names of that
neighborhood; only Miss Emily's house was left, lifting its stubborn and
coquettish decay above the cotton wagons and the gasoline pumps-an eyesore
among eyesores. And now Miss Emily had gone to join the representatives of
those august names where they lay in the cedar-bemused cemetery among the
ranked and anonymous graves of Union and Confederate soldiers who fell at the
battle of Jefferson.
Alive,
Miss Emily had been a tradition, a duty, and a care; a sort of hereditary
obligation upon the town, dating from that day in 1894 when Colonel Sartoris,
the mayor--he who fathered the edict that no Negro woman should appear on the
streets without an apron-remitted her taxes, the dispensation dating from the
death of her father on into perpetuity. Not that Miss Emily would have accepted
charity. Colonel Sartoris invented an involved tale to the effect that Miss
Emily's father had loaned money to the town, which the town, as a matter of
business, preferred this way of repaying. Only a man of Colonel Sartoris'
generation and thought could have invented it, and only a woman could have
believed it.
When
the next generation, with its more modern ideas, became mayors and aldermen,
this arrangement created some little dissatisfaction. On the first of the year
they mailed her a tax notice. February came, and there was no reply. They wrote
her a formal letter, asking her to call at the sheriff's office at her
convenience. A week later the mayor wrote her himself, offering to call or to
send his car for her, and received in reply a note on paper of an archaic
shape, in a thin, flowing calligraphy in faded ink, to the effect that she no
longer went out at all. The tax notice was also enclosed, without comment.
They
called a special meeting of the Board of Aldermen. A deputation waited upon
her, knocked at the door through which no visitor had passed since she ceased
giving china-painting lessons eight or ten years earlier. They were admitted by
the old Negro into a dim hall from which a stairway mounted into still more
shadow. It smelled of dust and disuse--a close, dank smell. The Negro led them
into the parlor. It was furnished in heavy, leather-covered furniture. When the
Negro opened the blinds of one window, they could see that the leather was
cracked; and when they sat down, a faint dust rose sluggishly about their
thighs, spinning with slow motes in the single sun-ray. On a tarnished gilt
easel before the fireplace stood a crayon portrait of Miss Emily's father.
They
rose when she entered--a small, fat woman in black, with a thin gold chain
descending to her waist and vanishing into her belt, leaning on an ebony cane
with a tarnished gold head. Her skeleton was small and spare; perhaps that was
why what would have been merely plumpness in another was obesity in her. She
looked bloated, like a body long submerged in motionless water, and of that
pallid hue. Her eyes, lost in the fatty ridges of her face, looked like two
small pieces of coal pressed into a lump of dough as they moved from one face
to another while the visitors stated their errand.
She
did not ask them to sit. She just stood in the door and listened quietly until
the spokesman came to a stumbling halt. Then they could hear the invisible
watch ticking at the end of the gold chain.
Her
voice was dry and cold. “I have no taxes in Jefferson. Colonel Sartoris
explained it to me. Perhaps one of you can gain access to the city records and
satisfy yourselves.”
“But
we have. We are the city authorities, Miss Emily. Didn't you get a notice from
the sheriff, signed by him?”
“I
received a paper, yes,” Miss Emily said. “Perhaps he considers himself the
sheriff . . . I have no taxes in Jefferson.”
“But
there is nothing on the books to show that, you see We must go by the--”
“See
Colonel Sartoris. I have no taxes in Jefferson.”
“But,
Miss Emily--”
“See
Colonel Sartoris.” (Colonel Sartoris had been dead almost ten years.) “I have
no taxes in Jefferson. Tobe!” The Negro appeared. “Show these gentlemen out.”
II
SO
SHE vanquished them, horse and foot, just as she had vanquished their fathers
thirty years before about the smell.
That
was two years after her father's death and a short time after her
sweetheart--the one we believed would marry her --had deserted her. After her
father's death she went out very little; after her sweetheart went away, people
hardly saw her at all. A few of the ladies had the temerity to call, but were
not received, and the only sign of life about the place was the Negro man--a
young man then--going in and out with a market basket.
“Just
as if a man--any man--could keep a kitchen properly, “the ladies said; so they
were not surprised when the smell developed. It was another link between the
gross, teeming world and the high and mighty Griersons.
A
neighbor, a woman, complained to the mayor, Judge Stevens, eighty years old.
“But
what will you have me do about it, madam?” he said.
“Why,
send her word to stop it,” the woman said. “Isn't there a law? “
“I'm
sure that won't be necessary,” Judge Stevens said. “It's probably just a snake
or a rat that nigger of hers killed in the yard. I'll speak to him about it.”
The
next day he received two more complaints, one from a man who came in diffident
deprecation. “We really must do something about it, Judge. I'd be the last one
in the world to bother Miss Emily, but we've got to do something.” That night
the Board of Aldermen met--three graybeards and one younger man, a member of
the rising generation.
“It's
simple enough,” he said. “Send her word to have her place cleaned up. Give her
a certain time to do it in, and if she don't ...”
“Dammit,
sir,” Judge Stevens said, “will you accuse a lady to her face of smelling bad?”
So
the next night, after midnight, four men crossed Miss Emily's lawn and slunk
about the house like burglars, sniffing along the base of the brickwork and at
the cellar openings while one of them performed a regular sowing motion with
his hand out of a sack slung from his shoulder. They broke open the cellar door
and sprinkled lime there, and in all the outbuildings. As they recrossed the
lawn, a window that had been dark was lighted and Miss Emily sat in it, the
light behind her, and her upright torso motionless as that of an idol. They
crept quietly across the lawn and into the shadow of the locusts that lined the
street. After a week or two the smell went away.
That
was when people had begun to feel really sorry for her. People in our town,
remembering how old lady Wyatt, her great-aunt, had gone completely crazy at
last, believed that the Griersons held themselves a little too high for what
they really were. None of the young men were quite good enough for Miss Emily
and such. We had long thought of them as a tableau, Miss Emily a slender figure
in white in the background, her father a spraddled silhouette in the
foreground, his back to her and clutching a horsewhip, the two of them framed
by the back-flung front door. So when she got to be thirty and was still
single, we were not pleased exactly, but vindicated; even with insanity in the
family she wouldn't have turned down all of her chances if they had really
materialized.
When
her father died, it got about that the house was all that was left to her; and
in a way, people were glad. At last they could pity Miss Emily. Being left
alone, and a pauper, she had become humanized. Now she too would know the old
thrill and the old despair of a penny more or less.
The
day after his death all the ladies prepared to call at the house and offer
condolence and aid, as is our custom Miss Emily met them at the door, dressed
as usual and with no trace of grief on her face. She told them that her father
was not dead. She did that for three days, with the ministers calling on her,
and the doctors, trying to persuade her to let them dispose of the body. Just
as they were about to resort to law and force, she broke down, and they buried
her father quickly.
We
did not say she was crazy then. We believed she had to do that. We remembered
all the young men her father had driven away, and we knew that with nothing
left, she would have to cling to that which had robbed her, as people will.
III
SHE
WAS SICK for a long time. When we saw her again, her hair was cut short, making
her look like a girl, with a vague resemblance to those angels in colored
church windows--sort of tragic and serene.
The
town had just let the contracts for paving the sidewalks, and in the summer
after her father's death they began the work. The construction company came
with riggers and mules and machinery, and a foreman named Homer Barron, a
Yankee--a big, dark, ready man, with a big voice and eyes lighter than his
face. The little boys would follow in groups to hear him cuss the riggers, and
the riggers singing in time to the rise and fall of picks. Pretty soon he knew
everybody in town. Whenever you heard a lot of laughing anywhere about the
square, Homer Barron would be in the center of the group. Presently we began to
see him and Miss Emily on Sunday afternoons driving in the yellow-wheeled buggy
and the matched team of bays from the livery stable.
At
first we were glad that Miss Emily would have an interest, because the ladies
all said, “Of course a Grierson would not think seriously of a Northerner, a
day laborer.” But there were still others, older people, who said that even
grief could not cause a real lady to forget noblesse oblige- -
without
calling it noblesse oblige. They just said, “Poor Emily. Her kinsfolk should
come to her.” She had some kin in Alabama; but years ago her father had fallen
out with them over the estate of old lady Wyatt, the crazy woman, and there was
no communication between the two families. They had not even been represented
at the funeral.
And
as soon as the old people said, “Poor Emily,” the whispering began. “Do you
suppose it's really so?” they said to one another. “Of course it is. What else
could . . .” This behind their hands; rustling of craned silk and satin behind
jalousies closed upon the sun of Sunday afternoon as the thin, swift
clop-clop-clop of the matched team passed: “Poor Emily.”
She
carried her head high enough--even when we believed that she was fallen. It was
as if she demanded more than ever the recognition of her dignity as the last
Grierson; as if it had wanted that touch of earthiness to reaffirm her
imperviousness. Like when she bought the rat poison, the arsenic. That was over
a year after they had begun to say “Poor Emily,” and while the two female
cousins were visiting her.
“I
want some poison,” she said to the druggist. She was over thirty then, still a
slight woman, though thinner than usual, with cold, haughty black eyes in a
face the flesh of which was strained across the temples and about the
eyesockets as you imagine a lighthouse-keeper's face ought to look. “I want
some poison,” she said.
“Yes,
Miss Emily. What kind? For rats and such? I'd recom--”
“I
want the best you have. I don't care what kind.”
The
druggist named several. “They'll kill anything up to an elephant. But what you
want is--”
“Arsenic,”
Miss Emily said. “Is that a good one?”
“Is
. . . arsenic? Yes, ma'am. But what you want--”
“I
want arsenic.”
The
druggist looked down at her. She looked back at him, erect, her face like a
strained flag. “Why, of course,” the druggist said. “If that's what you want.
But the law requires you to tell what you are going to use it for.”
Miss
Emily just stared at him, her head tilted back in order to look him eye for
eye, until he looked away and went and got the arsenic and wrapped it up. The
Negro delivery boy brought her the package; the druggist didn't come back. When
she opened the package at home there was written on the box, under the skull
and bones: “For rats.”
IV
SO
THE NEXT day we all said, “She will kill herself”; and we said it would be the
best thing. When she had first begun to be seen with Homer Barron, we had said,
“She will marry him.” Then we said, “She will persuade him yet,” because Homer
himself had remarked--he liked men, and it was known that he drank with the
younger men in the Elks' Club--that he was not a marrying man. Later we said, “Poor
Emily” behind the jalousies as they passed on Sunday afternoon in the
glittering buggy, Miss Emily with her head high and Homer Barron with his hat
cocked and a cigar in his teeth, reins and whip in a yellow glove.
Then
some of the ladies began to say that it was a disgrace to the town and a bad
example to the young people. The men did not want to interfere, but at last the
ladies forced the Baptist minister--Miss Emily's people were Episcopal-- to
call upon her. He would never divulge what happened during that interview, but
he refused to go back again. The next Sunday they again drove about the
streets, and the following day the minister's wife wrote to Miss Emily's
relations in Alabama.
So
she had blood-kin under her roof again and we sat back to watch developments.
At first nothing happened. Then we were sure that they were to be married. We
learned that Miss Emily had been to the jeweler's and ordered a man's toilet
set in silver, with the letters H. B. on each piece. Two days later we learned
that she had bought a complete outfit of men's clothing, including a
nightshirt, and we said, “They are married.” We were really glad. We were glad
because the two female cousins were even more Grierson than Miss Emily had ever
been.
So
we were not surprised when Homer Barron--the streets had been finished some
time since--was gone. We were a little disappointed that there was not a public
blowing-off, but we believed that he had gone on to prepare for Miss Emily's
coming, or to give her a chance to get rid of the cousins. (By that time it was
a cabal, and we were all Miss Emily's allies to help circumvent the cousins.)
Sure enough, after another week they departed. And, as we had expected all
along, within three days Homer Barron was back in town. A neighbor saw the
Negro man admit him at the kitchen door at dusk one evening.
And
that was the last we saw of Homer Barron. And of Miss Emily for some time. The
Negro man went in and out with the market basket, but the front door remained
closed. Now and then we would see her at a window for a moment, as the men did
that night when they sprinkled the lime, but for almost six months she did not
appear on the streets. Then we knew that this was to be expected too; as if
that quality of her father which had thwarted her woman's life so many times
had been too virulent and too furious to die.
When
we next saw Miss Emily, she had grown fat and her hair was turning gray. During
the next few years it grew grayer and grayer until it attained an even
pepper-and-salt iron-gray, when it ceased turning. Up to the day of her death
at seventy-four it was still that vigorous iron-gray, like the hair of an
active man.
From
that time on her front door remained closed, save for a period of six or seven
years, when she was about forty, during which she gave lessons in
china-painting. She fitted up a studio in one of the downstairs rooms, where
the daughters and granddaughters of Colonel Sartoris' contemporaries were sent
to her with the same regularity and in the same spirit that they were sent to
church on Sundays with a twenty-five-cent piece for the collection plate.
Meanwhile her taxes had been remitted.
Then
the newer generation became the backbone and the spirit of the town, and the
painting pupils grew up and fell away and did not send their children to her
with boxes of color and tedious brushes and pictures cut from the ladies'
magazines. The front door closed upon the last one and remained closed for
good. When the town got free postal delivery, Miss Emily alone refused to let
them fasten the metal numbers above her door and attach a mailbox to it. She
would not listen to them.
Daily,
monthly, yearly we watched the Negro grow grayer and more stooped, going in and
out with the market basket. Each December we sent her a tax notice, which would
be returned by the post office a week later, unclaimed. Now and then we would
see her in one of the downstairs windows--she had evidently shut up the top
floor of the house--like the carven torso of an idol in a niche, looking or not
looking at us, we could never tell which. Thus she passed from generation to
generation--dear, inescapable, impervious, tranquil, and perverse.
And
so she died. Fell ill in the house filled with dust and shadows, with only a
doddering Negro man to wait on her. We did not even know she was sick; we had
long since given up trying to get any information from the Negro.
He
talked to no one, probably not even to her, for his voice had grown harsh and
rusty, as if from disuse.
She
died in one of the downstairs rooms, in a heavy walnut bed with a curtain, her
gray head propped on a pillow yellow and moldy with age and lack of sunlight.
V
THE
NEGRO met the first of the ladies at the front door and let them in, with their
hushed, sibilant voices and their quick, curious glances, and then he
disappeared. He walked right through the house and out the back and was not
seen again.
The
two female cousins came at once. They held the funeral on the second day, with
the town coming to look at Miss Emily beneath a mass of bought flowers, with
the crayon face of her father musing profoundly above the bier and the ladies
sibilant and macabre; and the very old men --some in their brushed Confederate
uniforms--on the porch and the lawn, talking of Miss Emily as if she had been a
contemporary of theirs, believing that they had danced with her and courted her
perhaps, confusing time with its mathematical progression, as the old do, to
whom all the past is not a diminishing road but, instead, a huge meadow which
no winter ever quite touches, divided from them now by the narrow bottle-neck
of the most recent decade of years.
Already
we knew that there was one room in that region above stairs which no one had
seen in forty years, and which would have to be forced. They waited until Miss
Emily was decently in the ground before they opened it.
The
violence of breaking down the door seemed to fill this room with pervading
dust. A thin, acrid pall as of the tomb seemed to lie everywhere upon this room
decked and furnished as for a bridal: upon the valance curtains of faded rose
color, upon the rose-shaded lights, upon the dressing table, upon the delicate
array of crystal and the man's toilet things backed with tarnished silver,
silver so tarnished that the monogram was obscured. Among them lay a collar and
tie, as if they had just been removed, which, lifted, left upon the surface a
pale crescent in the dust. Upon a chair hung the suit, carefully folded;
beneath it the two mute shoes and the discarded socks.
The
man himself lay in the bed.
For
a long while we just stood there, looking down at the profound and fleshless
grin. The body had apparently once lain in the attitude of an embrace, but now
the long sleep that outlasts love, that conquers even the grimace of love, had
cuckolded him. What was left of him, rotted beneath what was left of the
nightshirt, had become inextricable from the bed in which he lay; and upon him
and upon the pillow beside him lay that even coating of the patient and biding
dust.
Then
we noticed that in the second pillow was the indentation of a head. One of us
lifted something from it, and leaning forward, that faint and invisible dust
dry and acrid in the nostrils, we saw a long strand of iron-gray hair.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét