2019-11-16

Lãng du cùng bài thơ “Hai sắc hoa ti-gôn”

2019-11-16

 

Lãng du cùng bài thơ

“Hai sắc hoa ti-gôn”

A close up of a pink flower

Description automatically generated


Hai sắc hoa ti-gôn

Tác giả: T.T.Kh

Ngày 23 tháng 9 năm 1937

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn,

Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,

Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,

Tôi chờ người đến với yêu đương.

~

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng

Dải đường xa vút bóng chiều phong,

Và phương trời thẳm mờ sương, cát,

Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.

~

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,

Thở dài trong lúc thấy tôi vui,

Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,

Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

~

Thuở đó nào tôi đã hiểu gì

Cánh hoa tan tác của sinh ly,

Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng

Là chút lòng trong chẳng biến suy.”

 

         *

 

Đâu biết lần đi một lỡ làng,

Dưới trời đau khổ chết yêu đương.

Người xa xăm quá! - Tôi buồn lắm

Trong một ngày vui pháo nhuộm đường...

~

Từ đó thu rồi thu lại thu,

Lòng tôi còn giá đến bao giờ?

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ

Người ấy cho nên vẫn hững hờ!

~

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,

Mà từng thu chết, từng thu chết,

Vẫn giấu trong tâm bóng “một người”.

 

         *

 

Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết

Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa

(Nhưng hồng) tựa trái tim tan vỡ.

Và đỏ như màu máu thắm pha!

~

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi

Một mùa thu trước rất xa xôi:

Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,

Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

~

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,

Chiều thu hoa đỏ rụng, chiều thu

Gió về lạnh lẽo, chân mây vắng,

Người ấy ngang sông đứng ngóng đò...

~

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

Trời ơi! người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ tới loài hoa... vỡ

Tựa trái tim, phai tựa máu hồng...?

***

Bài “Hai sắc hoa ti-gôn” ra đời như thế nào?

-

T.T.Kh là bút danh của một nhà thơ ẩn danh trong phong trào Thơ mới (1930–1945), là tác giả bài “Hai sắc hoa ti-gôn” nổi tiếng. Nhiều người đã suy đoán lai lịch thật của T.T.Kh nhưng chưa có giả thuyết nào thuyết phục được công chúng.

-

T.T.Kh chỉ đăng trên tờ Tiểu thuyết thứ bảy có 3 bài thơ, đó là:

 

·      “Hai sắc hoa ti-gôn” (đăng ngày 23 tháng 9 năm 1937) – Như trên

·      “Bài thơ thứ nhất” (đăng ngày 23 tháng 11 năm 1937) – Xem trích đăng trước cuối bài

·      “Bài thơ cuối cùng” (đăng ngày 30 tháng 10 năm 1938) – Xem trích đăng cuối bài

 

Dị bản 1:

Có một tâm sự mà nhà văn Ngọc Giao giữ mãi trong lòng hơn nửa thế kỷ. Đó chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn. Ông kể rằng vào một buổi trưa, cuối mùa thu năm 1937, ở toà soạn báo Tiểu thuyết thứ bảy, khi những đồng nghiệp trong toà soạn đã về nghỉ gần hết, chỉ còn lại Trúc Khê Ngô Văn Triện và ông. Trúc Khê Ngô Văn Triện còn nán lại để dịch Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra quốc ngữ. Còn ông thì đã tiến đến chỗ mắc áo để lấy mũ và ra về. Nhưng đúng lúc đó có tiếng kèn đám ma. Đám tang đang đi qua phố Hàng Bông, ông là người rất sợ nghe tiếng kèn đám ma, nên ông mới nán lại thêm cho xe tang đi qua đã. Đã khoác áo, đội mũ chỉnh chu, ông không muốn quay vào phòng trong mà kéo ghế ngồi tạm lại chỗ gần cửa, gần nơi để cái sọt đựng giấy loại. Không biết điều gì xui khiến, ông đưa tay vào sọt giấy loại, nhặt lên mấy tờ bị vo tròn và quẳng vào đó chờ đi đổ xe rác. Tẩn mẩn, ông vuốt một tờ ra và đọc. Đó là một tờ giấy học trò khổ nhỏ. Một bài thơ. Chữ viết bằng bút chì nguệch ngoạc, nét run, nét mờ, như thể viết ra một lần là xong và gửi luôn cho toà báo. Theo quy định của báo là bài lai cảo phải viết trên một mặt giấy sạch sẽ. Còn bài thơ nét chữ bút chì này lại viết trên cả hai mặt giấy. Nhưng bài thơ đã khiến ông xúc động lạ thường, đó là Hai sắc hoa ti-gôn của T.T.Kh. Và ông đã ngồi lặng đi trong mối rung cảm đặc biệt. Rồi ông bước vội đến đưa bài thơ cho Trúc Khê, yêu cầu đọc ngay. Trúc Khê thấy ông đang quá xúc động, cũng bỏ bút, cầm đọc bài thơ. Và Trúc Khê cũng ngồi lặng đi, rồi đọc lại lần nữa. Ông già Trúc Khê vỗ tay xuống bàn, nói với ông: “Sao lại có bài thơ tuyệt đến thế này...!” Rồi ngay sau đó, Ngọc Giao gọi ông cai thợ sắp chữ nhà in lên, bảo sắp chữ ngay bài thơ ấy cho số báo sắp ra. Vậy là Hai sắc hoa ti-gôn đi vào đời sống thơ ca Việt Nam...

-

 Kể câu chuyện tâm sự mấy mươi năm xưa cũ, nhà văn Ngọc Giao còn cầm bút ghi vào cuốn sổ lưu niệm của một bạn văn cùng thời là nhà văn Phạm Văn Kỳ cũng từng làm thư ký toà soạn tuần báo Tiểu thuyết Thứ năm. Những dòng lão nhà văn Ngọc Giao ghi vào sổ lưu bút của lão nhà văn Phạm Văn Kỳ có đoạn: “... Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh bị bỏ rơi sọt rác như vậy đó. Nó càng được bạn đọc nhắc đến bao nhiêu, tôi càng ân hận về lỗi làm ăn cẩu thả, sơ xuất bấy nhiêu... Nếu không có cái đám ma qua phố thổi kèn rầu rĩ đó thì tôi đã đội mũ lên đầu, không cúi xuống sọt rác... thì đoá hải đường Hai sắc hoa ti-gôn đành an phận nằm trong đó, rồi người ta mang đi theo thường lệ, người ta phóng lửa đốt cả... Trong đó, rất có thể cả những áng văn hay mà cái anh thư ký toà soạn quan liêu, nhác lười, cẩu thả đã ném đi!...”.

***

Dị bản 2:

Tháng 7 năm 1937, tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy ở Hà Nội đăng truyện ngắn “Hoa ti-gôn” của nhà văn Thanh Châu. khoảng 2 tháng sau, thì “tòa soạn nhận được một phong bì dán kín do một thiếu phụ trạc 20 tuổi, dáng bé nhỏ, thuỳ mị, nét mặt u buồn mang đến gửi cho chủ bút tờ báo trên, trong ấy chỉ vỏn vẹn có bài thơ ‘Hai sắc hoa ti-gôn’, dưới ký tên là T.T.Kh…Có thể nói đây là lần duy nhất người thiếu phụ ấy xuất hiện“…

***

Tiếp theo, mời anh/chị đọc truyện ngắn "Hoa ti-gôn" của nhà văn Thanh Châu đăng trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy. Truyện ngắn này được tác giả T.T.Kh tham chiếu bằng 2 câu thơ:

Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết

Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa

--

Hoa ti-gôn

Tác giả: Thanh Châu

*

“… Hoa leo ti-gôn sắc đỏ, sắc hồng, sắc trắng năm nào cũng vậy, một mùa tàn lại một mùa nở. Nó chẳng giống lòng bất trắc của con người…” KHÁI HƯNG (Gánh hàng hoa)

-

Sáng nào cũng vậy, hết giờ dạy vẽ ở trường Mỹ thuật về qua phố Tràng Tiền, họa sư Lê cũng không quên mua một bó hoa ti-gôn. Đó là thói quen của họa sư mà không một người bạn hay người học trò thân nào là không biết rõ. Đến mùa hoa ti-gôn nở nhiều nhất, trong nhà họa sư Lê người ta chẳng còn thấy một thứ hoa nào khác. Mà có người nào tẩn mẩn ngắt một nụ hoa nho nhỏ ấy xem kỹ, họ sẽ phải cho lời nhận xét của họa sư Lê là đúng: Hoa ti-gôn hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu hồng dịu như nhuốm máu đào. Rồi người ta phải tự hỏi thầm: “Tại sao họa sư Lê lại thích chơi cái thứ hoa trông như giấy ấy, để trong phòng quá một ngày đã rụng rồi? Chắc lại có điều tâm sự chi đây”.

 

*

 

Một buổi trưa – hồi đó Lê Chất hai mươi bốn tuổi, còn là một họa sĩ nghèo mới ở trường ra – một buổi trưa đạp xe về các vùng lân cận Hà Nội, Lê Chất rẽ vào làng Mọc với giá vẽ buộc trên xe. Người thiếu niên ấy đi tìm cảnh vẽ. Mà cảnh đẹp đây là một thiếu nữ chàng mới gặp chiều qua.

-

Đến gần một ngôi nhà cũ kỹ, trông ra dáng biệt thự của một ông quan hưu dùng làm chỗ nghỉ ngơi, Chất hãm xe, nghễnh cổ nhìn qua một hàng rào cây tốt um tùm. Chiều qua, lúc Chất sắp đạp xe rất nhanh qua đó, tình cờ liếc mắt vào nhà, bỗng thấy một thiếu nữ đứng trên một chiếc ghế cao, đang với tay lên những dây hoa đỏ trên giàn nứa. Người con gái mặc áo cánh lụa cụt tay, hở cổ, để lộ một màu da khỏe mạnh, như thứ da thường ra nắng của những cô gái nhỏ. Hai má ửng hồng, vài sợi tóc trên vầng trán, cảnh “con gái hái hoa” ấy như một bức tranh linh động, khiến người họa sĩ phải dừng chân ngắm không chán mắt. Khuôn mặt đều đặn, vẻ đẹp thông minh, nhất là đôi môi có một nét vẻ lạ, đó là thứ nhan sắc hiếm hoi, ai trông thấy một lần đều in sâu trong trí nhớ. Thiếu nữ vô tình, bận gỡ hoa trên giàn đã để Lê Chất có thì giờ nhìn ngắm kỹ. Đến khi cô gái bước xuống đất, sắp vào nhà, đưa mắt nhìn ra đường thấy có người đứng nhìn mình, mới cau mày tỏ vẻ không bằng lòng.

-

Nhưng từ hôm đó, hôm nào họa sư cũng đạp xe vào làng Mọc, giá vẽ buộc trên xe, mà chẳng vẽ bao giờ, vì còn bận quanh quẩn gần biệt thự. Thiếu nữ động trông thấy bóng anh chàng là lẩn vào nhà.

-

Lê Chất chỉ được trông thấy nàng vài lần nữa rồi thôi bởi ngôi nhà hình như sau đó không có người ở nữa, ngày nào cũng chỉ nhìn thấy có một ông già cuốc cỏ trong vườn.

-

Rất lâu, Lê Chất mơ màng đến người thiếu nữ. Anh cố nhớ lại khuôn mặt, thân hình, hai cánh tay đẹp để trần, nhất là đôi môi của thiếu nữ. Anh đã vẽ nhiều croquis cất trong album để ghi giữ lại rồi dần dần cũng quên đi…

-

Lê Chất đã nổi tiếng. Thầy học cũ của anh vì mến tài, đã đưa anh lên một địa vị mà nhiều người ghen tỵ. Tranh của anh được nhiều báo nước ngoài nói đến và bán với giá cao: Anh đã bỏ lối phong cảnh để vẽ người. Tranh vẽ người, nhất là tranh vẽ đàn bà đã khiến các bạn Chất tặng cho cái tên: “Người lấy máu để vẽ các cô gái đẹp”. Họa sĩ đã trở nên giàu có, ăn mặc sang, khó tính. Lê Chất bây giờ đã đứng tuổi, từ lâu không còn là gã họa sĩ nghèo huýt sáo đạp xe quanh vùng lân cận Hà Thành đi tìm cảnh đẹp, với giá vẽ buộc trên xe đạp.

-

Mùa lạnh năm ấy, Lê Chất đi vẽ ở một vùng Vân Nam phủ. Trong một bữa tiệc chiêu đãi của tòa lãnh sự Pháp, họa sĩ trông thấy một thiếu phụ ta, đẹp một vẻ khác thường, nhưng có dáng buồn. Chất bỗng ngờ ngợ như hơn một lần đã gặp người này. Ở đâu? Chất giật mình. Có thể nào? Nhưng quên làm sao được khuôn mặt ấy, đôi môi ấy? Nhờ một người quen giới thiệu, Chất được rõ: Thiếu phụ là vợ một viên chức trong tòa lãnh sự.

-

Trong khi nhảy với thiếu phụ một bản tăng-gô, Lê Chất đột nhiên hỏi:

- Bà vẫn thích hái hoa ti-gôn chứ?

Thiếu phụ nhìn chàng rất ngạc nhiên:

- Ông nói gì… tôi không hiểu.

- Có lẽ bà đã quên Hà thành, làng Mọc, cái biệt thự xinh xinh có một giàn hoa…

 

Người đàn bà ấy kêu lên, mắt long lanh:

- Có phải ông là cái anh chàng họa sĩ vẫn nhìn trộm tôi ngày trước đó không?

 

Nàng nói tiếp:

- Thảo nào mới nhìn ông tôi cũng tự nghĩ không biết đã gặp ở đâu rồi. Tám chín năm rồi đấy, thế mà chúng ta còn nhận được nhau…

-

Mai Hạnh – tên thiếu phụ – rất buồn ở Vân Nam phủ. Nàng không có bạn. Lấy một người chồng gia thế cân đối với nhà mình, cuộc đời nàng bằng phẳng nơi đất khách. Bây giờ gặp được người cùng xứ, người đó lại đã dự vào dĩ vãng tươi đẹp của mình, một họa sĩ nổi danh, nàng không có cảm tình với Lê Chất làm sao được? Hạnh thường đến chỗ họa sĩ trọ, thăm viếng mỗi ngày, và thuận cho chàng vẽ một bức chân dung.

-

Một buổi sáng, hai người đi chơi, trên một ngôi chùa Tàu cheo leo đỉnh núi, Lê Chất nói:

- Tôi biết thế nào trong đời tôi cũng còn gặp Hạnh, bởi vì không bao giờ tôi quên cái buổi chiều ở làng Mọc. Nhưng số mệnh khiến chúng ta gặp nhau lần này có phải là để chúng ta chỉ có thể thành đôi bạn thôi ư? Hạnh có đoán được lòng tôi lúc này không?

-

Mai Hạnh, giọng run run tái nhợt, giơ tay bịt miệng Lê Chất. Nhưng khi Chất đã ôm nàng thì Hạnh không cưỡng lại:

- Em cũng yêu anh ngay từ buổi đầu.

 

Thế là, hai người như sống trong một cơn mê.

 

Mai Hạnh cố chống chọi lại với tình yêu mỗi ngày một lớn, còn Lê Chất thì lo ngại, tính toán như ngồi trên đống lửa. Chàng định cùng Hạnh trốn đi Nhật, không cần danh dự, chức nghiệp, dư luận của người đời. Nhưng Mai Hạnh tuy yếu đuối hơn, rụt rè, e ngại sau cùng cũng nhận lời.

-

Lê Chất trở về Hà Nội, sắp đặt xong mọi việc, lo lót giấy tờ tiền bạc, đồ dùng đi xa, tất cả đã sẵn sàng, thì phút cuối cùng nhận được thư của Hạnh: “Chất, anh hãy đi một mình và quên em đi, vì em không có thể theo anh. Đừng giận em tội nghiệp, em không phải là loại đàn bà có thể vượt được hết những khó khăn như anh đã tưởng. Đến phút cuối cùng, em bỗng sợ, em sợ gia đình tan tác, khổ thân thầy mẹ em, chồng em khinh bỉ, tai tiếng ở đời, những lo ngại ở tương lai… Em thấy rằng: nếu đi với nhau chưa chắc chúng ta đã sung sướng. Anh thấy chưa? Em là một đứa hèn! Em không yêu anh được như anh tưởng đâu, vì em đã hy sinh anh cho tất cả những lo ngại trên kia. Vậy mà em yêu anh có thể chết vì anh được. Trong đời anh còn nhiều chuyện, anh có thể quên em được đấy! Nhưng còn em thì chẳng bao giờ, chẳng bao giờ! Vì em biết em sẽ không bao giờ tự an ủi được, bởi em đã làm hỏng đời em, nếu em chẳng theo anh…”

-

Trong thư, một dây hoa ti-gôn nhỏ ép rơi ra: những nụ hoa chum chúm hình quả tim vỡ, đỏ hồng như nhuộm máu đào.

-

Lê Chất đặt một cái hôn trên những cánh hoa, và khóc. Nhưng đó là một kẻ đàn ông có nghị lực. Chàng đi du lịch xứ Phù Tang có một mình.

 

    *

 

Bốn năm sau, một hôm họa sư Lê Chất thấy trên bàn giấy mình một phong thư viền đen báo tang. Ông mở ra xem thì đó là của người chồng Mai Hạnh báo tin nàng đã chết.

-

Họa sư đáp xe lửa đi Vân Nam ngay để một buổi chiều đặt trên mồ Mai Hạnh những dây hoa quen thuộc. Rồi trở về Hà Nội, ông mới sực nhớ ra rằng đã quên không hỏi xem Mai Hạnh đã chết vì một bệnh gì, một cơn cảm sốt…, hay vì sầu muộn…

-

Ngày nay, họa sư Lê Chất đã già, nhưng cứ đến mùa hoa ti-gôn nở, không buổi sáng nào ông quên mua một ôm về thay thế hoa cũ trong phòng vẽ, vì thứ hoa ấy chóng tàn.

***

Bài thơ thứ nhất

Tác giả: T.T.Kh

Ngày 23 tháng 11 năm 1937

*

Thuở trước hồn tôi phơi phới quá,

Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương...

Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại,

Êm ái trao tôi một vết thương.

~

Tai ác ngờ đâu gió lại qua,

Làm kinh giấc mộng những ngày hoa,

Thổi tan tâm điệu du dương trước

Và tiễn người đi bến cát xa.

~

Ở lại vườn Thanh có một mình,

Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh;

Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo,

Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

~

Và một ngày kia tôi phải yêu

Cả chồng tôi nữa lúc đi theo

Những cô áo đỏ sang nhà khác,

Gió hỡi! Làm sao lạnh rất nhiều?

~

Từ đấy không mong không dám hẹn

Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm,

Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ,

Người ấy ghi lòng: “Vẫn nhớ em!”

~

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,

Bỗng ai mang lại cánh hoa tim

Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên?

~

Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ

Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ!

Tóc úa giết dần đời thiếu phụ...

Thì ai trông ngóng, chả nên chờ!

~

Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá

Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:

“Cố quên đi nhé, câm và nín

Đừng thở than bằng những giọng thơ!”

~

Tôi run sợ viết, lặng im nghe

Tiếng lá thu khô xiết mặt hè

Như tiếng chân người len lén đến.

Song đời nào dám gặp ai về!

~

Tuy thế tôi tin vẫn có người

Thiết tha theo đuổi nữa, than ôi!

Biết đâu... tôi: một tâm hồn héo,

Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

***

 

 

Bài thơ cuối cùng

Tác giả: T.T.Kh

Ngày 30 tháng 10 năm 1938

*

Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ!

Một mùa thu cũ, một lòng đau...

Ba năm ví biết anh còn nhớ,

Em đã câm lời có nói đâu!

~

Ðã lỡ, thôi rồi! Chuyện biệt ly,

Càng khơi càng thấy luỵ từng khi.

Trách ai mang cánh "ti-gôn" ấy,

Mà viết tình em, được ích gì?

~

Chỉ có ba người đã đọc riêng,

Bài thơ “đan áo” của chồng em.

Bài thơ “đan áo” nay rao bán,

Cho khắp người đời thóc mách xem...

~

Là giết đời nhau đấy, biết không?

...Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung,

Giận anh, em viết dòng dư lệ,

Là chút dư hương: điệu cuối cùng!

~

Từ nay, anh hãy bán thơ anh,

Còn để yên tôi với một mình,

Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét,

Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

~

Ngang trái đời hoa đã úa rồi,

Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi...

Buồng nghiêm thơ thẩn hồn eo hẹp,

Ði nhớ người không muốn nhớ lời!

~

Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây,

Tôi run sợ viết, bởi rồi đây

Nếu không yên được thì tôi... chết

Ðêm hỡi! làm sao tối thế này?

~

Năm lại năm qua cứ muốn yên

Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;

Và người vỡ lỡ duyên thầm kín,

Lại chính là anh, anh của em!

~

Tôi biết làm sao được hỡi trời?

Giận anh, không nỡ! Nhớ không thôi!

Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt...

Sợ quá đi, anh... “có một người”!...

***

 

➖ ➖ ➖

 

2019-11-09

Bên dòng sông Phố - Đỗ Phước Bình

 2019-11-09

Bên dòng sông Phố


Đỗ Phước Bình

~

Cuối mùa hè năm ấy, tôi rời quê lên Sài Gòn trọ học.  Khi chiếc xích lô chở mẹ tôi ra bến xe đò về tỉnh khuất dạng trên con đường Thành Thái rộng thênh thang, tôi đã tủi thân đứng khóc bên vỉa hè như một đứa trẻ mồ côi.

 

Nhưng rồi cuộc sống của đứa học trò có nhiều bạn bè tứ xứ cũng làm tôi vui dần. Ngày nghỉ, tôi về thăm quê, thường hay đem sách ra bên bờ sông ngồi đọc, lặng lẽ một mình.

Mấy mùa hạ trôi qua, mỗi năm mỗi lên lớp, bấy giờ tôi cũng đường hoàng là một cậu học trò đệ tam rồi. Tôi làm thơ, tôi chép thơ, tôi viết những dòng nhựt ký chỉ để riêng mình đọc. Tôi yêu màu hoa phượng đỏ rực rỡ trước sân trường, yêu ánh trăng khuya soi căn gác trọ.

Tình yêu chớm nở trong đời tôi một cách lặng lẽ và đẹp như làn khói lam chiều nào cũng tỏa lên từ những mái tranh nghèo của miền quê hương tôi hằng yêu dấu. Phải, tôi đã gặp lại Thắm cuối mùa hè năm ấy. Thắm là một người bạn học chung trường thuở nhỏ nhưng nhà nghèo nên không được tiếp tục cắp sách đến trường, nhà ở bên kia cánh đồng rộng mênh mông của gia đình tôi. Ngày đó, khi cơn nắng nữa chiều còn trải lên dòng sông sóng nhấp nhô màu bạc, Thắm chèo xuồng ngang qua chỗ tôi ngồi đọc sách, mái tóc đen óng ả xỏa dài như một lời thề và đôi má ửng hồng vì dang nắng lại hồng thêm vì thẹn thùa khi bắt gặp cái nhìn say đắm của tôi. Thắm khẻ nghiêng vành nón mỉm cười chào tôi rồi khua dầm chèo xuồng đi mau. Tôi nhìn theo bóng dáng thon nhỏ của Thắm, bồn chồn trong lòng như đã đánh mất phân nửa hồn mình trong đôi mắt dịu hiền của người con gái ấy. Những lần gặp sau, tôi dạn dĩ hơn, mượn cớ hỏi thăm các bạn học thời thơ ấu bắt Thắm phải dừng xuồng trò chuyện. Thỉnh thoảng Thắm cũng đem cho tôi những trái cây ngon trong vườn nhà.

Tôi đã kể chuyện đời tôi cho Châu, người bạn ở trọ chung nhà.  Nó học ban văn chương, tối ngày đọc sách, ngâm thơ và theo dõi báo chí để biết chuyện xảy ra hàng ngày trên thế giới. Chúng tôi vẫn cải nhau về đủ mọi chuyện, phần nhiều là tôi cải bướng cho được nhưng nằm đêm suy nghĩ lại mới thấy nó có lý, nhứt là từ khi tôi phục nó vì cách nó nói về tình đời.

- Chuyện giữa tao với Thắm mày nghĩ sao?

- Thì sao nữa, mày thương con người ta rồi còn làm bộ hỏi. "Người ấy" thùy mị và có duyên quá hả!

Chết rồi, nó đã đọc lén hết cuốn nhựt ký của tôi. Không giấu được gì nữa, tôi tâm sự:

- Tao vẫn biết là tao yêu Thắm. Lần nào ngồi trên xe về thăm quê, tao cũng nôn nao khôn tả. Chiều chủ nhựt trở lên Sài Gòn, tao nghe như phải đi đày. Tao mơ ước sau này được sống mãi bên nàng. Nhưng...

- Tao biết rồi, mày còn ngại cô ta ít học, không hợp với cách sống, cách suy nghĩ như bọn mình. Thắm không có dịp học cao hơn vì xã hội này vẫn còn là một xã hội đầy rẫy bất công, nên đành cam phận quê mùa. Bọn mình nhờ có tiền của, được tiếp xúc với văn hóa Âu Tây, có những thói quen, kiểu cách tạm gọi là văn minh.  Nếu mày đồng ý với cái thứ tự sẳn có từ thời xa xưa nào đó này thì tốt hơn mày nên quên Thắm. Ngược lại nếu mày muốn thay đổi tận gốc rể cái hệ thống xã hội áp bức này, dầu chỉ là trong lòng mà thôi, mày sẽ nhìn Thắm một cách khác. Thắm sẽ được học cao lên thêm ngày quê hương mình đổi mới.

Châu nói say sưa với tất cả lòng nhiệt thành của nó. Nó đã thật sự gỡ rối được những mối tơ lòng của tôi. Nó đã gieo vào tri thức của tôi một ý tưởng mới đẹp đẽ vô cùng. Từ đó Châu, rồi anh Phước đã dìu tôi đi, đi giữ truyền thống bất khuất của trường tôi, giữ thơm cho quê mẹ. Những ngày vui ấy, hình ảnh Thắm rực rỡ hơn bao giờ hết. Tôi thường mơ thấy cùng Thắm bơi thuyền trên dòng sông Đồng Nai, mái tóc Thắm xõa dài bay lồng lộng trong gió chiều thơm mát.  Tôi hái một chùm hoa bằng lăng tím đỏ trao cho Thắm, Thắm với tay tát nước lên đó để giữ cho hoa tươi và cả lên tôi rồi cười tinh nghịch.

 

Năm 1969, tôi học lớp đệ nhứt B2. Tháng năm, trời nắng chang chang. Buổi sáng vừa vào lớp, trong hộc tủ bàn học đã có sẵn những tấm truyền đơn, những lời kêu gọi của các bạn Gia Long, Trưng Vương, Cao Thắng. Buổi trưa ngồi trong lớp tôi lại hay ngóng nhìn ra ngoài. Những con chuồn chuồn ma đo đỏ vẫn bay cao bay thấp như thuở nào tôi còn là một chú bé ngờ nghệch. Nhưng không phải tôi nhìn chúng. Bên kia dãy nhà để xe đạp là trường đại học khoa học, các anh lớn đang bãi khóa, hội thảo, xuống đường ca hát vang trời. Tôi thấy Châu vẫn cười đùa, đi thăm hết người này tới người khác.  Ngày 12 tháng 6, cả bốn ngàn học sinh các lớp ngày cũng như đêm, đồng phục chỉnh tề, xuống sân trường đương đầu với lựu đạn cay, phi tiễn, dùi cui. Trong làn khói phủ sân trường, tiếng hát cất lên, cao vút và hùng hồn.  Châu ơi, có phải đó là tiếng hát mừng ngày quê hương ta đang chuyển mình đổi mới, để cho Thắm, cho bà con ở ruộng đồng, cho đồng bào nghèo khó ở thành thị có được ngày mai tươi sáng?

 

Tôi rời khỏi mái trường thân yêu giữa những ngay sôi sục đó. Lần cuối cùng nhìn lại những dãy bàn ghế, những tấm bảng đen, tôi nghe quặn đau trong lòng. Nơi đây tôi đã trải qua chuỗi ngày tươi đẹp nhất của đời người. Nơi đây các bạn học cùng trường đã truyền được cho tôi dòng máu hào hùng của anh Ơn, người đã vinh quang gục ngã hai mươi năm về trước.

Cầm chứng chỉ tú tài hai, tôi trở về nghĩ hè ở quê nhà. Mẹ tôi âu yếm nhìn tôi, hãnh diện vì con trai của mẹ bây giờ đã lớn khôn, giỏi giắn:

- Ai coi mới hồi nào nó còn ghẻ chốc đầy đầu, bây giờ nhờ Trời Phật độ cho thi đậu thiệt là nhà mình có phước. Má nguyện ăn chay một tháng rồi đó con.

Đã từ lâu, tôi không còn bực bội vì sự mê tín, quê mùa của mẹ tôi. Trái lại tôi vui sướng có được người mẹ chơn chất, cả đời chỉ biết có hy sinh, khuyên con mình điều hiếu nghĩa. Nhìn mái tóc mẹ điểm sương tôi không ngăn được xúc động. Tôi muốn nói lên điều gì để cảm ơn mẹ tôi, nhưng có lời nói nào đầy đủ bằng tiếng lặng thinh suy nghĩ, nén tình cảm mình thật sâu trong lòng? Một lát, tôi nói đùa:

- Con thi đậu, má thưởng con cái gì đi.

Mẹ tôi cười:

- Để má đi nói con Thắm cho con nghen.

Tôi mắc cở vùng chạy ra bến sông, chợt có cảm giác vui vui là Thắm đã đến thật gần trong cuộc đời mình.

Nhưng không, câu chuyện không quá giản dị như thế. Lần tôi quyết định gặp Thắm để ngõ lời là một đêm sáng trăng.  Cây bưởi vườn bên nở bông thơm ngào ngạt cả bầu trời. Bên bờ sông, tiếng sóng vỗ rạt rào lên bờ đất nghe như tiếng thì thầm của những người yêu nhau từ ngàn muôn thuở trước. Thắm tựa lưng vào gốc dừa, nhìn sang bên kia sông, nơi có ánh lửa nấu bếp nhà ai, tôi nói:

- Trăng sáng quá hả Thắm, bởi vậy người ta vẫn hay làm thơ ca tụng cảnh trăng thanh gió mát.

- Dạ

- Có nhà thơ còn coi trăng là của riêng mình và mang ra rao bán.

- Thắm không bao giờ dám nghĩ cái gì là của mình hết

- Sao lại không dám, cứ coi như trăng là của riêng cũng chẳng sao. Có điều là ai lại mang đi bán bao giờ.

Thắm thơ ngây hỏi:

- Sao vậy anh?

- Tại vì đối với anh, trăng là để người ta tặng nhau cho đẹp lòng người mình yêu mến.

Rồi tôi nói thật dịu dàng, tiếng nói tan biến đi trong cơn gió thoảng mùi hoa bưởi:

- Anh tặng Thắm vầng trăng đó, Thắm có nhận không?

Con gái, lần đầu tiên có người con trai xứng đáng thành thật nói yêu mình, tôi nghĩ là Thắm đang nghe lòng xao động lắm. Nhưng kìa, sao Thắm lặng nhìn tôi rồi nước mắt lưng tròng?

-Thắm hiểu ý anh từ lâu lắm rồi, bạn bè Thắm cũng nói là chắc anh nghĩ đến Thắm. Thắm cũng rất mến anh nhưng Thắm mong là anh sẽ quên Thắm đi. Anh còn phải đi học ở nước ngoài lâu lắm, còn Thắm chỉ là một cô gái quê mùa.

Tôi cố thuyết phục Thắm bằng nhiều lý lẽ nhưng không sao lay chuyển được nàng để rồi cuối cùng phải nói như để an ủi chính mình:

- Hiểu được lòng Thắm là anh sung sướng lắm rồi. Còn việc Thắm muốn anh quên, anh có muốn quên chắc cũng không dễ được. Anh hứa sẽ cố hết sức góp phần làm thay đổi cuộc sống bất công này, trả lại cho những người con gái như Thắm những ước mơ lẽ ra phải có. Ngày đó anh sẽ xin tìm lại Thắm, tặng cho Thắm mảnh trăng thề kia và cả cuộc đời anh nữa.

Tôi nắm lấy tay Thắm xiết thật chặt trong lòng tay mình. Thắm để yên và nhìn tôi như muốn thu cả hình bóng tôi vào trong con tim nàng đang thổn thức. Tôi nghe Thắm nói ngọt ngào bên tai:

- Vài hôm nữa Thắm đi.

Tôi ngạc nhiên:

- Thắm đi đâu vậy?

- Thắm cũng đã nghỉ như anh là phải tìm cách thoát ra cảnh đời bùn lầy nước đọng này. Thắm đi theo con đường cha ông mình đã vạch sẵn từ ngàn xưa. Nơi nào là quê hương, nơi đó Thắm sẽ đến. Ngày nào quê hương mình đổi mới Thắm sẽ trở về và chừng đó Thắm sẽ xin đón nhận lấy ánh trăng vàng anh tặng.

Tôi hiểu Thắm muốn nói với tôi điều gì. Tôi không thấy Thắm quyết định như vậy là sai, bởi vì đối với tôi có con đường tranh đấu khác, trong khi Thắm chỉ có một con đường ấy.

 

Rồi chúng tôi xa nhau biền biệt, tôi ra đi du học ở một thành phố châu Âu, Thắm như con chim trời bay nhảy qua ruộng đồng, làng mạc, rừng núi, thị thành. Mỗi lần nghe hát bài “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn” hay xem phim về những người nữ thanh niiên xung phong ở miền Bắc, tôi luôn nhớ Thắm và tin chắc rằng không có đội quân xâm lược nước nào có thể chiếm được nước tôi, nơi có muôn triệu người con gái như Thắm.

 

Năm 1982, lần đầu được về thăm quê sau ngày giải phóng, tôi đã ứa nước mắt khi nhìn thấy lại ngôi nhà ngói ba gian của thời thơ ấu và đã bật khóc khi mẹ tôi ôm trọn khuôn mặt tôi vào trong hai lòng bàn tay gầy guộc của người để vuốt ve và nhìn cho thật rỏ, miệng cười mà nước mắt chảy ròng ròng. Rồi người dắt tôi đến trước từng bàn thờ, bảo tôi đốt nhang cắm vào lư hương, quì lạy ông bà, Trời Phật. Tôi làm theo lời mẹ không phải chỉ vì muốn làm vui lòng người mà còn vì ý thức được nét đẹp của truyền thống thờ cúng ông bà mà nới rộng ra là yêu kính tất cả những bậc tiền nhân đã gầy dựng nên gia đình, quê hương, đất nước mình từ ngàn năm trước. Ba tôi thì mừng con về theo cách của người, sai em tôi xách gào mên ra thị xã mua mì về, rồi ngồi kề bên nhìn tôi ăn, y như ngày xưa mổi chiều thứ bảy.

Mấy ngày đầu tiên, tôi đi thăm và tặng qùa cho bà con và người quen trong làng, không quên một ai để không làm ai buồn lòng, theo thói quen tốt đẹp của dân mình.  Cuối cùng tôi bảo đứa cháu gái chèo xuồng đến thăm nhà Thắm. 

Mẹ tôi đã cho tôi biết là Thắm đã có chồng trong chiến khu, rồi chồng hi sinh trong những ngày cuối của chiến tranh, nay công tác trong ngành y tế huyện nhà.

Gặp lại Thắm sau mười mấy năm, ngở nàng rắn rỏi, dạn dày vì nắng mưa, gian khổ.  Nhưng không, Thắm vẫn dáng người thon thả và có phần đẹp hơn xưa.

Thắm rót nước mời tôi uống, nét mặt vui mà nghiêm. Tôi lúng túng không biết mở lời sao cho phải. Cuối cùng cũng trấn tỉnh được:

- Cô Thắm cho tôi thắp nhang cho hai bác và anh Quang.

Thắm dạ, làm theo lời tôi, rồi ngồi xuống ghế đối diện với tôi, kể chuyện đời Thắm từ khi chúng tôi xa nhau, đàng hòang xưng em thay vì xưng tên như thuở còn con gái.

- Em được phân công đi học làm y tá rồi chuyển lên tuyến trên phục vụ chiến trường.  Ở đó em gặp anh Quang, một chiến sĩ can trường và vô cùng yêu thương đồng đội. Em đã lỗi hẹn với anh, nhận lời cầu hôn của anh ấy. Được mấy năm, chẳng may....

Tôi không để Thắm phải nhắc đến chuyện buồn nên vội nói lên sự thông cảm với nàng và lòng kính trọng đối với người đã khuất. Thắm cũng hỏi thăm tôi, tò mò muốn biết tôi đã có ai chưa?  Không khí thân vui lần lần làm tôi dạn xưng anh với Thắm.

- Nơi anh sống không có nhiều nữ sinh người Việt, còn người Âu thì sợ ba má anh rầu vì hai người luôn ao ước muốn sau này có người lo nhang khói. Có lẽ anh sẽ nhờ ba má tìm giúp. Với lại, ...

Chúng tôi chợt im lặng. Tôi chợt nhớ đến hình ảnh Thắm chèo xuồng trên sông, mái tóc xỏa dài bay bay trong gió chiều thơm mát. Còn Thắm, em đang nghĩ gì?

- Anh Quang thường hái hoa lan rừng tặng em mỗi lần hành quân trên chiến khu Đ. Anh ấy cũng từng là một học sinh ở nội thành và cũng lãng mạng y như các anh vậy.

Rồi như thấu hiểu lòng tôi, Thắm nói thật nhanh và thật khẻ:

- Đối với em, anh ấy vẫn như còn sống, anh à.

Vậy đó, tôi không còn ở trong trái tim Thắm nữa rồi! Bất giác tôi nhìn lên ảnh Quang lung linh cuời sau làn khói đang bay lên từ những nén nhang còn cháy bỏng.

Trên chiếc xuồng tam bản chở tôi về, tôi suy nghĩ miên man. Kể ra Thắm chặn tôi dừng lại đúng lúc cũng phải, như Thúy Kiều đã dừng Kim Trọng tại lằn ranh giữa lã lơi và âu yếm, hai điều tưởng gần nhau mà thật ra khác xa trời vực!

Trở lại trời Âu, tôi lao vào công việc giúp nước của phong trào, quyên góp tiền xây bệnh xá, trường học, mua thuốc men, sách vỡ.  Cứ như là để được bình yên với tâm hồn mình và được chia xẻ nhọc nhằn với người mình thương nhớ.

Mấy năm sau, nhân dịp về thăm nhà, tôi đi giao quà tặng cho một xã nghèo.  Xe đưa chúng tôi đi theo những con đường xuyên rừng. Chợt nhìn thấy một chùm hoa lan tím ngát trên cao, tôi xin dừng xe lại, đứng lên vai một người bạn để trèo lên một rồi hai ba cành cây, vói tay hái cho kỳ được.

Về đến quê nhà, ngay chiều hôm đó tôi đến thăm Thắm, đặt vào hai cánh tay gầy của Thắm lẳng hoa rừng và nói thỏang nhẹ như ru người yêu dấu:

- Anh tự tay hái chùm bông lan này ở chiến khu Đ về tặng em. Nhận cho anh vui nha Thắm.

Thắm bối rối, lặng nhìn tôi rất lâu làm tôi như nghẹt thở cho đến khi đôi môi em nở một nụ cười hiền dịu thay cho lời hứa ngọt ngào mà tôi đợi chờ từ năm em mười tám tuổi.

Mười năm nữa trôi qua, tôi về ở luôn trong nước, ngày ngày hai vợ chồng đi làm trên thành phố. Gặp kỳ nghỉ lễ dài hay ngày giổ ba má, tôi lại chở Thắm về quê, chiều chiều ra bờ sông hóng mát, nhắc cho nhau nghe những chuyện đẹp ngày xưa.

 

Bruxelles 2-8-2011

Đỗ Phước Bình

 

➖ ➖ ➖

 

2019-11-02

Một chuyện tình (3) - Xuân An

 2019-11-02

Một chuyện tình (3)


Xuân An


Thư gởi người yêu

 

Thu yêu,

Vào những ngày cuối năm khi đường phố Sài Gòn se lạnh và tươi lên với những chiếc áo len đủ màu, đôi khi anh cũng có những giờ phút rỗi rảnh đến ngồi một mình ở bên ly cà phê, ở quán nước ấy, để mà nhớ đến em nhiều lắm.

Anh nhớ buổi đầu mình hẹn nhau, nhằm vào một ngày bãi trường Tết của mười lăm năm về trước. Tiệc tất niên, chúc thầy, chúc bạn, bán báo Xuân và ca hát vừa xong, anh phóng vội xe ra đường Nguyễn Cư Trinh, để rồi phải đứng giữa trời nắng trưa chờ em hơn một giờ sau mới đến. Em đã ngồi trước mặt anh nơi này đây, yêu kiều và rạng rỡ, suốt một buổi chiều nói với anh những gì em hằng mong ước cũng như những ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt thoáng qua...

Em nói ước gì hai đứa mình được đi du học, được đến các nơi xa lạ mà trong trí tưởng của em chắc là vui và đẹp lắm. Anh nhớ những lần hẹn hò sau, có khi anh cũng làm em hờn dỗi, có khi lại chính em làm anh buồn. Giận đó rồi vui đó. Bởi chúng mình đang ở lứa tuổi đôi mươi tràn đầy nhựa sống, lúc mà người con gái có sức hấp dẫn lạ kỳ của một vẽ thanh tân và người con trai, của một nét hào hoa nào đó, làm tiêu tan hết những giận hờn vì trái ý nhau.

Ôi, giá anh có đủ trình độ để hiểu được mối quan hệ nhân quả giữa những nỗi giận hờn ban đầu với những lần tranh cãi giữa hai vợ chồng mình sau này, trước ngày em đi, chắc anh cũng không đủ can đảm để lìa xa em ngay thuở ấy, bởi vì anh đã là đứa con trai yêu em cuồng nhiệt như em biết đó, Thu à.

Anh nhớ hôm anh báo tin thi đổ ra trường, hai đứa đều vui không sao tả xiết. Cũng trong quán nước này, lần đầu tiên anh mới dám bàn đến chuyện cưới em. Bởi gia đình em thì giàu mà ba má anh nghèo quá. Không có mảnh bằng bác sĩ với hạng tối ưu của anh thì hai bên khó mà làm sui gia với nhau. Rồi chúng ta thành vợ chồng; anh đóng lon trung úy và được ba em lo cho về gần nhà. Những ngày tháng ấy, hai đứa mình yêu nhau nồng cháy hơn lúc nào hết...

Không đâu em, không phải chỉ có mình em nơi xa xăm ấy mới thường hay nhớ đến những đêm mưa đầu mùa đến bất chợt sau một cơn giông, anh thức dậy đi đóng cửa sổ buồng mình sợ gió chướng làm em đau. Anh cũng nhớ em từng chút. Nhớ cả đến nốt tàn nhang trên bờ vai trái của em, dường như giữa nó với anh cũng cùng mang nhiều kỷ niệm êm đềm.

Mùa hạnh phúc giữa chúng mình kéo dài bao lâu anh đã không tính được. Có lẽ là cho đến khi, trong cuộc đời binh nghiệp, ở vị trí của một người bác sĩ, anh phải chứng kiến hàng ngày sự tàn phá của bom lân tinh rải lên mình những em bé quê, của chất độc hóa học gây quái thai nơi người mẹ trẻ, của những thân xác không còn hình người trên những bãi chiến trường...

Anh có kể cho em nghe những điều ấy trong những bữa cơm, anh có cãi vã với ba em. Có lần, em phật lòng vì anh tỏ ra buồn rầu không thiết ăn món ngon em nấu. Và anh cũng không biết làm sao để chìu em được. Em khóc. Anh bối rối dỗ em, cho đến khi anh tạm quên được những chuyện nghịch lòng để cuối xuống hôn lên đôi môi của em mà trái tim vẫn đập nhịp bình thường. Buồn ơi, chào mi!

Thu ơi, có lẽ chúng ta bắt đầu xa nhau từ dạo đó. Chứ không phải từ hôm anh nhất quyết ở lại còn em thì nhất quyết ra đi. Cuộc sống sau ngày 30-4 ấy, đối với em, dĩ nhiên là buồn chán và mờ mịt tương lai. Phía cách mạng đã có nhiều sai sót trong sự đối xử hàng ngày với người dân thành phố, làm cho em lại càng hoang mang hơn về chỗ đứng của tầng lớp mình trong xã hội mới đang thành hình. Bên cạnh đó, sức hấp dẫn của những những nước Âu Mỹ đang mời gọi lại mạnh mẽ hơn lúc nào hết. Em đi. Anh ở lại. Anh đã có nói với em về cái lý, cái tình của mình. Bây giờ, em đã ôm nhiều mộng vỡ nơi thiên đường buồn thiu kia, chắc em sẽ cố lắng nghe anh hơn. Anh mong vậy.

Anh sinh ra đời nơi một làng quê nghèo khó miền Trung. Mảnh đất khô cằn sỏi đá ấy, đối với anh xinh đẹp vô cùng. Tuổi nhỏ, đầu trần, chân đất anh đi học theo con đường làng cát trắng. Trời trưa nắng đã đốt thành chai lỳ đôi bàn chân của anh. Anh không mang những ước mơ đi thật xa, tắm mình trong cảnh đẹp xứ người như cô bé Thu học trường bà sơ ở thành phố lớn, mê giàn nho ngọt trái đong đưa, những quả lê đỏ ẩn hiện trong vòm lá xanh tươi màu nắng hạ. Lớn lên, anh vào Sài Gòn trọ học. Sài Gòn cũng là một mảnh đất quê hương, nhưng sao anh cảm thấy xa cách thế nào. Thành phố ấy đối với anh, xô bồ và hỗn độn và nhất là không dung những bước chân nghèo lưu lạc đến. Ai đi xe nhà bóng lộn, anh đã chỉ biết có xe buýt xe lam... đông nghẹt người nghèo. Ai ở biệt thự phố lầu, anh thì chỉ biết có những căn nhà cũ kỹ, chật hẹp, ồn ào. Ai cao lầu, trà đình, anh chỉ có cá kho rau muống qua ngày. Sài Gòn đối với anh đã vậy một thành phố Âu châu nào đó cũng thế mà thôi. Còn đối với em, thì như em đã hiểu. Anh đau xót lắm khi nghe em kể phải làm quần quật mới kiếm đủ sống. Lỗi tại anh, ngày xưa đã không bắt em đi học nghề gì để phòng thân!

Thu à, nếu cái tình của anh là tình quê hương, thì cái lý của anh là nghĩa đồng bào. Xin ai đừng giận, để cho anh nói hết. Nếu anh là một nhà kinh doanh thì anh có lẽ đã mềm lòng ra đi với em ngày ấy. Nhưng anh lại là một bác sĩ, xuất thân từ con nhà nghèo. Làm sao đi cho đành? Mỗi ngày anh khám bệnh cho ngót một trăm người. Em nhân số ấy cho số ngày anh làm việc trong năm năm qua để đo lường khối công việc của anh. Bệnh nhân của anh phần đông là những thanh niên, thiếu nữ bụi đời ngày trước. Niềm vui của những người con gái, con trai ấy khi được trở lại đời sống bình thường cũng chính là niềm hãnh diện của anh. Anh đã sống có ích cho xã hội cho đồng bào anh. Em cũng đồng ý vậy, nhưng lại mỉa mai về đồng lương ốm nhom của anh, về phần thịt cá ít ỏi, có khi có, khi không. Sao ngược lại, em không tự hỏi phải làm cách nào để khẩu phần của mỗi gia đình được tăng lên? Làm sao? Xin đừng ai bỏ qua những câu trả lời ấy trước khi phê phán.

Nói cho đúng, đã hơn một lần anh muốn buông xuôi tất cả, vì những cái nhỏ nhen, hẹp hòi, vụng về của một số người nặng thành kiến về tất cả những ai, như anh, đã từng phục vụ cho chế độ cũ. Chính những thái độ quá nghi kị ấy thường làm anh nản lòng và hoang mang chứ không phải vì đồng lương. Anh đồng ý với em trên điểm này, nhưng khác với em, anh đã trằn trọc suy nghĩ mổ xẻ vấn đề, thử đặt mình ở vị trí của họ để hiểu họ. Và cuối cùng, anh nghiệm ra rằng chỉ sợ mình không đủ tình yêu lớn đối với quê hương và con người Việt Nam, để bền lòng lo cho việc chung, chứ không sợ chẳng bao giờ được tin cậy. Năm năm trôi qua đã chứng tỏ "a fortiori" rằng anh đã nghĩ đúng. Bạn của anh bây giờ, trước kia có thể ở chỗ đầu ruồi khẩu súng của nhau! Chơi với nhau thân rồi mới hiểu rằng ai cũng như ai, cũng mang những lý tưởng tốt đẹp, pha với những ham muốn bình thường, đôi khi còn tầm thường nữa kia. Nhưng chẳng hề gì cả, đừng soi mói nhau trong cuộc sống riêng nếu không giúp ích gì được nhau, mà hảy quý trọng nhau qua những nhọc nhằn bỏ ra ngày ngày cho quê hương và dân Việt mình.

Thu ơi, anh đã nói với em khá nhiều về những chuyện khó khăn anh đã từng chịu đựng. Đọc qua một lượt, có thể em ngỡ rằng ngày nào, giờ nào, ở đâu đâu anh cũng đã phải cực lòng với những sự việc ấy. Không đâu em à, trong mấy năm qua, cuộc đời của anh có những niềm vui và những nỗi buồn phiền xen lẫn nhau, với chiều hướng là hôm nay, những niềm vui lấn át dần những nỗi buồn. Em đừng suy diễn là anh đang nói sẽ có lúc đời anh chỉ có những ngày vui. Không, cuộc đời con người cũng giống như thiên nhiên, có khi nắng mai, có khi bão tố, nhưng nhìn chung, thiên nhiên và sự sống vẫn đẹp vô cùng! Đẹp lắm chứ cảnh mấy mươi người ngồi dưới bóng mát chia dứa ngọt nhau ăn, kẻ từ vỉa hè, ngõ tối Sài Gòn ban xưa đến, kẻ vốn là một người bác sĩ phong lưu thời thượng, kẻ ở miền Bắc mới vào. Tiếng hát, tiếng cười đùa vang lên giữa buổi trưa nơi này, gió có mang đến cho em nghe không?

Đẹp lắm chứ tâm hồn của một người khi xưa là một cô điếm bây giờ trở lại làm một cô y tá xinh đẹp, dễ thương, tận tụy với công việc và cười vui suốt ngày.

Thu ơi, anh muốn thổ lộ với em là nhiều khi từ trong thâm tâm, anh biết anh có những mơ mộng thầm kín đối với một cô bạn ở đây. Em đi rồi, anh sẽ phải tìm một người vợ khác mà chẳng ai chê trách được, kể cả em. Nhưng liệu cô ấy có yêu anh thật lòng không? Ở lứa tuổi này, trong lãnh vực này anh vẫn thấy mình còn ngây ngô như dạo nào. Anh sợ nhất trên đời là phải làm chồng một người không hề yêu mình!

Bây giờ, anh còn có thêm một lý do nữa để đắn đo, và điều đó làm anh bối rối vô cùng. Anh đã đọc nhiều lần lá thư em kể chuyện đời em mấy năm qua trên xứ Bỉ. Em đã chinh phục được một người kỹ sư du học trước kia. Nhưng rồi, đột nhiên anh ấy thay đổi tâm tính, từ ngoan ngoãn chìu em, đến bực bội vì thói quen xa hoa phung phí của em vì một lý do nào đó em không hiểu nổi. Cuộc sống nơi quê người cũng đã mất hết sức hấp dẫn đối với em. Ba má lại buồn vì tuổi già quạnh hiu giữa bốn bức tường không họ hàng thân thích. Rồi em xa anh ấy. Em đi làm kiếm đồng lương nuôi gia đình vất vả sớm chiều.

Em lại nhớ đến hạnh phúc của những ngày sống bên anh. Những đêm mưa đầu mùa anh thức giấc đóng cửa sổ buồng mình. Những tình cảm dịu dàng anh dành trọn cho em. Những buổi sáng chủ nhật, anh đưa em đi ăn phở, uống cà phê rồi hai đứa nắm tay nhau đi dạo trên đường phố, để nghe những tiếng động và mùi thơm quen thuộc ngập tràn không gian hạnh phúc vợ chồng mình. Em lại nói với anh những lời âu yếm, những lời nồng nàn của một trái tim hiểu đời nhiều hơn thuở trước. Ai hay, gian truân trắc trở cũng có thể trui rèn con người thành đẹp hơn, em nhỉ!

Đọc thư em, nhiều khi anh nghe đau nhói trong lồng ngực. Ngọn đèn chong đầu giường vẫn tỏa ánh sáng đầm ấm như xưa, mà đôi ta mỗi người một nẻo. Và có lẽ đến bây giờ anh mới thấm thía câu thơ Kiều "Vầng trăng ai xẻ làm đôi, nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường"

Thu ơi, chúng ta đã có một thời yêu nhau khắn khít. Rồi đất nước đổi thay, em bỏ anh ra đi. Nơi ấy, em đeo đuổi một người em không yêu, cuối cùng rồi tan vỡ. Nơi này, anh thầm rung động vì một người, nhưng người ấy chỉ thích thương yêu chung mọi người. Song cái thời anh có thể vì bao nỗi bực mình, bỏ đất nước ra đi đến với em cũng đã qua rồi. Cuộc sống ở đây ngày càng làm anh say mê, bởi anh nhìn được những đổi thay heo chiều anh mong muốn. Như thế, nếu em còn yêu anh, thì, Thu ơi, chỉ có một con đường.

Khởi điểm của con đường ấy đang ở dưới chân em, dù đó chưa phải là con đường rộng thênh thang, bằng phẳng. Thật ra, em có thể không hiểu chớ bây giờ, những con đường ấy, cả những người như anh, ở lại, tận tụy với đồng bào, cũng có công góp phần khai phá. Người Việt mình hay tin nhau, hãy làm cho tin nhau, từ đó, điều gì cũng dễ.

Thu em, người ta nói rằng ở những năm tuổi bốn mươi, ta thường có những niềm vui mới. Không hiểu sao, anh vẫn tin vào điều ấy. Anh lại ước mơ nữa rồi. Thu sẽ đến với anh như một người yêu ban đầu, vào một ngày hai đứa mình ở vào lứa tuổi bốn mươi. Lần gặp nhau trong lần hẹn hò đó anh muốn nhìn thấy em lặng lẽ ngồi trước mặt anh, trong một buổi chiều Sài Gòn mưa tầm tã cuốn sạch bụi đường, nơi quán cà phê của hơn hai mươi năm xưa, nắm lấy tay anh mà khóc. Rồi đêm đến, anh lại đắp chăn cho em ngủ ấm trong tiếng mưa rơi đều đều trước hiên nhà.

Anh sẽ yêu em, như chưa bao giờ anh biết yêu...

                                                   *******

XUÂN AN

KẾT HỢP- HNVNTB

Sài Gòn, một ngày cuối thu, 1981

 

➖ ➖ ➖

 


Việt Điện U Linh Tập - Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) - Lý Tế Xuyên

 2026-10-10 Việt Điện U Linh Tập Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) ...