2023-12-23
Thiên
thần gẫy cánh
Gabriel
García Márquez
(Giải
Nobel Văn học 1982)
Dịch giả: Trịnh Tường
Dịch từ bản tiếng Anh: “A Very Old Man with
Enormous Wings” do Gregory Rabassa dịch từ nguyên bản tiếng
Tây Ban Nha “Un señor muy viejo con unas alas enormes” (1968)
Nhân
dịp lễ Giáng sinh năm 2023, Tiểu thuyết chiều thứ Bảy trân trọng gửi lời
chúc Giáng sinh An lành / Joyeux Noël đến tất cả các thành viên
BelUnion cùng gia đình, người thân và bạn hữu gần xa.
http://san.bizinfo.vn/pic/public_picture/22_.png
Truyện ngắn “Thiên thần gẫy cánh”,
dịch từ bản tiếng Anh “A Very Old Man with Enormous Wings”.
---
Khi
mưa đến ngày thứ ba, cua bò vào nhà nhiều đến nỗi Pelayo giết cũng không xuể nữa.
Chàng phải lội qua khoảng sân trước nhà để ném chúng ra biển. Vì vợ chồng
Pelayo mới sanh thằng con và họ nghi rằng chính vì mùi cua mà thằng bé bị sốt nặng
cả đêm. Từ thứ Ba, thế giới buồn thảm đạm. Biển cũng như trời xám như tro, và bờ
biển thường sáng long lanh trong những đêm tháng Ba, bây giờ nhầy nhụa những
bùn và mùi cá chết. Dù giữa trưa, ánh sáng mặt trời cũng yếu ớt đến nỗi khi
Pelayo sau khi ném lũ cua ra biển trở vào nhà cũng không nhận ra một đống thù
lù đang cựa quậy và rên rỉ ở sân sau. Chàng phải tiến lại thật gần mới nhận ra
đó là một lão già lụ khụ đang nằm úp mặt xuống vũng bùn, và dù có cựa quậy thế
nào đi nữa cũng không trở dậy nổi vì lão ta có một đôi cánh khổng lồ.
Kinh
hoàng như gặp cơn ác mộng, Pelayo chạy vào gọi vợ, Elisenda, lúc đó đang đắp
khăn ướt lên trán thằng nhỏ, ra xem. Hai vợ chồng đứng đờ ra nhìn hình thù quái
lạ đang cựa quậy. Lão già trông như một người đi lượm rác. Đầu hói bóng, chỉ
còn lưa thưa vài sợi tóc bạc, và vài chiếc răng lung lay còn sót lại. Trong
tình trạng thảm hại này, nếu lão ta có được vẻ uy nghi nào thì cũng không còn nữa.
Đôi cánh rộng như cánh chim ưng bẩn thỉu, cụp xuống, bị dính cứng vào đống bùn.
Cả hai vợ chồng đứng sững nhìn lão ta thật lâu và khi đã bình tĩnh trở lại, họ
thấy ở lão ta một vẻ quen thuộc. Cả hai cùng cất tiếng hỏi, nhưng lão đáp lại bằng
một thứ tiếng lạ, với giọng ồm ồm như những tay thủy thủ. Vợ chồng Pelayo cũng
bớt sợ, và cho rằng đây chỉ là một tay đi biển nào đó bị đắm tầu trôi dạt vào
đây. Tuy vậy, họ cũng gọi bà hàng xóm thông thái của họ sang xem. Bà ta chỉ cần
liếc qua là biết ngay họ đoán lầm.
“Thiên
thần đấy,” bà ta bảo họ với giọng quan trọng. “Chắc ổng được phái xuống để chữa
cho thằng nhỏ, nhưng chắc già yếu quá nên bị trận mưa làm cho rớt xuống đây
luôn.”
Ngày
hôm sau, cả làng đều biết là có một thiên thần bằng xương bằng thịt đang bị nhốt
trong nhà Pelayo. Dù bà hàng xóm cho biết là ngày nay thiên thần là những kẻ phạm
tội trên thiên đình trốn đi, họ cũng không nhẫn tâm đập chết lão già. Cả buổi
chiều hôm đó, chàng còn cẩn thận kéo lão ra khỏi đống bùn, và nhốt vào chuồng
gà. Cho đến nửa đêm, khi mưa dứt và cả hai vợ chồng Pelayo vẫn còn đang bận giết
những con cua chạy lung tung trong nhà, bỗng thằng nhỏ tỉnh dậy, khoẻ khoắn như
không, lại còn đòi ăn nữa. Hai vợ chồng bỗng thấy “lòng từ bi bất ngờ”, và quyết
định cho lão ta lên một chiếc bè với lương thực đủ cho ba ngày và thả lão ta ra
đương đầu với biển cả. Nhưng khi sáng dậy, cả làng đã kéo đến bu quanh chuồng
gà, vừa ngắm nghía vừa chọc ghẹo ông già không nể nang gì cả. Họ ném đồ ăn cho
ông lão qua mắt lưới chuồng gà như đối với một con thú trong gánh xiếc, chứ
không phải đối với một sinh vật siêu nhiên.
Linh
mục Gonzaga đến trước bảy giờ sáng, vì ông cũng nghe được những tin đồn vệ sự
việc lạ lùng vừa xảy ra. Vào lúc đó những kẻ hiếu kỳ lúc sớm đã bỏ đi hết, những
người mới đến sau xúm lại bàn tán chỉ trỏ lung tung, người thì cho rằng lão nên
được bầu làm chủ tịch của cả thế giới. Những người khác cho rằng ông ta phải
làm một ông tướng năm sao để có thể thắng được mọi trận chiến. Vài kẻ mộng mơ lại
nghĩ rằng nên cho ông già này vào lò ngựa giống để có thể tạo ra một giống người
thông minh, có cánh để chinh phục thế giới. Nhưng cha Gonzaga, trước khi thành
một linh mục, hành nghề thợ rừng cho nên rất thực tế, ông phải ngẫm nghĩ xem
nên dụng văn hay dụng võ. Song le, vì “cha là linh mục” cho nên khi đứng bên
chuồng gà ông duyệt lại bộ giáo luật và bảo đám người bu xung quanh mở chuồng
cho ông “vào trận”. Ông nhìn lão già đáng thương đang nằm như một con gà khổng
lồ bịnh hoạn giữa đám gà con ngơ ngác. Lão ta nằm trong góc chuồng phơi đôi
cánh giữa đống vỏ trái cây và thức ăn sáng còn dư do những người đến từ sáng sớm
ném vào. Lạc lõng với thế giới loài người, lão chỉ mở đôi mắt xanh ngắt mầu nước
biển, và lẩm bẩm thứ tiếng lạ khi cha Gonzaga cất tiếng chào bằng tiếng
La-tinh. Ông cha xứ bỗng đâm nghi cái hình thù trước mặt vì lão ta không hiểu
được ngôn ngữ của Thượng Đế, và không biết cách chào vị chủ chăn chút nào hết.
Càng nhìn kỹ, ông càng thấy ông già không có chút gì “thiên thần” hết: mùi hôi
nồng nặc bốc lên vì nhiều ngày không tắm rửa, đôi cánh bị đầy bọ bám vào, và những
chiếc lông vũ bị gió thổi làm xơ xác cả. Sau khi nghiên cứu xong ông bước ra và
cảnh cáo đám dân hiếu kỳ không được tưởng tượng ra những điều quái lạ. Ông cũng
nhắc cho họ nhớ là quỉ sứ thường mượn các trò như đoàn xiếc để lừa bịp dân khờ.
Ông
lý luận rằng nếu đôi cánh không phải là yếu tố chính để phân biệt một con chim
và một chiếc máy bay, thì cũng khó nhận ra được một thiên thần chỉ vì đôi cánh.
Song le, ông cũng hứa sẽ viết thư cho Cha Bề Trên để Đức Cha sẽ chuyển lên dần
cho đến Đức Giáo Hoàng để xem ngài phán như thế nào.
Sự
cẩn thận của cha xứ cũng chỉ vô ích cũng như phúc âm gieo vào những kẻ cứng
lòng. Tin một thiên thần bị bắt truyền đi mau lẹ, và chỉ trong vài giờ, sân trước
nhà Pelayo đã biến thành một cái chợ ồn ào, huyên náo đến nỗi người ta phải gửi
lính mang lưỡi lê đến giữ trật tự khi đám đông tràn vào như muốn xô sập căn
nhà. Elisenda, sau khi phải còng lưng quét dọn rác, nảy ra sáng kiến làm hàng
rào quanh nhà, và bán vé vào cửa mỗi người 5 xu để xem thiên thần.
Những
kẻ hiếu kỳ từ mọi nơi xa đều đến xem. Lúc đó có một đoàn xiếc từ xa đến, có màn
trình diễn đu bay nhưng chẳng ai thèm xem cả vì cánh bay của họ không phải là
cánh thật. Những kẻ tàn tật, bất hạnh đến xin thuốc chữa bệnh: một người đàn bà
nghèo bị bịnh cứ đếm nhịp tim của mình từ lúc mới sinh ra và đã đếm hết cả số rồi;
một người Bồ Đào Nha bị mất ngủ vì âm thanh của những vì sao quá ồn ào; một kẻ
mộng du cứ đêm đêm thức dậy phá hết những gì ban ngày hắn làm được; và còn nhiều
những kẻ khác bị bịnh nhẹ hơn. Đoàn người hành hương hỗn độn, ồn ào khiến cho
trái đất rung động, nhưng Pelayo và Elisenda vừa mệt vừa vui, vì chỉ trong vòng
chưa đến một tuần họ đã chất tiền vô đầy nhà, trong khi đoàn hành hương vẫn còn
dài dằng dặc cho đến mãi chân trời.
Trong
lúc thiên hạ chộn rộn, bận bịu mua vé vào xem thiên thần như xem diễn viên đóng
trò thì thiên thần vẫn mặc kệ. Ông dùng hết thì giờ cố làm sao cho được thoải
mái trong “cõi tạm” chuồng gà nóng như quỉ vì những ngọn đèn dầu, và những ngọn
nến thánh đặt dọc theo cửa chuồng. Lúc đầu họ thử cho lão ăn những cục long
não, vì theo bà hàng xóm thông-thái, long não là thức ăn chính của thiên thần.
Nhưng lão không chịu ăn, cũng như không ăn những thức ăn dành cho các bậc tu
hành do những kẻ đang ăn năn tội lỗi mang tới. Và họ cũng không thể hiểu nổi
không biết vì lão là thiên thần, hay chỉ là một ông già mà cuối cùng lão cũng
chỉ ăn những nụ cà pháo. Lão dường như chỉ có một đức hạnh siêu nhiên ấy là sự
kiên nhẫn chịu đựng, nhất là trong những ngày đầu khi những con gà mái mổ vào
đôi cánh to sù của lão để tìm những con bọ chét bám đầy trong đó, và khi những
kẻ tật nguyền kéo những chiếc lông cánh để thoa vào chỗ tật nguyền của họ; ngay
cả khi có những tên độc ác ném đá vào mình lão cố làm cho lão đứng dậy để xem
hình thù thế nào. Chỉ có một lần họ thành công khi dí một thanh sắt nung nóng,
vì lão cứ nằm bất động trong hàng giờ khiến họ nghi rằng lão đã chết. Nhưng lão
choàng tỉnh dậy, gừ lên những tiếng lạ, và đôi mắt thì đẫm lệ, rồi vỗ vỗ đôi
cánh khiến cho một cơn trốt đầy phân gà, và bụi kèm theo một cơn gió kinh hoàng
dường như chưa có trên quả đất bao giờ làm cho họ kinh hoàng. Mặc dù nhiều người
cho rằng phản ứng này của lão chỉ vì đau chứ không phải vì giận, họ cũng cẩn thận
không dám chọc lão nữa, vì đa số hiểu rằng sự thụ động này không phải của một vị
anh hùng sa cơ mà là của ngọn núi lửa đang bị đè nén.
Cha
Gonzaga phải dùng chiêu chiều chuộng đám đông như một một người tớ gái để ngăn
đám đông đừng làm thêm những hành động bất kính, cho đến khi nhận được phán quyết
cuối cùng của Giáo Hoàng về số phận của “lão thiên thần”. Nhưng thư từ La-Mã
không có gì lộ vẻ khẩn trương cả. Họ nhẩn nha tìm hiểu xem lão có lỗ rốn hay
không, ngôn ngữ của lão có dính dáng đến tiếng Aramic, hay chỉ là một người
Na-Uy có cánh. Những lá thư này có lẽ sẽ tiếp tục cho đến khi tận thế nếu không
có một biến cố khác xảy ra cất đi cái bệnh nhức đầu ông cha xứ mắc phải từ khi
thiên thần mắc đọa.
Trong
suốt thời gian đó, ngoài các gánh hát đến rồi đi, có một cuộc trình diễn của một
người đàn bà bị biến thành một con nhền nhện vì không vâng lời cha mẹ. Vé vào cửa
cũng bằng vé vào xem thiên-thần-mắc-đọa, nhưng người ta được hỏi bà này và được
sờ mó từ đầu đến chân để chứng thực là bà ta bị biến hình thật sự. Bà ta là một
con nhện đầu người, to bằng một con cừu đực. Nhưng điều làm cho người ta não
lòng nhất không phải vì hình dáng của bà ta mà vì sự đau khổ thành khẩn khi bà
ta kể lại chi tiết về nỗi bất hạnh bà phải chịu. Khi còn là một cô bé, cô ta đã
trốn nhà đi “nhót”. Khi về nhà, sau khi đã nhảy suốt đêm mà không xin phép cha
mẹ, cô đi qua một cánh rừng, bỗng một tiếng sấm nổ vang xé bầu trời ra làm hai,
và cô bị sét đánh hóa thành một con nhện. Thức ăn của bà ta bây giờ là những
viên thịt mà những kẻ hảo tâm quăng vào miệng. Một cảnh tượng như thế, đầy chất
“người”, và mang một bài học đáng sợ đến thế gần gũi với loài người hơn, và dĩ
nhiên, “show” thiên thần không ăn khách nữa. Thêm vào đó, một vài phép lạ xảy
ra từ “lão thiên thần” cho thấy lão tâm trí không được bình thường. Một kẻ mù
không sáng mắt được mà mọc ra ba cái răng mới, hoặc kẻ què không đi được lại
trúng số, và người cùi không hết bịnh mà những vết loét lại trổ những bông hoa
hướng dương. Những phép lạ này làm cho lão thần tiên mất hết tiếng tăm khi bà
nhện xuất hiện. Khi đó cha Gonzaga mới thực sự hết mất ngủ, và gia đình Pelayo
mới trở lại bình thường, vắng vẻ như trong ba ngày mưa dầm với lũ cua bò lúc
nhúc trong nhà.
Tuy
vậy, chủ nhà cũng chẳng có gì tiếc nuối. Họ đã có đủ tiền để cất một căn nhà
hai tầng có ban-công, có vườn, có hàng rào cao ngăn không cho lũ cua lọt vào
nhà trong mùa đông, và cửa sổ có song sắt để ngăn không cho ông lão chui vào.
Pelayo xây một trại nuôi thỏ gần phố, và bỏ nghề làm phú-lít vĩnh viễn.
Elisenda cũng sắm sửa giầy cao gót, áo sa-teng, quần lụa lèo để mặc trong những
ngày chủ nhật như những người đàn bà khác thời bấy giờ. Chuồng gà là nơi duy nhất
không được tu bổ gì hết. Nếu họ có quét dọn bằng dầu thơm, hay xông trầm đều đều,
không phải vì họ kính nể gì ông già mà vì phân dính đầy tứ tung, mùi hôi thối
không thể tả cứ ám vào căn nhà mới sẽ làm cho nó cũ đi. Nhưng dần dần họ hết sợ,
và dần dần quen với mùi khó chịu đó. Trước khi thằng nhỏ mọc chiếc răng thứ
hai, nó lẫm chẫm đi vào chuồng gà để chơi, vì các song chắn đã xiêu vẹo, rụng
rơi cả rồi. Lão thiên thần cũng chả tỏ vẻ gì thân mật với nó hơn đối với những
sinh vật khác, nhưng lão chấp nhận sự nghịch ngợm vô tư của thằng nhỏ với sự
kiên nhẫn của một con chó không có một ảo tưởng nào cả. Cả hai đều bị bệnh đậu
gà cùng một lúc. Vị bác sĩ chữa cho thằng nhỏ không ngăn được tính tò mò cố
nghe tim thiên thần xem nó đập như thế nào, nhưng ông ta chỉ nghe được những tiếng
kêu rù rù trong quả tim, và hàng chục thứ tiếng khác nhau trong trái thận, khiến
ông không thể tin là lão có thể sống được. Điều làm cho vị bác sĩ ngạc nhiên nhất
là đôi cánh. Nó dính vào xác thịt lão già một cách tự nhiên đến nỗi ông ta tự hỏi
tại sao những người khác không thể có được.
Khi
thằng nhỏ đến tuổi đi học, thời gian và mưa nắng làm cho chuồng gà sụp đổ. Lão
ta đi lê thê trong vườn từ nơi này sang nơi nọ như một bóng ma trơi. Thường sau
khi dùng chổi quét lão ta từ trong buồng ngủ ra, lại thấy lão ở trỏng rồi. Dường
như lão có thể có mặt tại nhiều nơi trong cùng một lúc đến nỗi họ tin rằng lão
có phép phân thân làm Elisenda khó chịu như phải sống trong một địa ngục đầy những
thiên thần. Hầu như lão không ăn uống gì cả, và đôi mắt mầu xanh nước biển lúc
nào cũng như phủ một lớp sương mờ làm cho lão ta hết va đầu vào cột này lại đâm
đầu vào cột khác. Quần áo lão đã rách nát hết, chỉ còn trơ trọi những sợi lông
khiến cho Pelayo phải cho lão một tấm mền và động lòng trắc ẩn cho lão ngủ
trong nhà kho, và chỉ khi đó họ mới biết lão bị sốt về đêm, và cứ lầu bầu thứ
tiếng khó nghe như của một lão già người Na Uy. Có đôi lần họ tưởng rằng lão “đi
đứt rồi”. Ngay cả bà hàng xóm thông-thái cũng không biết phải làm sao với một
cái xác thiên thần.
Nhưng
không những lão “qua hết một mùa đông” mà còn khoẻ ra trong những ngày nắng ấm.
Lão vẫn nằm bất động trong vài ngày ở tận một góc vườn nơi ít người để ý. Khi
tháng Chạp bắt đầu, một vài chiếc lông vũ mọc trở lại trên đôi cánh, những sợi
lông cứng như lông quạ lại càng làm tăng thêm nỗi thảm hại trên một thân hình
tiều tụy. Nhưng lão hẳn biết nguyên do của những sự thay đổi này, vì lão rất cẩn
thận không để ai chú ý tới, cũng như bài hát về biển lão thường ngân nga dưới
những vì sao. Một buổi sáng kia, khi Elisenda đang thái những củ hành cho bữa
ăn trưa, thì một cơn gió dường như từ biển thổi vào trong bếp. Nàng chạy ra cửa
sổ và bắt gặp lão đang vỗ cánh tập bay, nhưng rất vụng về vì khi té xuống móng
tay lão cào thành những luống dài trên những liếp rau, đôi lần suýt nữa làm sụp
luôn nhà kho vì đôi cánh chưa đủ sức cản gió. Nhưng sau một lúc lão bay lên được.
Nàng thở ra một hơi nhẹ nhõm cho chính nàng, và cho cả lão nữa khi nàng thấy
lão từ từ bay bay khuất khỏi những căn nhà cuối cùng với đôi cánh đập như cánh
chim ưng. Nàng tiếp tục nhìn theo cho đến khi không còn nhìn thấy nữa, bởi vì
lão không còn là một nỗi khó chịu trong đời nàng, mà chỉ như một chấm tưởng tượng
ở cuối chân trời.
➖➖➖
Phần tiếng Anh
---
A
Very Old Man with Enormous Wings
Translated from the Spanish by Gregory Rabassa.
On
the third day of rain they had killed so many crabs inside the house that
Pelayo had to cross his drenched courtyard and throw them into the sea, because
the newborn child had a temperature all night and they thought it was due to
the stench. The world had been sad since Tuesday. Sea and sky were a single
ash-gray thing and the sands of the beach, which on March nights glimmered like
powdered light, had become a stew of mud and rotten shellfish. The light was so
weak at noon that when Pelayo was coming back to the house after throwing away
the crabs, it was hard for him to see what it was that was moving and groaning
in the rear of the courtyard. He had to go very close to see that it was an old
man, a very old man, lying face down in the mud, who, in spite of his
tremendous efforts, couldn’t get up, impeded by his enormous wings.
Frightened
by that nightmare, Pelayo ran to get Elisenda, his wife, who was putting
compresses on the sick child, and he took her to the rear of the courtyard.
They both looked at the fallen body with a mute stupor. He was dressed like a
ragpicker. There were only a few faded hairs left on his bald skull and very
few teeth in his mouth, and his pitiful condition of a drenched
great-grandfather took away any sense of grandeur he might have had. His huge
buzzard wings, dirty and half-plucked, were forever entangled in the mud. They
looked at him so long and so closely that Pelayo and Elisenda very soon
overcame their surprise and in the end found him familiar. Then they dared
speak to him, and he answered in an incomprehensible dialect with a strong
sailor’s voice. That was how they skipped over the inconvenience of the wings
and quite intelligently concluded that he was a lonely castaway from some
foreign ship wrecked by the storm. And yet, they called in a neighbor woman who
knew everything about life and death to see him, and all she needed was one
look to show them their mistake.
“He’s
an angel,” she told them. “He must have been coming for the child, but the poor
fellow is so old that the rain knocked him down.”
On
the following day everyone knew that a flesh-and-blood angel was held captive
in Pelayo’s house. Against the judgment of the wise neighbor woman, for whom
angels in those times were the fugitive survivors of a celestial conspiracy,
they did not have the heart to club him to death. Pelayo watched over him all
afternoon from the kitchen, armed with his bailiff’s club, and before going to
bed he dragged him out of the mud and locked him up with the hens in the wire
chicken coop. In the middle of the night, when the rain stopped, Pelayo and
Elisenda were still killing crabs. A short time afterward the child woke up
without a fever and with a desire to eat. Then they felt magnanimous and
decided to put the angel on a raft with fresh water and provisions for three
days and leave him to his fate on the high seas. But when they went out into
the courtyard with the first light of dawn, they found the whole neighborhood
in front of the chicken coop having fun with the angel, without the slightest
reverence, tossing him things to eat through the openings in the wire as if he
weren’t a supernatural creature but a circus animal.
Father
Gonzaga arrived before seven o’clock, alarmed at the strange news. By that time
onlookers less frivolous than those at dawn had already arrived and they were
making all kinds of conjectures concerning the captive’s future. The simplest
among them thought that he should be named mayor of the world. Others of
sterner mind felt that he should be promoted to the rank of five-star general
in order to win all wars. Some visionaries hoped that he could be put to stud
in order to implant the earth a race of winged wise men who could take charge
of the universe. But Father Gonzaga, before becoming a priest, had been a
robust woodcutter. Standing by the wire, he reviewed his catechism in an
instant and asked them to open the door so that he could take a close look at
that pitiful man who looked more like a huge decrepit hen among the fascinated
chickens. He was lying in the corner drying his open wings in the sunlight
among the fruit peels and breakfast leftovers that the early risers had thrown
him. Alien to the impertinences of the world, he only lifted his antiquarian
eyes and murmured something in his dialect when Father Gonzaga went into the
chicken coop and said good morning to him in Latin. The parish priest had his
first suspicion of an imposter when he saw that he did not understand the
language of God or know how to greet His ministers. Then he noticed that seen
close up he was much too human: he had an unbearable smell of the outdoors, the
back side of his wings was strewn with parasites and his main feathers had been
mistreated by terrestrial winds, and nothing about him measured up to the proud
dignity of angels. Then he came out of the chicken coop and in a brief sermon
warned the curious against the risks of being ingenuous. He reminded them that
the devil had the bad habit of making use of carnival tricks in order to
confuse the unwary. He argued that if wings were not the essential element in
determining the different between a hawk and an airplane, they were even less
so in the recognition of angels. Nevertheless, he promised to write a letter to
his bishop so that the latter would write his primate so that the latter would
write to the Supreme Pontiff in order to get the final verdict from the highest
courts.
His
prudence fell on sterile hearts. The news of the captive angel spread with such
rapidity that after a few hours the courtyard had the bustle of a marketplace
and they had to call in troops with fixed bayonets to disperse the mob that was
about to knock the house down. Elisenda, her spine all twisted from sweeping up
so much marketplace trash, then got the idea of fencing in the yard and
charging five cents admission to see the angel.
The
curious came from far away. A traveling carnival arrived with a flying acrobat
who buzzed over the crowd several times, but no one paid any attention to him
because his wings were not those of an angel but, rather, those of a sidereal bat.
The most unfortunate invalids on earth came in search of health: a poor woman
who since childhood has been counting her heartbeats and had run out of
numbers; a Portuguese man who couldn’t sleep because the noise of the stars
disturbed him; a sleepwalker who got up at night to undo the things he had done
while awake; and many others with less serious ailments. In the midst of that
shipwreck disorder that made the earth tremble, Pelayo and Elisenda were happy
with fatigue, for in less than a week they had crammed their rooms with money
and the line of pilgrims waiting their turn to enter still reached beyond the
horizon.
The
angel was the only one who took no part in his own act. He spent his time
trying to get comfortable in his borrowed nest, befuddled by the hellish heat
of the oil lamps and sacramental candles that had been placed along the wire.
At first they tried to make him eat some mothballs, which, according to the
wisdom of the wise neighbor woman, were the food prescribed for angels. But he
turned them down, just as he turned down the papal lunches that the pentinents
brought him, and they never found out whether it was because he was an angel or
because he was an old man that in the end ate nothing but eggplant mush. His
only supernatural virtue seemed to be patience. Especially during the first
days, when the hens pecked at him, searching for the stellar parasites that
proliferated in his wings, and the cripples pulled out feathers to touch their
defective parts with, and even the most merciful threw stones at him, trying to
get him to rise so they could see him standing. The only time they succeeded in
arousing him was when they burned his side with an iron for branding steers,
for he had been motionless for so many hours that they thought he was dead. He
awoke with a start, ranting in his hermetic language and with tears in his
eyes, and he flapped his wings a couple of times, which brought on a whirlwind
of chicken dung and lunar dust and a gale of panic that did not seem to be of
this world. Although many thought that his reaction had not been one of rage
but of pain, from then on they were careful not to annoy him, because the
majority understood that his passivity was not that of a hero taking his ease
but that of a cataclysm in repose.
Father
Gonzaga held back the crowd’s frivolity with formulas of maidservant
inspiration while awaiting the arrival of a final judgment on the nature of the
captive. But the mail from Rome showed no sense of urgency. They spent their
time finding out if the prisoner had a navel, if his dialect had any connection
with Aramaic, how many times he could fit on the head of a pin, or whether he
wasn’t just a Norwegian with wings. Those meager letters might have come and
gone until the end of time if a providential event had not put and end to the
priest’s tribulations.
It
so happened that during those days, among so many other carnival attractions,
there arrived in the town the traveling show of the woman who had been changed
into a spider for having disobeyed her parents. The admission to see her was
not only less than the admission to see the angel, but people were permitted to
ask her all manner of questions about her absurd state and to examine her up
and down so that no one would ever doubt the truth of her horror. She was a
frightful tarantula the size of a ram and with the head of a sad maiden. What
was most heartrending, however, was not her outlandish shape but the sincere
affliction with which she recounted the details of her misfortune. While still
practically a child she had sneaked out of her parents’ house to go to a dance,
and while she was coming back through the woods after having danced all night
without permission, a fearful thunderclap rent the sky in two and through the
crack came the lightning bolt of brimstone that changed her into a spider. Her
only nourishment came from the meatballs that charitable souls chose to toss
into her mouth. A spectacle like that, full of so much human truth and with
such a fearful lesson, was bound to defeat without even trying that of a
haughty angel who scarcely deigned to look at mortals. Besides, the few
miracles attributed to the angel showed a certain mental disorder, like the
blind man who didn’t recover his sight but grew three new teeth, or the
paralytic who didn’t get to walk but almost won the lottery, and the leper
whose sores sprouted sunflowers. Those consolation miracles, which were more
like mocking fun, had already ruined the angel’s reputation when the woman who
had been changed into a spider finally crushed him completely. That was how
Father Gonzaga was cured forever of his insomnia and Pelayo’s courtyard went
back to being as empty as during the time it had rained for three days and
crabs walked through the bedrooms.
The
owners of the house had no reason to lament. With the money they saved they
built a two-story mansion with balconies and gardens and high netting so that
crabs wouldn’t get in during the winter, and with iron bars on the windows so
that angels wouldn’t get in. Pelayo also set up a rabbit warren close to town
and gave up his job as a bailiff for good, and Elisenda bought some satin pumps
with high heels and many dresses of iridescent silk, the kind worn on Sunday by
the most desirable women in those times. The chicken coop was the only thing
that didn’t receive any attention. If they washed it down with creolin and
burned tears of myrrh inside it every so often, it was not in homage to the
angel but to drive away the dungheap stench that still hung everywhere like a
ghost and was turning the new house into an old one. At first, when the child
learned to walk, they were careful that he not get too close to the chicken
coop. But then they began to lose their fears and got used to the smell, and
before they child got his second teeth he’d gone inside the chicken coop to
play, where the wires were falling apart. The angel was no less standoffish
with him than with the other mortals, but he tolerated the most ingenious
infamies with the patience of a dog who had no illusions. They both came down
with the chicken pox at the same time. The doctor who took care of the child
couldn’t resist the temptation to listen to the angel’s heart, and he found so
much whistling in the heart and so many sounds in his kidneys that it seemed
impossible for him to be alive. What surprised him most, however, was the logic
of his wings. They seemed so natural on that completely human organism that he
couldn’t understand why other men didn’t have them too.
When
the child began school it had been some time since the sun and rain had caused
the collapse of the chicken coop. The angel went dragging himself about here
and there like a stray dying man. They would drive him out of the bedroom with
a broom and a moment later find him in the kitchen. He seemed to be in so many
places at the same time that they grew to think that he’d be duplicated, that
he was reproducing himself all through the house, and the exasperated and
unhinged Elisenda shouted that it was awful living in that hell full of angels.
He could scarcely eat and his antiquarian eyes had also become so foggy that he
went about bumping into posts. All he had left were the bare cannulae of his
last feathers. Pelayo threw a blanket over him and extended him the charity of
letting him sleep in the shed, and only then did they notice that he had a
temperature at night, and was delirious with the tongue twisters of an old
Norwegian. That was one of the few times they became alarmed, for they thought
he was going to die and not even the wise neighbor woman had been able to tell
them what to do with dead angels.
And
yet he not only survived his worst winter, but seemed improved with the first
sunny days. He remained motionless for several days in the farthest corner of
the courtyard, where no one would see him, and at the beginning of December
some large, stiff feathers began to grow on his wings, the feathers of a
scarecrow, which looked more like another misfortune of decreptitude. But he
must have known the reason for those changes, for he was quite careful that no
one should notice them, that no one should hear the sea chanteys that he
sometimes sang under the stars. One morning Elisenda was cutting some bunches
of onions for lunch when a wind that seemed to come from the high seas blew
into the kitchen. Then she went to the window and caught the angel in his first
attempts at flight. They were so clumsy that his fingernails opened a furrow in
the vegetable patch and he was on the point of knocking the shed down with the
ungainly flapping that slipped on the light and couldn’t get a grip on the air.
But he did manage to gain altitude. Elisenda let out a sigh of relief, for
herself and for him, when she watched him pass over the last houses, holding
himself up in some way with the risky flapping of a senile vulture. She kept
watching him even when she was through cutting the onions and she kept on
watching until it was no longer possible for her to see him, because then he
was no longer an annoyance in her life but an imaginary dot on the horizon of
the sea.
➖➖➖