2020-03-14

Dẫu lìa ngó ý … - Xuân An

2020-03-14

Dẫu lìa ngó ý …

Xuân An


Trời lạnh thấu tới từng lóng xương mà chiếc xe tram quái ác chờ hoài không thấy tới. Ngó ra sau lưng thấy vợ đang đứng co ro, thiểu não, bác Năm muốn cởi cái khăn quàng cổ quàng thêm cho vợ nhưng ngường ngượng thế nào lại thôi. Già rồi chớ còn trai trẻ gì nữa đâu. Bác chợt nhớ lại ba mươi mấy năm về trước, khi lính lê dương kéo về định chiếm lại làng quê, có anh con trai cày theo bạn bè đi đốn tầm vông về vạt nhọn, chiều chiều tạt về nhà ăn cơm mắm muối với người vợ trẻ siêng năng lo chuyện đồng áng, xong lại ra sân đình tập võ dưới ánh trăng khuya; đâu đây vang lên tiếng hát của đám trẻ nhỏ "Mùa thu rồi ngày hăm ba...".

- Xe đến rồi cà ông.

Giọng nói quen thuộc còn pha đậm chất quê mùa của bác gái đưa bác Năm trở về với thực tại. Lên xe, bác nhắc vợ vịn tay cho chắc, thấy coi bộ được rồi mới loay hoay móc bóp lấy tiền. Bác đưa tờ giấy hai chục lẻ trong số tiền mới lãnh ở CPAS hồi sáng, cho người lái xe và chờ lấy vé. Nhưng quái, sao ông ta nói gì như là muốn đòi thêm? Bác vừa ra dấu vừa xổ mớ tiếng Tây ít ỏi bảo "đủ rồi mà!". Lời qua tiếng lại một hồi trong sự nóng ruột của mấy người đang đứng chờ bác mới rõ là tiền xe mới vừa tăng hôm qua.

Khoảng đường từ Barrière Saint Gilles tới Bascule, bác chỉ ngồi có một chút. Ngồi thì đỡ mỏi chưn, ngặt phiền một nỗi là phải ngó mấy bà đầm ngồi trước mặt, không biết làm sao mà tránh. Chớ như bên nhà là bác đã bắt chuyện cho đỡ buồn và đỡ ngượng nghịu. Hoặc là bác có được tờ báo để nhìn vào đó. Nhưng báo thì bác có đọc được đâu mà mua cho uổng. Không đến nỗi đọc ngược như người dốt nhưng dòm vô tờ "Le Soir" bác có hiểu chữ nào đâu. Thôi đành đứng và làm bộ ngắm cảnh bên đường. Và nhớ. Người có tuổi như bác hay nhớ chuyện xưa. Hồi đó, khi giặc chiếm làng rồi, anh con trai dắt vợ lên khu kháng chiến. Khổ nỗi người vợ không chịu nổi rừng sâu nước độc, đau yếu luôn. Đến khi vợ có thai, anh xin với đoàn thể đưa vợ về tỉnh lị gởi nhờ người bà con rồi quay lại. Chiếc xe đò đưa hai người đến một bến đò ngang. Sang mấy chuyến đò ngang, một con dò dọc, rồi quá giang ghe cát hai ba ngày mới tới. Nhưng anh đã không trở lại rừng sâu, vì anh không đủ can đảm xa vợ xa con. Đừng nghĩ là anh theo giặc. Không, anh ghét chúng và ghét luôn cả những tay quan ba béo bở, hống hách.

Lúc đầu anh đi làm mướn ở chợ. Được cái có sức vóc và chí thú làm ăn. Vợ anh cũng khéo thu vén dành dụm nên đến khi ông chánh, ông cò Tây cuốn gói về xứ, hai người đã tạo được một cơ ngơi nho nhỏ: tiệm may "Tân Hòa" chuyên may y phục Âu Á hợp thời trang...

Đẩy mạnh vào cánh cửa kêu sè sè đâu trong ổ khóa, vừa bước vào bác đã thấy vợ chồng Ban đang đứng đợi.

- Mời hai bác ngồi. Đưa cháu cất măng tô cho. Dạ, hai bác uống trà nhé. Cháu có trà Tàu ngon lắm. Michèle, veux-tu faire du thé?  Trời lạnh quá hả hai bác.

- Cám ơn cậu.

- Dạ, hai bác qua được bao lâu rồi?

- Đâu được bốn tháng rồi cậu...

Bác Năm ngập ngừng một lúc rồi xổ luôn một tràng:

- Chẳng nói giấu gì cậu, tại mấy đứa con tôi năn nỉ dữ quá hai vợ chồng tôi mới xách gói ra đi. Qua đây, bà nhà tôi buồn nên muốn đi làm kiếm thêm chút đỉnh cho qua ngày đoạn tháng.

Rồi như tủi thân, bác Năm bỗng ngưng bặt, tai nóng bừng, cặp mắt hấp háy nhìn xuống chiếc gạt tàn thuốc bằng pha lê trên bàn. Bác Năm nghe giận mình rồi giận lây qua mấy đứa con! Mình thì cứ đòi đi, còn tụi nhỏ có đứa nào cản đâu. Không ai chịu nghe lời má nó.

Mấy đứa con của bác! Thằng Tân lớn lên ở chợ lúc bác còn nghèo hèn nên học hành chẳng tới đâu. Cái năm nó bị động viên, oái oăm thay cũng là năm bác làm ăn phát tài. Chẳng là thời đó quân Mỹ kéo vô đông, tiệm may bác phải mướn thêm nhân công làm đêm làm ngày mà vẫn không kịp. Giàu rồi cũng dễ làm sang, bác quen lớn, tiệc tùng thường xuyên với những người có máu mặt trong tỉnh. Thằng Tân nhờ vậy cũng ấm thân. Mặc cho bác gái túi bụi công việc, bác la cà ở các quán rượu bỡn cợt với mấy cô chiêu đãi; bác bắt nhân tình với cô này, cô khác.

- Ôi, những ngày tấm thân nhàn nhã, bên cạnh đó, bác gái ngày càng gày xọp đi. Bác tậu nhà, sắm xe. Những đứa con sau của bác bây giờ là những chàng trai, những cô gái thanh lịch, ăn học tới cỡ tú tài cả. Cái xó quê, nơi chôn nhau cắt rún của bác thì bom đạn tàn hoang, mồ mả cha ông một tay bác gái mỗi năm về sửa sang, cúng quảy. Trái với bác, bác gái không có gì thay đổi ngoài quần áo bên ngoài. Tấm lòng chơn chất, nhịn chồng, thương con, dễ khóc khi coi cải lương thấy những cảnh đời ngang trái. Bác yêu thương, ghét, giận, những việc, những người đúng hơn chồng. Mấy đứa con lần lượt đi du học, bác lo gởi tiền, gởi quà thay cho những lá thơ mà bác không viết được. Những đứa con mà cho đến bây giờ cũng còn lỡ cỡ, chưa nên danh phận gì!

Tiếng Ban chợt cắt ngang dòng suy nghĩ của bác.

- Cháu có nghe bác Sang nói nên cháu mới mời hai bác tới chơi và bàn luôn chuyện đó. Nếu được, nhờ bác gái giúp vợ chồng cháu giữ giùm con nhỏ con cháu và dọn dẹp lặt vặt trong nhà. Còn cơm trưa thì bác cứ tự tiện nấu ăn, đồ cháu mua sẵn để trong tủ lạnh. Sáng cỡ tám giờ bác tới, chiều chừng năm giờ vợ cháu về tới, bác sẽ về.

Lời Ban khẩn khoản, tử tế mà sao bác Năm nghe như kim đâm trong lòng. Bác liếc nhìn qua bác gái, thấy nét mặt đăm chiêu của vợ, vội quay đi. Tóc bác gái đã điểm bạc rồi, đâu còn trẻ trung như cái năm Bính Tuất hai người dắt díu nhau về thành tìm việc. Ở cái tuổi của hai vợ chồng bác, sao hai người không kiếm một miếng vườn, nghỉ ngơi chờ ngày theo ông, theo bà lại sang đây làm chi? Làm chi? Hai tiếng ấy xoáy vào lòng bác Năm, như cơn gió chướng làm nhức mỏi toàn thân.

 Hồi giải phóng, kể cuộc đời hai bác cũng gặp khá nhiều gieo neo. Hàng họ ế ẩm lần cho đến khi chẳng còn mấy ai may mặc, hai bác đóng cửa tiệm về sống ở nhà riêng. Mấy cái xe cũng ít dùng vì xăng quá mức, bác lần lượt bán đi, chỉ còn chiếc La Dalat xốc xếch. Hồi kiểm kê, bác cũng phải nộp hết một phần lớn vải vóc chưa kịp đem đi giấu. Rồi hai lần đổi tiền, may mà bác khéo xoay nên cũng không đến nổi. Đỡ nhứt là đồ nữ trang, vàng bạc vẫn còn nguyên vẹn. Ngày ngày, bác lê la qua nhà mấy người bạn cà kê bàn bạc những tin đồn, và chờ đợi một cái gì bác cũng không biết rõ. Bác gái thì muốn dọn về quê. Nhà quê về dưới buồn chịu gì nổi. Bác chỉ còn một con đường là hối mấy đứa con làm giấy tờ cho hai vợ chồng bác qua Bỉ. Bác gái dù không muốn đi, nhưng đã quen chìu chồng nên lại thu vén, để lại một phần tài sản cho vợ chồng Tân rồi cùng ra đi, định bụng qua bên đó làm ăn, gầy dựng lại. Nhưng qua bên Bỉ, làm ăn đâu có dễ như bà tưởng. Mấy đứa nhỏ cũng phải lam lũ mới đủ sống. Cực chẳng đã, bác phải tìm cách đi làm. Chồng bác thì ở không quát tháo quen rồi, trăm sự lại đổ vào bác. Bác lượng thấy công việc Ban giao cũng dễ. Không chờ chồng, bác buột miệng hỏi:

- Như qua ưng làm, em tính trả cho qua bao nhiêu?

- Dạ, bác giúp dùm, tụi cháu xin gởi bác mỗi tháng sáu ngàn quan.

Không hiểu sao bữa sáng hôm đó, lúc bác gái sửa soạn đi làm bác Năm chỉ muốn giữ vợ ở lại nhà. Vậy là bác gái đã đi làm được hơn tháng rồi. Tiếng là phải tới nhà Ban lúc tám giờ, chớ bác gái đã phải thức dậy từ sáu giờ rưỡi sáng, nấu cho bác bình trà, bắc nồi canh, còn nồi thịt thì đã kho từ tối hôm qua, xong lật đật lo ra đi cho kịp xe tram. Phải đi hai chuyến xe mới tới. Xe đông, người ta chen lấn làm bác gái mệt đừ.

Còn phần bác Năm, hồi vợ mới đi làm, ở nhà một mình buồn, ráng đi chơi với mấy người bạn bác mới quen. Được ít lâu cũng ngan ngán. Mới đầu cũng chửi bới chính phủ, lần lần tới chuyện khoe của, khoe sang. Bác Năm không có gì để khoe thành thử nghe riết cũng ngán, thấy mình thua sút anh em. Vả lại người ta cũng có chuyện này chuyện khác chớ ai rảnh đâu mà tiếp bác hoài. Vậy là ngồi thu lu một mình trong căn phòng vắng vẻ, bác nghĩ hoài tới vợ. Từ hồi bỏ khu về thành tới giờ lúc nào hai vợ chồng cũng có nhau, thường thì bác gái đợi bác về chớ có đâu cái cảnh bác ngồi đợi vợ. Mấy cái chuyện tàu coi đi coi lại hoài, có bữa cầm lên ngó vài trang bác lại bỏ xuống, dòm đồng hồ. Bữa nào kẹt xe, bác gái về trễ, bác đi ra đi vô, sợ có chuyện gì xảy ra bác biết làm sao.

Và chuyện đó đã xảy tới.

Từ hồi sáu giờ chiều tới lúc bác gái thiểu não bước vào phòng, bác Năm hết ngồi lại đứng. Chờ riết không được, bác vô nhà bếp hâm lại nồi thịt. Bên ngoài trời đã trở lạnh. Cái lạnh khắc nghiệt như khứa vào trong da thịt chứ đâu phải cái se lạnh bên nhà những ngày cuối năm. Bác chặc lưỡi, chà sắp đến Tết rồi. Cái Tết đầu tiên của bác ở xứ Bỉ.

Thấy trán vợ u một cục to tướng, bác Năm thấy hai đầu gối mình khụy xuống. Chẳng là trời lạnh, xe lại đông, để khỏi trễ chuyến tram thứ hai bác gái lật đật xuống xe cho lẹ. Bị lấn, bác gái bước xuống xe bị té rồi ngất luôn. Mấy người đi đường phải đỡ bác vào ngồi trong một cái quán cà phê cạnh đó. Lúc bác Năm vịn vợ ngồi xuống giường, bác gái nhìn chồng, nói nhỏ "sao tôi khổ quá ông ơi!"

***

Bác Năm trằn trọc hoài. Một phần tại cái lò sưởi gaz làm khô khốc căn phòng. Một phần tại bác suy nghĩ lung lắm. Cái quá khứ sáu tháng qua là một chuỗi ngày hiu quạnh khôn cùng. Còn đâu những buổi sáng ra đầu phố ngồi khề khà bên tô phở thơm phức, kháo chuyện với những ông bạn già của bác. Còn đâu những tiếng ồn ào quen thuộc trên đường, những màu sắc tươi vui của giàn hoa trước ngõ? Cuộc sống ở quê nhà tuy khó khăn vẫn có cái tươi vui của nó hơn hẳn cái thiên đường tự do, trù mật và cô đơn này! Cái ông trưởng khóm đôi khi mát mẻ với bác, vẫn tôn trọng bác và biết làm lành cho được lòng bà con cô bác. So với những người hiện ở chung nhà, sao mà nhạt phèo như điếu thuốc vấn bằng lá đu đủ khô!

Quê hương bác cứ lên tiếng gọi, cứ ám ảnh và chấp chới như chùm trái ngọc trong vườn Tây Vương mẫu. Ở đó, cứ bước ra khỏi nhà đi dạo khan cũng đủ vui rồi. Ở đó, lại có những buổi tối đi xem hát, xem cải lương, truyền hình.  Ôi bao mối tơ vương trong tấm lòng già cỗi của bác như cái ngó sen hái lìa khỏi cọng. So sánh thiệt hơn giữa hai cảnh ngộ, bác thấy mình cũng nghĩ quá lố về cách mạng. Nghĩ cho cùng, bác thì đã tội tình gì đâu ngoài cái "tội" bóc lột nhân công mà chẳng ai nhắc nhở, dù bác có lúc cũng nơm nớp lo. Thằng Tân đi lính cũng chỉ là lính kiểng nên chỉ phải đi học tập có ba ngày, bây giờ thì làm công nhân, ở cái nhà khá lớn bác để lại, con cái đi học vui vẻ. Bác cũng đâu có phải là Kinh Kha tráng sĩ mà một đi không trở lại?

Như vừa thấy được lối ra, bác lay vợ tỉnh giấc:

- Má nó ơi, tôi nghĩ ra rồi, má nó chịu cực đi làm dành dụm ít tiền đi, vài năm nữa yên yên, có chút đỉnh xin về. Tôi cũng sẽ kiếm chuyện gì đó làm phụ với má nó.

Bác gái nghe chồng bàn chuyện trở về với mình cũng vui vui. Nhưng con đường về bắt đầu ở chỗ nào? Phải qua bao nhiêu khó khăn? Đó là những điều bác mù tịt.

- Má nó đừng lo, tôi sống với mấy ổng bốn năm tôi hiểu bụng mấy ổng. Chắc lần hồi rồi mấy ổng cũng cho về. Má nó cứ tin tui đi, số hai vợ chồng mình sẽ có quới nhơn giúp đỡ như ông thầy Cây Lơn nói trước khi mình qua đây đó mà.

Không hiểu chồng sẽ làm cách nào, bác gái vẫn nghe nhẹ nhõm trong lòng. Bác ngủ thiếp đi, và trong mơ, bác thấy mình xách giỏ đi chợ, lựa rau, lựa cá cho buổi cơm trưa của bầy cháu nội dễ thương của bác.

BRUXELLES 1-1980

XUÂN AN

 

➖ ➖ ➖

 

2020-03-07

Thế là mợ nó đi Tây - Nguyễn Công Hoan

2020-03-07 

Thế là mợ nó đi Tây

Nguyễn Công Hoan


📧

A bord du Chantilly, le 10 Décembre 1927

Cậu,

Trời ơi, thực là tôi để lụy đến cậu! Nếu biết trước rằng cảnh ly biệt nó xé tan nát gan ruột tôi như thế này, thà cứ chịu ở nhà dạy học, đỡ cậu mỗi tháng ba bốn chục bạc lương, thì được gần gụi gia đình, sớm tối vui thú với cậu, với con, việc gì đòi xuất dương du học đến nỗi bây giờ vất vả một mình, thân gái dặm trường, khóc thầm với bóng!

Từ lúc con tàu chạy xa, nhìn vào bờ chỗ cậu đứng bế con, chỉ còn thấy cái mùi soa bay phất phới mà thôi, thì tôi bồi hồi tấc dạ, giọt lệ khôn cầm, tâm sự ấy bút nào tả xiết! Chỉ tiếc ngày thường không chịu nghiên cứu văn chương An Nam để lúc ấy tôi làm một bài thơ kỷ niệm sự biệt ly!

Vào đến buồng, nằm lả trên giường, tôi không buồn dậy nữa. Đã toan lấy bút ghi chép mấy câu vào quyển sổ tay, nhưng thảm quá, nước mắt đã tràn trụa thổn thức, không nghĩ ra câu nào mà viết! Cậu ơi! Cậu có làm thế nào cho tôi đỡ nhớ không?

Nhưng nay biết làm thế nào bây giờ? Con tàu ác nghiệt nó cứ mỗi lúc một làm cho mình xa nơi xứ sở thân thích, rồi nó lại che kín bằng bức màn sương. Nghĩ lại lúc mới cạo răng, mặc bộ quần áo đầm, lúc mới bước chân xuống tàu, trong bụng hăm hở thế nào, thì bây giờ nhớ đến cái tình vợ chồng, cái tình mẹ con, tối tối được sum họp cùng nhau dưới ngọn đèn, thì ruột tôi lại cũng đau như cắt thế!

Nhưng đã trót đi thì cứ dấn, tôi không nản chí đâu, cậu ạ! Ở Hà Nội, thi chín khoa đã trượt cả, thì sang Tây phen này, ba năm ắt giật được mảnh bằng tú tài. Cậu sẽ chẳng xấu hổ mất tiền cho vợ du học đến nỗi tay trắng về không. Tôi buồn thực. Nhưng buồn bao nhiêu, tôi nhớ cậu bấy nhiêu. Tôi nhớ cậu bao nhiêu, tôi lại càng không dám phụ công cậu nuôi cho ăn học.

Thằng chó con, trông ảnh nó, tôi nhớ nó quá! Nó có hỏi tôi luôn không? Nó có biết rằng mợ nó đi Tây không? Mấy hôm nay nó có hay quấy không?

Cậu nhớ cho nó chủng đậu đi nhé. Mẹ tôi ở nhà có buồn không? Nếu cậu thương nhớ tôi, thì nhờ cậu thay tôi, thỉnh thoảng đi lại khuyên giải mẹ tôi cho khuây khỏa. Viết đến đây, nghĩ đến mẹ già, tôi lại tủi. Chằng may nhà nghèo, đến nỗi bao nhiêu phí tổn đi Tây học, tôi để phần cậu chịu cả! Tôi thương cậu quá. Thực là một người chịu khó nhọc một mình để kiếm lương nuôi vợ đi du học như cậu, ít có lắm.

Nhưng cậu cũng nên thương tôi mà đừng chơi bời gì cả. Lúc nào cậu cũng nên nghĩ đến tôi, thui thủi quê người, vì thương cậu mà đêm ngày cố công đèn sách. Tôi nói thế, chứ chắc chả đời nào cậu lại phụ lòng yêu của tôi nhỉ! Quái sao hôm nay tôi thấy lao đao thế này, hay là say sóng rồi đây?

À quên, cái hộp phấn của tôi dùng dở để ở bàn, cậu cho mang lại đằng chị Diệp hộ, vì chị ấy xin mà tôi quên đi mất.

Xin chúc cậu và con mạnh khỏe luôn.

Tạ

TUYẾT ANH

📧

A bord du Chantilly, le 1er Janvier 1928

Cậu,

Những thư trước tôi gởi về, chắc cậu tiếp được cả rồi. Lá thư thứ nhất và thứ ba, có lẽ cậu xem lấy làm buồn lắm thì phải. Sự đó tôi cũng biết là lỗi, đáng lẽ người đi phải yên ủi kẻ ở bằng những câu vui vẻ, chứ tôi lại kể nỗi lòng thương nhớ chồng con, cho cậu phải phiền, thật bây giờ tôi lấy làm hối hận quá.

Gần tới Marseille rồi, cậu ạ. Từ khi con tàu qua kênh Suez, vào địa phận bể Méditerranée 2 tới nay, tôi thấy phấn chấn trong lòng lắm. Trời Tây bảng lảng bóng vàng, cái không khí êm đềm, nhẹ nhõm, làm cho tôi được thấy như khỏe mạnh hơn. Nhất là từ khi tôi được quen mấy bà người Pháp cùng đi một chuyến, thì những lúc nhớ nhà, nói chuyện cũng được khuây buồn. Cho nên tôi càng khuây buồn bao nhiêu, tôi càng nhớ đến cậu bấy nhiêu. Chỉ thương cho cậu lúc này, có lẽ đang nằm thừ trên giường mà nghĩ đến vợ, lênh đênh giữa bể không biết có bình yên mạnh khỏe không. Nhưng cậu nên yên tâm nhé. Vợ cậu buờn thì vợ cậu được thở than với bạn, được viết thư nói chuyện với cậu, chứ những lúc cậu nhớ vợ cậu, thì cậu than thở cùng ai? Cậu chỉ ngậm mối sầu trong bụng mà không viết được ra thư, vì thư của cậu dù có gởi ngay, tôi cũng chưa tiếp được! Sự đau lòng mà không tỏ ra được mới thật là nên thương!

Quái, tôi lại nói chuyện buồn rồi! Thế nào? Hôm lễ Noël vừa rồi cậu có mua cho con thức gì cho nó chơi hay không? Hôm nay cậu có đi chào Tết hay không? Chào những ai? Ở dưới tàu, sáng ngày hành khách cũng tụ họp để chúc nhau, vui đáo để. Mẹ tôi vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? Cậu đã khỏi thực đau mắt chưa? Hỏi thế khí lẩm cẩm, ngót một tháng rồi, còn gì mà chả khỏi nhỉ!

Thôi, hôm nào tới Marseille, tôi sẽ đánh dây thép báo cho cậu biết.

Vợ yêu cậu,

TUYẾT ANH

📧

Aix-en-Provence, le 7 Janvier 1928

Cậu,

Ban nãy tới Marseille, tôi đã đánh dây thép về cho cậu biết rồi. Chắc cậu đã tiếp được hơn một tháng nay, mà biết đâu, trong khi cái thư này vưọt biển về Hải Phòng, nó không gặp cái thư của cậu gửi cho tôi sang Pháp. Thế mà chúng nó không bắt tay nhau, tệ nhỉ!

Tôi tới Aix mới được độ hơn một giờ đồng hồ! Tuy trong người vẫn còn lao đao như khi ở dưới tàu, nhưng không thể nào ngồi yên mà không thảo vài câu để nói chuyện với cậu biết được.

Ông bà Madron ra tận Marseille đón, cậu ạ. Ông bà ấy vẫn vui vẻ như xưa, duy ông ấy thì trông khác trước, vì bây giờ cạo trụi cả râu đi rồi. Ông bà ấy nhận ra tôi, chứ giá để kệ, có lẽ tôi không biết ông ấy nữa. Bà ấy có hơi già hơn trước và nói rằng từ ngày về Pháp, thì sự làm ăn có khi vất vả hơn ở Hà Nội ta. Thằng Robert nó còn nhớ tôi! Bây giờ nó lớn lắm, bằng con người ta lên mười ấy! Ông bà Madron được mấy chai nước mắm của tôi biếu thì mừng rơn, nói rằng từ ngày về Tây, chỉ nhớ nhất là thứ đồ ăn đặc biệt ấy. Ông bà ấy quý lắm, đem cất kỹ vào trong tủ.

À quên, từ Marseille đến Aix, chỉ có 29 km thôi, chứ có phải 39 km đâu mà trước cậu cứ cãi mãi. Tôi đi xe điện chứ không đi xe lửa, chỉ độ ngót một giờ thì tới. Hai bên đường phong cảnh đẹp lắm, nhưng vì tôi mệt, nên chưa quan sát kỹ, để một thư sau, tôi sẽ tả rõ.

Mai tôi nhờ ông Madron giới thiệu hộ với giáo sư Bourguignon. Ông Madron bảo rằng sức tôi thì chỉ học tư ông Bourguignon độ đến tháng Octobre này thì có thể thi vào lớp 1ère 3 ở Lycée Mignet được.

Kính chúc cậu và thằng chó mạnh khỏe.

Je t'embrasse.

TUYẾT ANH

📧

Aix, le 12 Janvier 1928

Cậu,

Từ nay cậu viết thư cho tôi, thì cứ đề về No 2 phố Eméric David là nhà tôi thuê.

Tôi sở dĩ phải thuê nhà là vì ở đằng ông bà Madron chật quá, không có chỗ tĩnh để học, mà chính bà Madron lại giữ ý, không muốn để tôi ở đằng ấy. Nhưng thế là tiện lắm. Nhà thuê mất 200F một tháng. Rẻ đấy, vì chủ nhà là người bà con với ông Madron. Chỗ ở xinh lắm, lại được gần nhà hội quán của tụi học sinh An Nam, số nhà 25. Từ nhà tôi đến nhà ông Bourguignon cũng gần. Ông Bourguignon ở đầu phố, giáp ngay Cours Mirabeau; mỗi khi tới đây thấy xe điện chạy về phía Marseille thì tôi lại nhớ nhà lắm. Nhất là ở trước cửa nhà trọ, có một cái cây sao mà nó giống cái cây trước cửa nhà ta thế! Cũng có cái cành cụt trước cậu vẫn bảo như cái nắm tay giơ ra để ục nhau ấy mà!

À, gớm chiều hôm nay, ở Café Leydet gần phố tôi ở có một chuyện xảy ra ghê cả người. Có hai người học sinh ta họ cãi nhau về nghĩa lý văn bài thế nào, thành ra to tiếng. May có anh em vào can mới yên. Học sinh An Nam ta cứ chiều tối là hay ngồi đó. Học sinh người mình ở Aix có độ ngót trăm. Nhiều người học hành xuất sắc lắm, nhưng lắm bố con nhà giàu thì chỉ chơi bời mà thôi! Có ít người cũng ở phố David, vì gần hội quán, lại gần Lycée Mignet đi độ 5, 6 phút thì tới.

Tối mai, bà Madron rủ tôi đi xem cinéma, cách chỗ tôi ở một quãng, tôi đã nhận lời.

Tôi xin thề rằng sẽ hết sức học hành để khỏi phụ lòng cậu trông cậy, xin cậu yên tâm. Ông Bourguignon giỏi khoa văn chương lắm, nghe ông giảng như nước chảy, mê cả tâm thần!

Chắc vài hôm nữa, tôi sẽ tiếp thư cậu. Ở nhà có việc gì lạ, xin cậu đừng giấu tôi.

Tạ

TUYẾT ANH

📧

Aix, le 12 Février 1928

Cậu,

Đọc thư cậu, nước mắt tôi tràn trụa đầy cả ra giấy. Trời ơi! Biết thế này, thì tôi chẳng đi Tây cho nó đành!

Thôi cậu ạ, cậu có thương tôi, thì cậu nên nghe tôi, cậu đừng đi làm thêm giờ nữa. Vẫn biết mỗi tối làm thêm vài giờ chẳng là bao, cuối tháng cũng được ba bốn chục bạc phụ cấp; nhưng cậu cứ cặm cụi quá sức thế, thì đến kiệt lực mà ho lao mất! Cậu có khỏe gì bằng ai, tôi tưởng chả nên tham việc quá thế. Thì ra chỉ tại tôi mà đến nỗi một mình cậu vất vả, cậu làm cho tôi thương cậu đến nỗi ốm mất!

Cậu ơi! Cậu nên tĩnh dưỡng, nên coi sức khỏe làm trọng mới được. Lương cậu hiện đã 140$00 mỗi tháng, chỉ phải gửi cho tôi có 80$00, còn ăn tiêu ở nhà cũng tiệm đủ rồi, thì thôi, tôi xin cậu, đừng nên quá tham, lỡ có mang bệnh lại để tôi ân hận suốt đời, vì con vi trùng ho lao nó có nể người tốt bụng đâu?

Nếu cậu không nghe tôi, thà rằng cậu cho tôi xuất tàu để tôi về còn hơn.

Nhân tiện xin nói để cậu biết, cậu nghĩ vậy mà khuyên tôi như thế cũng là phải. Nhưng tuy tôi là thân gái một mình ở nước tự do, song, xin cậu biết rằng ở đây tự do thật, nhưng là cái tự do có giáo dục, chứ không như ở bên ta đâu. Vả lại bao giờ đi ra ngoại quốc cũng phải giữ sĩ diện cho nòi giống chứ. Tôi nói quá như thế để cậu yên tâm, chứ nào cậu có ngờ gì tôi đâu. Xin cậu biết cho rằng không phút nào là tôi không nhớ cậu, nhớ con, là hai người thân nhất của đời tôi. Trừ những khi mắt để vào quyển sách, thì lúc nào tôi cũng nhìn lên ảnh cậu và ảnh con để ngay trước bàn mà ngắm cho khỏi nhớ.

Ở đây, tháng Février này rét lắm. Sáng hôm nay có mưa tuyết. Chiều đến, ở Cours Mirabeau, trẻ con nắm tuyết ném nhau trông thật vui mắt.

Mưa tuyết xong, tiếp luôn mấy trận gió mistral thổi rét thấu xương. Đường phố lội nhơm nhớp, bẩn quá. À, tôi đã nói chuyện cho cậu nghe cái lối đỗ ô-tô ở phố chưa nhỉ? Mới trông lạ mắt, buồn cười lắm. Nó không đỗ theo dọc đường, sát hè phố, như bên ta đâu. Xe nào cũng đứng ngang đường, quay mũi ra ngoài. Bây giờ trông quen, không thấy lạ nữa, mấy hôm đầu, đi sát vào mũi, tưởng hình như nó sắp xéo bẹp mình! Cậu đã nhận được áo đan chưa, sao không thấy nói trong thư? Cậu viết cho tôi đi, dài vào nhé! Nhớ cậu quá!

TUYẾT ANH

📧

Aix, le 3 Mai 1928

Cậu,

Khốn nạn thân tôi, sao cái tin đau đớn của tôi, cậu không báo cho tôi biết bằng dây thép. Đành rằng mẹ tôi chết, dù có biết sớm cũng không làm gì được, nhưng sao cậu ác nghiệt quá thế, trời ơi!

Cậu ơi! Tôi bất hiếu quá, mà ông Trời kia sao khéo lừa dối tôi làm vậy, bắt tôi đi xa rồi đem mẹ tôi đi đâu?

Ông bà Madron thấy tôi có tin buồn, sang khuyên giải và tiêm cho tôi liều thuốc bổ. Bây giờ tôi không mê man như lúc mới tiếp tin nữa. Khốn nạn, dù tôi có than khóc hết hơi cũng không sao thấu được đến cửu tuyền, để yên ủi linh hồn mẹ. Sao tôi chẳng được chết đi cho rồi!

Nhưng đến trường hợp này, tôi mới rõ bụng cậu. Thực là ít thấy có. Mà nhà tôi cũng là đại phúc nên trời kia xui khiến tôi được hầu hạ cậu. Mẹ tôi chẳng may chết đi, có tôi là lớn lại đi vắng, nhưng được cậu ở nhà, lấy tình rể cũng như con mà cáng đáng lo lắng cho các việc ma chay, cái ơn trời bể ấy, tôi biết lấy gì đền lại. Tôi chỉ khấn cho cậu sẽ được trông thấy tôi công thành danh toại, một mai về nước, đem tiếng thơm đi đền ơn trả nghĩa cậu mà thôi. Nếu kiếp luân hồi mà có thực, thì tôi xin cả kiếp sau cũng tìm được cậu để được trả nghĩa cho trọn cái ơn này.

Cậu ơi, tôi nói không sao xiết ý được. Mà nhất là trong khi tôi gặp cảnh đau đớn này, thì tôi chỉ biết than thở, khóc lóc mà thôi. Còn thằng em bé tôi đấy, tôi cũng xin cậu trông nom cho nó được nên người, để tôi yên tâm học tập. Xin cậu vì thương tôi mà thương đến nó, chứ bây giờ tứ cố vô thân, nếu cậu không đoái hoài đến nó, thì thật là không còn bấu bíu vào đâu được nữa. Khốn nạn cho tôi, ở vào cái cảnh nghèo! Tôi nghẹn lời, không sao viết được thêm nữa.

À, thư trước viết bằng tiếng Tây là ý để cậu biết sức học của tôi bây giờ thế nào, chứ có dám nghĩ như thế đâu, cậu miễn trách cho. Cậu đừng chơi bời gì nhé, nên thương đến tôi.

Vợ khốn nạn của cậu.

TUYẾT ANH trăm lạy

📧

Aix, le 29 Juillet 1928

Cậu,

Thế nào? Sao cậu không mời docteur cho con, uống thuốc ta tôi tưởng chả ăn thua gì đâu. Nhưng nó cũng mệt xoàng thôi đấy chứ? Đầu tháng này, có kết quả kỳ thi tú tài, tôi trông thấy người đỗ, mà lại lo, chẳng biết sang năm, số phận mình ra sao.

Nhưng mà xem ra tôi học tấn tới lắm cậu ạ. Cậu cứ yên tâm mà làm ăn. Cái bát họ của chị Tham, cậu nhận như thế cũng phải, thà mua sớm mà trả nợ, còn hơn là để nó dây dưa, rồi đến hẹn phải lo một món to. Cậu cứ chịu khó ăn sẻn để dành, nay mai phúc nhà còn vượng, tôi đỗ về, thì lúc bấy giờ ta làm giầu!

Nghĩ đến tương lai thì phấn chấn trong lòng, mà nghĩ lại riêng mình cậu khó nhọc, thì tôi lại đau từng khúc ruột. Vì tôi mà cậu mang công mắc nợ, một mình lo lắng năm canh! Nào cho tôi đi học, nào lo lắng ma chay cho mẹ vợ, nào nuôi cho em vợ đã đỗ được nên người.

Độ này cậu phải đi làm thêm như thế có mệt lắm không? Cậu nên mua thuốc bổ mà uống; nếu không thì lại đằng ông lang Hai mà mua lấy mấy lạng cao ban long để ăn; cậu chứ nên coi thường sức khỏe làm vậy.

Năm nay ở bên này nắng lắm, cái nắng khô khan ở miền Nam này, lắm lúc tôi cũng thấy khó chịu, nhưng vẫn được mạnh khỏe.

Tôi gởi theo đây gói đồ chơi của con, nó mừng rỡ thế nào, cậu cho tôi biết. Cái ảnh cậu mới gởi sang, sao tôi trông gầy thế? Mà mũi con có cái vết gì đau, hay là vết sờn trong ảnh, cậu cho tôi biết.

Tôi khỏi ốm ngay tối hôm tôi viết thư về cậu. Nếu biết rằng cậu lo, thì tôi chẳng nói cho xong.

Mille baisers.

TUYẾT ANH

📧

Aix, le 15 Août 1930

Cậu,

Thật là từ ngày tôi sang bên này tới nay, tôi tiếp thư nào ở nhà cũng lấy làm buồn bực ân hận.

Ai ngờ vừa tháng trước đánh dây thép báo tin đỗ cho cậu biết, thì nay đã tiếp được tin cậu như sét đánh ngang tai.

Thế nào, cậu ho ra làm sao mà có máu thế? Tôi nói có sai bao giờ đâu. Cậu chả nghe tôi, cậu chả bổ dưỡng sức khỏe, để đến nỗi mang bệnh vào mình. Nếu cậu ho lao, thì cái vô phúc, trăm phần tôi xin chịu cả? Thà rằng tôi chết cho cậu được sung sướng, còn hơn tôi để cậu phải cáng đáng một mình hết nỗi nọ đến nỗi kia.

Cái ảnh phổi cậu chụp xong cũng cho tôi xem với. Nếu thầy thuốc chiếu điện mà đã nói thế, thì tôi tưởng chỉ nên nghỉ việc đi là hơn.

Nhưng làm thế nào? Cậu trồng cây sắp tới ngày ăn quả. Đến sang năm, tôi thi nốt phần thứ hai kỳ tú tài rồi, vậy cậu nghĩ cho tôi thế nào, tôi cũng xin vâng theo.

Ở bên này, ông Madron mấy hôm nay cũng ốm, đến nay bệnh vẫn chưa thấy lui.

Thì ra xung quanh mình, tôi chỉ thấy những sự buồn, mà không đủ sức để can ngăn nó được. Tôi khổ lắm.

Bệnh tình cậu hiện nay thế nào, từ nay xin cứ mỗi kỳ tàu, cậu nhớ cho tôi biết. Con thế nào? Vẫn chơi ngoan đấy chứ? Chuyện gì bí mật mà tôi hỏi trong ba bức thư luôn, cậu chưa trả lời thế? Đừng chơi bời gì nhé!

Nay kính thư,

TUYẾT ANH

📧

Aix, le 4 Septembre 1931

Thưa cậu,

Tôi bất đắc dĩ cầm bút viết bức thư này để tạ tội cùng cậu, xin cậu tha thứ cho người vợ bạc bẽo phản bội này.

Tôi chịu ơn cậu rất nhiều, cũng mong đến nay công thành danh toại, về để hầu hạ cậu, giúp đỡ cậu trong lúc ốm đau. Nhưng mà... tóc tơ ngắn ngủi có ngần ấy thôi, cậu cũng cầm lòng như tôi hư mà cậu bỏ tôi từ trước, hoặc duyên đôi ta, giữa đường đứt quãng, thì từ nay xin cậu coi tôi như không có nữa mà thôi.

Sự vợ chồng ông Trời đã định sẵn, có lẽ duyên nợ của cậu với tôi, đã hết từ ba năm trước lúc đưa nhau ở bến tàu Sáu Kho.

Cậu cũng đừng nghĩ, đừng tìm tôi nữa, tôi sẽ ở Nam Kỳ với một người bạn học tôi mới đậu Y khoa bác sĩ.

Nay vĩnh quyết,

TUYẾT ANH

18 Mai 1932

 

➖ ➖ ➖

 


Việt Điện U Linh Tập - Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) - Lý Tế Xuyên

 2026-10-10 Việt Điện U Linh Tập Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) ...