2023-12-16
Cái
chết bất biến tình yêu cũng không làm gì được
Gabriel
García Márquez
(Giải
Nobel Văn học 1982)
Dịch giả: Hoàng Ngọc Nguyên
Dịch từ bản tiếng Anh: “Death Constant Beyond Love”
do Gregory Rabassa dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha “Muerte
constante más allá del amor” (1970)
Truyện ngắn “Cái chết bất biến tình yêu cũng không
làm gì được”,
dịch từ bản tiếng Anh “Death Constant Beyond Love” [1].
---
Khi
gặp được người đàn bà của đời mình, Nghị sĩ Onésimo Sanchez còn cách cái chết
chỉ sáu tháng mười một ngày. Ông gặp cô gái tại Rosal del Virrey (Vườn Hồng), một
làng quê huyễn hoặc vô chừng, ban đêm là một bến cảng cho tàu của dân buôn lậu
trộm cắp, nhưng ban ngày nó giống như một cái vịnh vô dụng nhất trên sa mạc,
nhìn ra biển cả khô hạn, mênh mông vô chừng, quá xa rời mọi vật. Không ai tin rằng
ở đó lại có người nào có đủ sức thay đổi được cuộc đời của bất cứ ai. Ngay cái
tên của địa phương này cũng khôi hài, bởi vì cái hoa hồng duy nhất trong làng
này chính là bông hồng nằm ở túi áo Nghị sĩ Onésimo Sanchez vào buổi chiều ông
gặp Laura Farina.
Đó
là một trạm ghé chân bắt buộc trong cuộc vận động bầu cử cứ bốn năm một lần ông
phải đến. Đoàn xe diễn hành đã có mặt từ sáng sớm. Rồi đến những chuyến xe tải
chở những người da đỏ vào thành phố, họ được thuê đến cho đông vui náo nhiệt ở
những buổi lễ công cộng. Trước 11 giờ một tí, cùng với âm nhạc, pháo và các xe
jeep của đoàn tùy tùng, chiếc xe của quan chức, màu nưóc dâu tươi, đến. Nghị sĩ
Onésimo Sanchez ngồi thoải mái, không gió máy gì trong chiếc xe có máy lạnh;
nhưng ngay khi mở cửa xuống xe, ông run lên như bị lửa đốt người, chiếc áo lụa
xịn của ông ướt đẫm một chất lỏng nhợt nhạt và ông thấy mình già thêm nhiều tuổi
và cô đơn hơn bao giờ cả. Thực sự thì ông vừa qua 42 tuổi, đã tốt nghiệp kỹ sư
luyện kim trường Gottingen hạng danh dự, là một người đọc say mê, dù chẳng hiểu
gì mấy, những bản dịch tồi tệ của các tác phẩm La-tinh cổ điển. Ông lấy một phụ
nữ người Đức thông minh, cho ông năm người con, tất cả đều sống hạnh phúc dưới
mái ấm gia đình, trong đó ông là người hạnh phúc nhất cho đến khi người ta cho
ông biết, cách đây ba tháng, ông sẽ vĩnh viễn chết vào mùa giáng sinh năm tới.
Trong
khi chờ đợi người ta chuẩn bị cuộc tiếp xúc công chúng, ông nghị sĩ sắp xếp để
có một tiếng đồng hồ được ở một mình trong căn nhà người ta dành cho ông nghỉ
ngơi. Trước khi nằm nghỉ, ông đặt trong một ly nước uống một đóa hồng mà ông đã
giữ cho nó vẫn tươi khi đi ngang qua sa mạc, ăn trưa với ngũ cốc dinh dưỡng mà
ông đem theo để tránh phải ăn mãi phần thịt dê rán đang sẵn sàng chờ đợi ông từ
giờ đến tối, và ông dùng nhiều viên thuốc chống đau nhức sớm hơn giờ bác sĩ định
để ông có thể phòng trước khi cơn đau nhức đến. Rồi ông đặt cái quạt máy gần
cái võng và nằm ở trần trong mười lăm phút trong bóng của hoa hồng, cố gắng suy
nghĩ chuyện khác để khỏi bận tâm với cái chết trong khi ông chợp mắt. Ngoài mấy
ông bác sĩ, không ai biết là ông đã lãnh một bàn án tù có thời hạn, bởi vì ông
đã quyết định một mình chịu đựng sự bí mật này, vẫn sống bình thường như không
có chuyện gì xảy ra, không phải vì tự hào mà vì xấu hổ.
Ông
cảm thấy lại làm chủ được ý chí của mình khi một lần nữa xuất hiện trước công
chúng vào ba giờ chiều hôm đó, khỏe khoắn và sạch sẽ, mặc một quần sọc rộng và
một chiếc áo hoa lá cành, đầu óc êm ả nhờ những viên thuốc chống đau nhức. Tuy
nhiên, sự công phá của cái chết tai hại hơn ông tưởng, bởi vì khi bước lên bục,
ông có cảm giác lạ lùng xem thường những người đang chen nhau tìm cách bắt tay
ông, và ông cũng không còn cảm thấy ái ngại như ông vẫn thấy trước đây đối với
những nhóm người thổ dân đi chân đất đang phải chịu đựng khổ sở mặt đất cát muối
và nhựa trộn lẫn nóng muốn phỏng chân ở nơi công trường tiêu điều này. Ông
ngưng các tràng pháo tay bằng một cái vẫy tay, hầu như có sự giận dữ ở trong,
và ông bắt đầu nói mà không cử động gì, mắt nhìn xa xăm ra biển, cũng đang thở
dài vì nóng. Giọng của ông chừng mực, thấp, giống như một mặt nước yên lặng,
nhưng bài nói chuyện mà ông đã ghi trong đầu và nhai lui nhai tới nhiều lần đối
với ông không có ý nghĩa nói lên sự thực mà còn nghịch lại lời phán quyết chết
chóc của Marcus Aurelius trong cuốn thứ tư của bộ Meditations. [2]
Ông bắt đầu, dù không mảy may tin điều ông nói:
“Chúng
ta có mặt ở đây để khuất phục thiên nhiên. Chúng ta sẽ không còn là những đứa
con hoang trên đất nước của mình, không còn là cô nhi của Thượng đế trong vương
quốc của đói khát và khí hậu khắc nghiệt, không còn phải tự ép mình làm kẻ lưu
đày trên chính quê hương của chính mình. Chúng ta sẽ là những con người khác,
thưa quí bà, quí ông, chúng ta sẽ là những con người vĩ đại và hạnh phúc.”
Có
một bài bản sẵn trong đám xiếc đi theo ông. Khi ông nói, những người tùy tùng
tung hàng loạt chim giấy lên trời và những sinh vật giả tạo này bắt đầu bay lượn
khắp khán đài rồi trực chỉ ra biển. Cùng lúc, những người khác đưa ra vài cây
giả có lá có cành từ những chiếc xe tải của đoàn và cắm cây lên lớp đất muối
phía sau đám đông. Họ kết thúc bằng cách dựng một tấm phông lớn bằng gỗ cứng vẽ
những ngôi nhà gạch đỏ, cửa sổ có kính, che khuất những căn lều tồi tàn có thực
đằng sau.
Ông
nghị sĩ kéo dài bài nói chuyện của mình bằng hai câu ngạn ngữ la-tinh trong khi
chờ đợi người ta dựng xong tường. Ông hứa máy làm mưa, cung cấp thú giống cho
gia súc trong nhà, những loại dầu hạnh phúc sẽ làm cho rau cải mọc trên vùng đất
mặn và cho những chậu lai giống hoa tím treo ở cửa sổ. Khi ông thấy cái thế giới
tiểu thuyết của mình dã dựng xong, ông chỉ vào mặt họ và lớn giọng:
“Tương
lai của chúng ta sẽ như thế đó, thưa quí ông, quí bà. Hãy xem đi, tương lai của
chúng ta phải là như thế!”
Đám
đông quay lại. Một chiếc tàu biển bằng giấy sơn màu từ từ đi qua đằng sau những
ngôi nhà cũng bằng giấy, chiếc tàu này lớn hơn bất cứ tòa nhà lớn nào trong cái
thành phố giả định này. Chỉ có ông nghị sĩ nhận ra một điều, bởi vì người ta đã
dựng lên rồi tháo dở rồi đem nó đi từ nơi này qua nơi khác nhiều lần, nên cái
thành phố bằng giấy bồi này chịu biết bao thời tiết kinh khủng, nó trông cũng
tơi tả, nghèo nàn và bụi bặm không khác gì Rosal del Virrey.
Mười
hai năm nay, đây là lần đầu Nelson Farina không đi chào ông nghị sĩ. Ông ta
nghe bài nói chuyện từ chiếc võng của mình, giữa cơn ngủ trưa, dưới bóng cây
mát mẻ của một ngôi nhà gồm mấy tấm ván chắp vá mà ông ta đã dựng lên bằng đôi
tay của mình, đôi bàn tay của một dược sĩ mà ông đã từng dùng để vẽ và ấp ủ người
vợ đầu tiên của mình. Ông đã thoát khỏi Đảo Quỉ Sứ và xuất hiện ở Rosal del
Virrey trên một chiếc tàu đầy những con chim két, với một người đàn bà da đen
xinh đẹp và hạ lưu mà ông đã gặp ở Paramaribo và có một đứa con gái với bà này.
Sau đó chẳng bao lâu thì bà chết vì những nguyên nhân hợp tự nhiên và bà đã
không chịu số phận của người đàn bà kia — thân xác của người ấy đã thành phân
bón cho mấy luống rau cải — mà bà lại được chôn toàn thây và với cái tên Hà Lan
của bà trong nghĩa trang địa phương. Cô con gái đã thừa hưởng màu da của bà và
nét mặt cùng với đôi mắt vàng và ngơ ngác của cha cô, và ông có đủ lý do để
nghĩ rằng ông đang nuôi lớn khôn cô gái đẹp nhất trên trần gian.
Kể
từ khi gặp nghị sĩ Onésimo Sanchez trong cuôc vận động tranh cử đầu tiên của
ông này, Nelson Farina đã năn nỉ ông nghị sĩ giúp mình có một lý lịch giả đủ để
qua mặt luật pháp. Ông nghị sĩ, thân thiện nhưng cương quyết, đã từ chối.
Nelson Farima không hề bỏ cuộc, trong nhiều năm nay, khi nào có dịp, ông lại nhắc
lời yêu cầu của mình với cách năn nỉ khác. Nhưng lần này ông nằm yên trên võng,
chịu chết mục trong cái xó xỉnh nóng hầm của dân cướp biển. Khi nghe tràng vỗ
tay hoan hô lần cuối, ông ngóc đầu dậy, nhìn qua những tấm ván của hàng rào,
ông thấy mặt kia của tấn tuồng: những giàn gỗ chống khu nhà bằng giấy, cái giá
để cho cây kiểng khỏi ngã, những người bị che khuất đang đẩy chiếc tàu đi biển.
Ông nhổ một bãi nước miếng nhưng không thấy bực bội gì, miệng lẩm bẩm:
“Merde.
C’est le Blacamán de la politique.” [3]
Sau
bài diễn văn, theo thông lệ, ông nghị sĩ sẽ đi bộ qua các phố của thị trấn
trong tiếng nhạc, tiếng pháo nổ và ông sẽ bị dân chúng vây quanh, nhao nhao nói
cho ông nghe những thỉnh nguyện của mình. Ông nghị sĩ sẽ lắng nghe một cách vui
vẻ, ông luôn luôn có cách an ủi mọi người mà không phải làm điều gì ân sủng đặc
biệt cho bất cứ ai. Một người đàn bà đứng trên mái nhà với sáu đứa con nhỏ cố sức
nói lớn cho ông nghị sĩ có thể nghe giữa những tiếng ồn ào và pháo đốt ầm ĩ
chung quanh:
“Ông
nghị sĩ, tôi chẳng xin điều gì lớn lao lắm đâu. Chỉ cho tôi một con lừa kéo nước
từ Giếng Người Treo Cổ về đây!”
Ông
nghị sĩ để ý thấy sáu đứa bé gầy ốm. Ông mới hỏi:
“Thế
chồng chị đâu rồi?”
“Ông
ta đi kiếm vàng kiếm bạc ở đảo Aruba,” người đàn bà đáp giọng cười cợt, “nhưng
ông ta chỉ kiếm được một bà nước ngoài, loại đàn bà đặt hột xoàn trên răng.”
Câu
trả lời làm cho mọi người cười rộ lên. Ông nghị sĩ quyết định:
“Được
rồi. Tôi sẽ kiếm cho chị con lừa.”
Chẳng
mấy chốc, một người phụ tá của ông đưa đến nhà người đàn bà một con lừa đã thắng
yên cương để chở đồ, ngang hông của nó có một khẩu hiệu vận động bầu cử cho ông
nghị sĩ được viết bằng loại sơn không tẩy được để không ai có thể quên đó là một
món quà của ông nghị sĩ.
Dọc
theo quãng đường ngắn, ông làm thêm nhiều cử chỉ khác, ít quan trọng hơn, ông
còn đút một muỗng thuốc cho một người bệnh đang nằm trên giường được kéo ra đến
cửa ra vào nhà để người bệnh có thể thấy ông nghị sĩ đi ngang qua. Ở góc đường
cuối cùng đó, qua mấy tấm ván của hàng rào, ông thấy Nelson Farina nằm trên
võng, trông mệt mỏi và không vui, nhưng ông nghị sĩ vẫn lên tiếng chào, không
có một chút gì thiện cảm trong thái độ:
“Chào
ông. Ông mạnh giỏi chứ?”
Nelson
Farina ngồi xoay người lại trên võng, vẻ mặt buồn bã làm cho ông nghị sĩ ái ngại:
“Moi,
vous savez.” [4]
Con
gái của ông bước ra vườn khi nghe tiếng chào hỏi. Cô mặc một chiếc váy của người
da đỏ Guajiro đã bạc màu và rẻ tiền, trên đầu cô đỏm dáng vài cái nơ đủ màu, mặt
cô sơn như thể để chống nắng, nhưng ngay cả áo quần, mặt mũi như thế người ta
cũng có thể thấy chưa có ai trên đời này đẹp hơn cô. Ông nghị sĩ như đứng tim.
Ông lầm thầm trong miệng:
“Ta
chỉ có chết. Ông trời chắc đã phát khùng!”
Đêm
đó Nelson Farina cho con gái mặc thật đẹp và đưa cô ta đến gặp ông nghị sĩ. Hai
người bảo vệ có trang bị súng ống đứng trong cái nóng của căn nhà được mượn, gật
đầu, bảo cô gái chờ ở chiếc ghế duy nhất trong phòng ngoài.
Ông
nghị sĩ đang ở phòng kế bên gặp những người quan trọng của Rosal del Virrey.
Ông tập họp họ để nói cho họ nghe những sự thật mà ông không nói đến trong những
bài diễn văn của ông. Họ quá giống tất cả những người mà ông luôn luôn gặp tại
những thành phố trong sa mạc đến độ ngay cả ông nghị sĩ cũng thấy chán nản, mệt
mỏi với những phiên làm việc ban đêm liên tục này. Áo ông đẫm mồ hôi, ông cố gắng
làm khô người nhờ những luồng gió nóng từ chiếc quạt điện kêu vù vù như một con
ngựa trời trong hơi nhiệt nặng nề của phòng. Ông nói:
“Dĩ
nhiên, chúng ta không ăn những con chim giấy. Các ông và tôi đều rõ cái ngày có
cây, có hoa trên đống phân dê này, ngày mà ta có cá ngừ thay vì dòi bọ trong những
hố nước ven biển, ngày đó cả tôi và các ông sẽ chẳng còn ai trên đời này đâu.
Tôi nói thế, các ông rõ ý tôi chưa?”
Không
ai trả lời. Trong khi nói, ông nghị sĩ xé một tờ lịch và gấp một con bướm. Ông
phóng nó lên mà không thực sự nhắm bất cứ mục tiêu gì và con bướm dật dờ trong
luồng gió từ quạt trần và bay ra khỏi căn phòng để hở một nửa. Ông nghị sĩ tiếp
tục nói với dáng điệu tự chủ một phần nhờ ám ảnh của cái chết. Ông nói:
“Cho
nên, tôi không phải nhắc lại ở đây những gì mà bà con đã biết quá rõ; tôi tái đắc
cử là một thắng lợi lớn cho bà con hơn là cho tôi, bởi vì tôi đã quá chán ngán
tình trạng nước nghẽn, và mồ hôi của người thổ dân, trong khi bà con, mặt khác,
lại sống nhờ vào đó.”
Laura
Farina nhìn thấy con bướm giấy bay ra. Chỉ có cô thấy con bướm bay ra bởi vì những
người bảo vệ trong phòng ngoài này ngồi la liệt trên các nấc thang, gục lên gục
xuống, tay ôm súng. Sau khi lượn vài vòng, con bướm lớn bung ra hoàn toàn, nằm
mẹp sát tường và kẹt ở đó. Laura Farina cố dùng móng tay kéo nó ra. Một người
lính gác, tỉnh dậy vì tiếng vỗ tay rào rào ở phòng bên, nhìn thấy cô loay hoay.
Anh ta nói giọng ngái ngủ:
“Không
lấy ra được đâu. Nó bị sơn dính vào tường rồi.”
Laura
Farina lại ngồi xuống khi mọi người lũ lượt rời nơi hội họp. Ông nghị sĩ đứng ở
cửa ra vào, tay nắm lấy chốt cửa, ông chỉ để ý đến cô Laura Farina khi trong
phòng không còn ai khác.
“Cô
làm gì ở đây?”
“C’est
de la part de mon père,” [5] cô đáp.
Ông
nghị sĩ hiểu. Ông nhìn dò xét mấy người lính ngủ gà ngủ gật, rồi ông quay qua
nhìn Laura Farina, vẻ đẹp lạ kỳ của cô con gái làm ông thấy đau hơn nỗi đau của
ông, và ông kết luận rằng cái chết đã quyết định giùm cho ông. Nên ông bảo:
“Vào
đây!”
Laura
Farina đứng thảng thốt ở ngưỡng cửa ra vào. Hàng ngàn tờ giấy bạc đang bay lơ lửng
trong phòng, dật dờ như những con bướm. Nhưng ông nghị sĩ đã tắt quạt và những
đồng tiền lả tả đáp xuống, làm trắng cả một vùng trong phòng. Ông cười nói:
“Em
thấy đấy, ngay cả đống rác rưởi này cũng có thể bay được.”
Laura
Farina ngồi xuống trên một chiếc ghế học trò. Da của cô mềm mà chắc, cùng màu
và cũng cùng độ đậm đặc như dầu thô hong dưới ánh mặt trời, tóc của cô là bờm của
một con ngựa con, và đôi mắt lớn của cô sáng hơn ánh đèn. Ông nghị sĩ theo dõi
tia nhìn của cô và cuối cùng tìm thấy đóa hoa hồng, bây giờ đã bị ố vì đất muối.
Ông nói:
“Đó
là một hoa hồng.”
“Vâng,”
cô đáp, mặt thoáng vẻ bối rối, “em biết chúng ở Riohacha.”
Ông
nghị sĩ ngồi trên một chiếc ghế bố nhà binh, vừa nói về hoa hồng vừa cởi nút
áo. Trên phía mà ông nghĩ rằng trái tim của ông nằm bên trong lồng ngực, ông có
xăm hình một trái tim bị một mũi tên xuyên thủng. Ông ném chiếc áo ướt lên sàn
nhà và yêu cầu Laura Farina phụ ông tháo giày ra.
Cô
gái quì xuống trước chiếc ghế bố. Ông nghị sĩ tiếp tục nhìn cô chăm chăm, vẻ
suy nghĩ, và trong khi cô tháo sợi giây giày ra, ông tự hỏi ai là người sẽ gặp
chuyện không may trong cuộc gặp gỡ này. Ông nói:
“Em
chỉ là một bé gái.”
“Ông
biết không, thế mà đến tháng tư này em được 19 tuổi đấy.”
Ông
nghị sĩ trở nên tò mò. Ông hỏi:
“Ngày
nào?”
“Ngày
11.”
Ông
nghị sĩ thấy dễ chịu hơn. Ông nói: “Tôi và em đều cùng tuổi Dương Cừu,” rồi ông
cười, nói thêm, “đó là dấu hiệu cô đơn.”
Laura
Farina không để ý nghe ông nói vì cô không biết phải làm gì với đôi giày cao cổ
này. Về phần ông nghị sĩ, ông cũng chẳng biết phải làm gì với cô Laura Farina,
bởi vì ông không quen những vụ tình ái đột nhiên này, và bên cạnh đó ông cũng
biết người đang ở với ông đây có nguồn gốc là dân hạ lưu. Để có thêm thì giờ
suy nghĩ, ông giữ Laura Farina chặt giữa hai đầu gối, ôm cô ngang hông, và nằm
ngửa trên chiếc giường bố. Rồi ông nhận ra cô không mặc gì bên trong, vì thân
thể của cô cho tỏa mùi ngột ngạt của một con thú trong rừng, nhưng con tim của
cô sợ hãi và da của cô nhờn một thứ mồ hôi trơn trơn. Ông thở dài:
“Không
ai thương chúng ta cả.”
Laura
Farina muốn nói một điều gì đó nhưng không cất tiếng được vì cảm thấy không khí
như đọng lại. Ông ta đặt cô nằm cạnh ông để giúp cô, ông tắt đèn và cả căn
phòng chìm trong bóng của đóa hoa hồng. Cô để mặc cho số phận. Ông nghị sĩ chậm
rãi vuốt ve cô, bàn tay tìm kiếm cô, chưa đụng được đến cô, nhưng ở nơi mà ông
nghĩ sẽ tìm thấy cô, ông gặp phải một vật gì bằng sắt vướng tay ông.
“Em
có cái gì ở đây thế?”
“Ổ
khóa.”
“Cái
chó gì thế?” ông nghị sĩ giận dữ nói và hỏi một điều mà ông dư biết. “Chìa khóa
đâu?”
Laura
Farina thở ra nhẹ nhàng. Cô trả lời:
“Ba
em giữ nó. Ba bảo là em nói với ông cho người đến lấy chìa khóa và đưa cho ba
em một tờ giấy ông viết hứa với ba em là ông sẽ giúp ba em lo vụ giấy tờ.”
Ông
nghị sĩ trở nên căng thẳng. Ông tức giận, lầu bầu: “Thằng khốn.” Rồi ông nhắm mắt
lại để thư giãn và ông lại thấy mình trong bóng tối. Ông sực nhớ một điều, hãy
nhớ rằng dù cho người đó là ta hay ai khác, cái chết sẽ chẳng lâu đâu và cũng
chẳng lâu đâu cái tên tuổi còn để lại.
Chờ
cho cơn rùng mình qua đi, ông mới hỏi:
“Nói
cho tôi biết điều này, em nghe người ta nói gì về tôi?”
“Ông
muốn nghe sự thật trước Chúa chứ?”
“Ừ,
sự thật trước Chúa.”
“Thế
thì,” Laura Farina dè dặt, “người ta nói ông tệ hơn những người kia vì ông khác
họ.”
Ông
nghị sĩ không thấy bực bội. Ông yên lặng hồi lâu, hai mắt nhắm lại, và khi ông
mở mắt trở lại ông dường như đã trở về từ những bản năng khéo che dấu nhất của
ông.
“Ôi,
mẹ kiếp,” ông quyết định, “em bảo ông cha già dịch của em là ta sẽ lo vụ đó cho
ông.”
“Nếu
ông muốn, em có thể đi lấy chìa khóa.”
Ông
nghị sĩ giữ cô lại. Ông nói:
“Bỏ
chuyện cái chìa khóa đi. Nằm đây ngủ với ta một lát. Có người bên cạnh khi cô
đơn cũng là điều hay.”
Và
cô đặt đầu của ông lên vai mình, mắt cô vẫn nhìn chăm chú vào đóa hồng. Ông nghị
sĩ ôm lấy hông cô, vùi mặt vào vòng tay có mùi thú rừng, và buông xuôi trước nỗi
sợ hãi. Sáu tháng và mười một ngày sau, ông sẽ chết trong cùng tư thế đó, trơ
trọi và bị loại bỏ vì vụ tai tiếng với Laura Farina và tức tưởi đã chết mà
không có cô.
--------------------------------
[1] Bản tiếng Anh “Death Constant Beyond
Love” do Gregory Rabassa dịch. (Chú thích của Tiền Vệ)
[2] Marcus Aurelius [tên gọi đầy đủ là Caesar
Marcus Aurelius Antonius Augustus] là đại đế La-mã từ năm 161 đến năm 180, nổi
tiếng với bộ Meditations, một tác phẩm về triết lý khắc kỷ. Ông là nhân
vật biểu trưng cho thời Hoàng Kim của đế quốc La-mã.
[3] “Mẹ kiếp. Trò chính trị nhố nhăng “. (Chú
thích của người dịch)
[4] “Tôi hả, ông biết rồi”. (Chú thích của
người dịch)
[5] “Tôi thay mặt cha tôi”. (Chú thích của
người dịch)
➖➖➖
Phần tiếng Anh
---
Death
Constant Beyond Love
Translated from the Spanish by Gregory Rabassa.
Senator
Onesimo Sanchez had six months and eleven days to go before his death when he
found the woman of his life. He met her in Rosal del Virrey, an illusory
village which by night was the furtive wharf for smugglers’ ships, and yet it
seemed in broad daylight the most useless inlet on the desert, looking out on
an arid and directionless sea, so far removed from everything that no one would
have suspected that someone capable of changing the destiny of anyone lived
there. Even its name was a kind of joke, because the only rose in that village
was being worn by Senator Onesimo Sanchez himself on the same afternoon that he
met Laura Farina.
It
was an unavoidable stop in the electoral campaign he made every four years. The
carnival wagons had arrived in the morning. Then came the trucks with the
rented Indians who were carried into the towns in order to enlarge the crowds
at public ceremonies. Shortly before eleven o’clock, along with the music and
rockets and jeeps of the retinue, the ministerial automobile the color of
strawberry soda arrived. Senator Onesimo Sanchez was placid and weatherless
inside the air-conditioned car, but as soon as he opened the door he was shaken
by a gust of fire and his shirt of pure silk was soaked in a kind of
light-colored soup, and he felt many years older and more alone than ever. In
real life he had just turned forty-two, had been graduated from Gottingen with
honors as a metallurgical engineer, and was an avid reader, although without
much success, of badly translated Latin classics. He was married to a radiant
German woman who had given him five children and they were all happy in their
home, he the happiest of all until they told him, three months before, that he
would be dead forever by next Christmas.
While
the preparations for the public rally were being completed, the senator managed
to have an hour alone in the house they had set aside for him to rest in.
Before he lay down he put into a glass of drinking water the rose he had kept
alive all across the desert, lunched on the diet cereals which he took with him
so as to avoid the repeated portions of fried goat that were waiting for him
during the rest of the day, and took several painkillers before the time
prescribed so that he would have the remedy ahead of the pain. Then he put the
electric fan close to the hammock and stretched out naked for fifteen minutes
in the shadow of the rose, making a great effort at mental distraction so as
not to think about death while he dozed. Except for the doctors, no one knew
that he had been sentenced to a fixed term, for he had decided to endure his
secret all alone, with no change in his life, not out of pride but out of
shame. He felt in full control of his free will when he appeared in public
again at three in the afternoon, rested and clean, wearing a pair of coarse
linen slacks and a floral shirt, and with his soul sustained by the anti-pain
pills. Nevertheless, the erosion of death was much more pernicious than he had
supposed, for as he went up onto the platform he felt a strange disdain for
those who were fighting for the opportunity to shake his hand, and he didn’t
feel sorry as he had at other times for the groups of barefoot Indians who
could scarcely endure the hot saltpeter coals of the sterile little square. He
silenced the applause with a wave of his hand, almost with rage, and he began
to speak without gestures, his eyes fixed on the sea that was sighing with
heat. His measured, deep voice had the quality of water in repose, but the
speech that had been memorized and ground out so many times had not occurred to
him as a means of telling the truth but rather as the opposite of a fatalistic
pronouncement by Marcus Aurelius in the fourth book of his Meditations. “We
are here for the purpose of defeating nature,” he began, against all of his
convictions. “We will no longer be foundlings in our own country, orphans of
God in a realm of thirst and bad climate, exiles in our own land. We will be
different people, ladies and gentlemen, we will be a great and happy people.”
There was a pattern to his circus. As he spoke, his aides threw clusters of
paper birds into the air and the artificial creatures took on life, flew about
the platform of planks, and went out to sea. At the same time, other men took
some prop trees with felt leaves out of the wagons and planted them in the
saltpeter soil behind the crowd. They finished by setting up a cardboard facade
with make believe houses of red brick that had glass windows, and with it they
covered the miserable shacks of real life.
The
senator prolonged his speech with two quotations in Fatin in order to give the
farce more time. He promised rainmaking machines, portable breeders for
livestock, the oils of happiness which would make vegetables grow in the
saltpeter and clumps of pansies in the window boxes. When he saw that his world
of fiction was all set up, he pointed to it. “That’s the way it will be for us,
ladies and gentlemen,” he shouted. “Look! That’s the way it will be for us.”
The
audience turned around. An ocean liner made of painted paper was passing behind
the houses, and it was taller than the tallest houses in the artificial city.
Only the senator himself noticed that since it had been set up and taken down
and carried from one place to another, the superimposed cardboard town had also
been eaten away by the terrible climate and that it was almost as poor and
dusty as Rosal del Virrey.
For
the first time in twelve years, Nelson Farina didn’t go to greet the senator.
He listened to the speech from his hammock amidst the remains of his siesta,
under the cool bower of a house of unplaned boards which he had built with the
same pharmacist’s hands with which he had drawn and quartered his first wife.
He had escaped from Devil’s Island and appeared in Rosal del Virrey on a ship
loaded with innocent macaws, with a beautiful and blasphemous black woman he
had found in Paramaribo and by whom he had a daughter. The woman died of
natural causes a short while later, and she didn’t suffer the fate of the other,
whose pieces had fertilized her own cauliflower patch, but was buried whole and
with her Dutch name in the local cemetery. The daughter had inherited her color
and her fisure along with her father’s yellow and astonished eyes, and he had
good reason to imagine that he was rearing the most beautiful woman in the
world.
Ever
since he had first met Senator Onesimo Sanchez during his first electoral
campaign, Nelson Farina had begged for his help in getting a false identity
card which would place him beyond the reach of the law. The senator, in a
friendly but firm way, had refused. Nelson Farina never gave up, and for
several years, every time he found the chance, he would repeat his request with
a different recourse. But always he received the same answer. Therefore on this
visit he remained in his hammock, condemned to rot alive in that burning den of
buccaneers. When he heard the final applause, he lifted his head and, looking
over the boards of the fence, he saw the back side of the farce: the props for
the buildings, the framework of the trees, the hidden illusionists who were
pushing the ocean liner along. He spat without rancor.
“Merde”
he said. “C’est le Blacaman de la politique. “
After
the speech, as was customary, the senator took a walk through the streets of
the town in the midst of the music and the rockets and besieged by the
townspeople, who told him their troubles. The senator listened to them
good-naturedly, and he always found some way to console everybody without
having to do them any difficult favors. A woman up on the roof of a house with
her six youngest children managed to make herself heard over the uproar and the
fireworks. “I’m not asking for much, Senator,” she said. “Just a donkey to haul
water from Hanged Man’s Well.”
The
senator noticed the six thin children. “What became of your husband?” he asked.
“He
went to find his fortune on the island of Aruba,” the woman answered
good-humoredly, “and what he found was a foreign woman, the kind that put
diamonds in their teeth.”
The
answer brought on a roar of laughter.
“All
right,” the senator decided, “you’ll get your donkey.” A short while later an
aide of his brought a good pack donkey to the woman’s house, and on the rump it
had a campaign slogan written in indelible paint so that no one would ever
forget that it was a gift from the senator.
Along
the short stretch of street he made other smaller gestures, and he even gave a
spoonful of medicine to a sick man who had had his bed brought to the door of
his house so he could see him pass. At the last corner, through the boards of
the fence, he saw Nelson Farina in his hammock, looking ashen and gloomy, but,
nonetheless, the senator greeted him, with no show of affection:
“Hello,
how are you?”
Nelson
Farina turned in his hammock and soaked him in the sad amber of his look.
“Moi,
vous savez,” he said.
His
daughter came out into the yard when she heard the greeting. She was wearing a
cheap, faded guajiro Indian robe, her head was decorated with colored bows, and
her face was painted as protection against the sun, but even in that state of
disrepair it was possible to imagine that there had never been another so
beautiful in the whole world. The senator was left breathless. “I’ll be damned!”
he breathed in surprise. “The Lord does the craziest things!” That night Nelson
Farina dressed his daughter up in her best clothes and sent her to the senator.
Two guards armed with rifles who were nodding from the heat in the borrowed
house ordered her to wait on the only chair in the vestibule.
The
senator was in the next room meeting with the important people of Rosal del
Virrey, whom he had gathered together in order to sing for them the truths he
had left out of his speeches. They looked so much like the ones he always met
in every town in the desert that even the senator himself was sick and tired of
that perpetual same nightly session. Flis shirt was soaked with sweat and he
was trying to dry it on his body with the hot breeze from an electric fan that
was buzzing like a horsefly in the heavy heat of the room.
“We,
of course, can’t eat paper birds,” he said. “You and I know that the day there
are trees and flowers in this heap of goat dung, the day there are shad instead
of worms in the water holes, that day neither you nor I will have anything to
do here, do I make myself clear?”
No
one answered. While he was speaking, the senator had torn a sheet off the
calendar and fashioned a paper butterfly out of it with his hands. He tossed it
into the air current coming from the fan with no particular aim and the
butterfly flew about the room and then went out through the half-open door. The
senator went on speaking with a control aided by the complicity of death.
“Therefore,”
he said, “I don’t have to repeat to you what you already know too well: that my
reelection is a better piece of business for you than it is for me, because I’m
fed up with stagnant water and Indian sweat, while you people, on the other
hand, make your living from it.”
Laura
Farina saw the paper butterfly come out. Only she saw it because the guards in
the vestibule had fallen asleep on the steps, hugging their rifles. After a few
turns, the large lithographed butterfly unfolded completely, flattened against
the wall, and remained stuck there. Laura Farina tried to pull it off with her
nails. One of the guards, who woke up with the applause from the next room,
noticed her vain attempt. “It won’t come off,” he said sleepily. “It’s painted
on the wall.”
Laura
Farina sat down again when the men began to come out of the meeting. The
senator stood in the door of the room with his hand on the latch, and he
noticed Laura Farina only when the vestibule was empty.
“What
are you doing here?”
“C’est
de la part de mon pere, “ she said.
The
senator understood. He scrutinized the sleeping guards, then he scrutinized
Laura Farina, whose unusual beauty was even more demanding than his pain, and
he resolved then that death had made his decision for him. “Come in,” he told
her.
Laura
Farina was struck dumb standing in the doorway to the room: thousands of
banknotes were floating in the air, flapping like the butterfly. But the
senator turned off the fan and the bills were left without air and alighted on
the objects in the room.
“You
see,” he smiled, “even shit can fly.”
Laura
Farina sat down on a schoolboy’s stool. Her skin was smooth and firm with the
same color and the same solar density as crude oil, her hair was the mane of a
young mare, and her huge eyes were brighter than the light. The senator
followed the thread of her look and finally found the rose that had been
tarnished by the saltpeter. “It’s a rose,” he said.
“Yes,”
she said with a trace of perplexity, “I learned what they were in Riohacha.”
The senator sat down on an army cot, talking about roses as he unbuttoned his
shirt. On the side where he imagined his heart to be inside his chest he had a
corsair’s tattoo of a heart pierced by an arrow. He threw the soaked shirt to
the floor and asked Laura Farina to help him off with his boots.
She
kneeled down facing the cot. The senator continued to scrutinize her,
thoughtfully, and while she was untying the laces he wondered which one of them
would end up with the bad luck of that encounter.
“You’re
just a child,” he said.
“Don’t
you believe it,” she said. “I’ll be nineteen in April.”
The
senator became interested.
“What
day?”
“The
eleventh,” she said.
The
senator felt better. “We’re both Aries,” he said. And, smiling, he added:
“It’s
the sign of solitude.”
Laura
Farina wasn’t paying attention because she didn’t know what to do with the
boots. The senator, for his part, didn’t know what to do with Laura Farina,
because he wasn’t used to sudden love affairs, and besides, he knew that the
one at hand had its origins in indignity. Just to have some time to think, he
held Laura Farina tightly between his knees, embraced her about the waist, and
lay down on his back on the cot. Then he realized that she was naked under her
dress, for her body gave off the dark fragrance of an animal of the woods, but
her heart was frightened and her skin disturbed by a glacial sweat.
“No
one loves us,” he sighed.
Laura
Farina tried to say something, but there was only enough air for her to
breathe. He laid her down beside him to help her; he put out the light and the
room was in the shadow of the rose. She abandoned herself to the mercies of her
fate. The senator caressed her slowly, seeking her with his hand, barely
touching her, but where he expected to find her, he came across something iron
that was in the way.
“What
have you got there?”
“A
padlock,” she said.
“What
in hell . . . !” the senator said furiously and asked what he knew only too
well. “Where’s the key?”
Laura
Farina gave a breath of relief.
“My
papa has it,” she answered. “He told me to tell you to send one of your people
to get it and to send along with him a written promise that you’ll straighten
out his situation.”
The
senator grew tense. “Frog bastard,” he murmured indignantly. Then he closed his
eyes in order to relax, and he met himself in the darkness. Remember, he
remembered, that whether it’s you or someone else, it won’t be long before
you ’ll be dead and it won’t be long before your name won’t even be left.
He waited for the shudder to pass.
“Tell
me one thing,” he asked then. “What have you heard about me?”
“Do
you want the honest-to-God truth?”
“The
honest-to-God truth.”
“Well,”
Laura Farina ventured, “they say you’re worse than the rest because you’re
different.” The senator didn’t get upset. He remained silent for a long time
with his eyes closed, and when he opened them again he seemed to have returned
from his most hidden instincts. “Oh, what the hell,” he decided, “tell your son
of a bitch of a father that I’ll straighten out his situation.”
“If
you want, I can go get the key myself,” Laura Farina said. The senator held her
back.
“Forget
about the key,” he said, “and sleep a while with me. It’s good to be with
someone when you’re so alone.”
Then she laid his head on her shoulder, her eyes fixed on the rose. The senator held her about the waist, sank his face into woods animal armpit, and gave in to terror. Six months and eleven days later he would die in that same position, degraded and repudiated because of the public scandal with Laura Farina, and weeping with rage at dying without her. □
➖➖➖

