2023-12-16

Cái chết bất biến tình yêu cũng không làm gì được - Gabriel García Márquez

2023-12-16

Cái chết bất biến tình yêu cũng không làm gì được

Gabriel García Márquez

(Giải Nobel Văn học 1982)

Dịch giả: Hoàng Ngọc Nguyên

Dịch từ bản tiếng Anh: “Death Constant Beyond Love” do Gregory Rabassa dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha “Muerte constante más allá del amor” (1970)


 

Truyện ngắn “Cái chết bất biến tình yêu cũng không làm gì được”,
dịch từ bản tiếng Anh “Death Constant Beyond Love” [1].

---

Khi gặp được người đàn bà của đời mình, Nghị sĩ Onésimo Sanchez còn cách cái chết chỉ sáu tháng mười một ngày. Ông gặp cô gái tại Rosal del Virrey (Vườn Hồng), một làng quê huyễn hoặc vô chừng, ban đêm là một bến cảng cho tàu của dân buôn lậu trộm cắp, nhưng ban ngày nó giống như một cái vịnh vô dụng nhất trên sa mạc, nhìn ra biển cả khô hạn, mênh mông vô chừng, quá xa rời mọi vật. Không ai tin rằng ở đó lại có người nào có đủ sức thay đổi được cuộc đời của bất cứ ai. Ngay cái tên của địa phương này cũng khôi hài, bởi vì cái hoa hồng duy nhất trong làng này chính là bông hồng nằm ở túi áo Nghị sĩ Onésimo Sanchez vào buổi chiều ông gặp Laura Farina.

Đó là một trạm ghé chân bắt buộc trong cuộc vận động bầu cử cứ bốn năm một lần ông phải đến. Đoàn xe diễn hành đã có mặt từ sáng sớm. Rồi đến những chuyến xe tải chở những người da đỏ vào thành phố, họ được thuê đến cho đông vui náo nhiệt ở những buổi lễ công cộng. Trước 11 giờ một tí, cùng với âm nhạc, pháo và các xe jeep của đoàn tùy tùng, chiếc xe của quan chức, màu nưóc dâu tươi, đến. Nghị sĩ Onésimo Sanchez ngồi thoải mái, không gió máy gì trong chiếc xe có máy lạnh; nhưng ngay khi mở cửa xuống xe, ông run lên như bị lửa đốt người, chiếc áo lụa xịn của ông ướt đẫm một chất lỏng nhợt nhạt và ông thấy mình già thêm nhiều tuổi và cô đơn hơn bao giờ cả. Thực sự thì ông vừa qua 42 tuổi, đã tốt nghiệp kỹ sư luyện kim trường Gottingen hạng danh dự, là một người đọc say mê, dù chẳng hiểu gì mấy, những bản dịch tồi tệ của các tác phẩm La-tinh cổ điển. Ông lấy một phụ nữ người Đức thông minh, cho ông năm người con, tất cả đều sống hạnh phúc dưới mái ấm gia đình, trong đó ông là người hạnh phúc nhất cho đến khi người ta cho ông biết, cách đây ba tháng, ông sẽ vĩnh viễn chết vào mùa giáng sinh năm tới.

Trong khi chờ đợi người ta chuẩn bị cuộc tiếp xúc công chúng, ông nghị sĩ sắp xếp để có một tiếng đồng hồ được ở một mình trong căn nhà người ta dành cho ông nghỉ ngơi. Trước khi nằm nghỉ, ông đặt trong một ly nước uống một đóa hồng mà ông đã giữ cho nó vẫn tươi khi đi ngang qua sa mạc, ăn trưa với ngũ cốc dinh dưỡng mà ông đem theo để tránh phải ăn mãi phần thịt dê rán đang sẵn sàng chờ đợi ông từ giờ đến tối, và ông dùng nhiều viên thuốc chống đau nhức sớm hơn giờ bác sĩ định để ông có thể phòng trước khi cơn đau nhức đến. Rồi ông đặt cái quạt máy gần cái võng và nằm ở trần trong mười lăm phút trong bóng của hoa hồng, cố gắng suy nghĩ chuyện khác để khỏi bận tâm với cái chết trong khi ông chợp mắt. Ngoài mấy ông bác sĩ, không ai biết là ông đã lãnh một bàn án tù có thời hạn, bởi vì ông đã quyết định một mình chịu đựng sự bí mật này, vẫn sống bình thường như không có chuyện gì xảy ra, không phải vì tự hào mà vì xấu hổ.

Ông cảm thấy lại làm chủ được ý chí của mình khi một lần nữa xuất hiện trước công chúng vào ba giờ chiều hôm đó, khỏe khoắn và sạch sẽ, mặc một quần sọc rộng và một chiếc áo hoa lá cành, đầu óc êm ả nhờ những viên thuốc chống đau nhức. Tuy nhiên, sự công phá của cái chết tai hại hơn ông tưởng, bởi vì khi bước lên bục, ông có cảm giác lạ lùng xem thường những người đang chen nhau tìm cách bắt tay ông, và ông cũng không còn cảm thấy ái ngại như ông vẫn thấy trước đây đối với những nhóm người thổ dân đi chân đất đang phải chịu đựng khổ sở mặt đất cát muối và nhựa trộn lẫn nóng muốn phỏng chân ở nơi công trường tiêu điều này. Ông ngưng các tràng pháo tay bằng một cái vẫy tay, hầu như có sự giận dữ ở trong, và ông bắt đầu nói mà không cử động gì, mắt nhìn xa xăm ra biển, cũng đang thở dài vì nóng. Giọng của ông chừng mực, thấp, giống như một mặt nước yên lặng, nhưng bài nói chuyện mà ông đã ghi trong đầu và nhai lui nhai tới nhiều lần đối với ông không có ý nghĩa nói lên sự thực mà còn nghịch lại lời phán quyết chết chóc của Marcus Aurelius trong cuốn thứ tư của bộ Meditations. [2] Ông bắt đầu, dù không mảy may tin điều ông nói:

“Chúng ta có mặt ở đây để khuất phục thiên nhiên. Chúng ta sẽ không còn là những đứa con hoang trên đất nước của mình, không còn là cô nhi của Thượng đế trong vương quốc của đói khát và khí hậu khắc nghiệt, không còn phải tự ép mình làm kẻ lưu đày trên chính quê hương của chính mình. Chúng ta sẽ là những con người khác, thưa quí bà, quí ông, chúng ta sẽ là những con người vĩ đại và hạnh phúc.”

Có một bài bản sẵn trong đám xiếc đi theo ông. Khi ông nói, những người tùy tùng tung hàng loạt chim giấy lên trời và những sinh vật giả tạo này bắt đầu bay lượn khắp khán đài rồi trực chỉ ra biển. Cùng lúc, những người khác đưa ra vài cây giả có lá có cành từ những chiếc xe tải của đoàn và cắm cây lên lớp đất muối phía sau đám đông. Họ kết thúc bằng cách dựng một tấm phông lớn bằng gỗ cứng vẽ những ngôi nhà gạch đỏ, cửa sổ có kính, che khuất những căn lều tồi tàn có thực đằng sau.

Ông nghị sĩ kéo dài bài nói chuyện của mình bằng hai câu ngạn ngữ la-tinh trong khi chờ đợi người ta dựng xong tường. Ông hứa máy làm mưa, cung cấp thú giống cho gia súc trong nhà, những loại dầu hạnh phúc sẽ làm cho rau cải mọc trên vùng đất mặn và cho những chậu lai giống hoa tím treo ở cửa sổ. Khi ông thấy cái thế giới tiểu thuyết của mình dã dựng xong, ông chỉ vào mặt họ và lớn giọng:

“Tương lai của chúng ta sẽ như thế đó, thưa quí ông, quí bà. Hãy xem đi, tương lai của chúng ta phải là như thế!”

Đám đông quay lại. Một chiếc tàu biển bằng giấy sơn màu từ từ đi qua đằng sau những ngôi nhà cũng bằng giấy, chiếc tàu này lớn hơn bất cứ tòa nhà lớn nào trong cái thành phố giả định này. Chỉ có ông nghị sĩ nhận ra một điều, bởi vì người ta đã dựng lên rồi tháo dở rồi đem nó đi từ nơi này qua nơi khác nhiều lần, nên cái thành phố bằng giấy bồi này chịu biết bao thời tiết kinh khủng, nó trông cũng tơi tả, nghèo nàn và bụi bặm không khác gì Rosal del Virrey.

Mười hai năm nay, đây là lần đầu Nelson Farina không đi chào ông nghị sĩ. Ông ta nghe bài nói chuyện từ chiếc võng của mình, giữa cơn ngủ trưa, dưới bóng cây mát mẻ của một ngôi nhà gồm mấy tấm ván chắp vá mà ông ta đã dựng lên bằng đôi tay của mình, đôi bàn tay của một dược sĩ mà ông đã từng dùng để vẽ và ấp ủ người vợ đầu tiên của mình. Ông đã thoát khỏi Đảo Quỉ Sứ và xuất hiện ở Rosal del Virrey trên một chiếc tàu đầy những con chim két, với một người đàn bà da đen xinh đẹp và hạ lưu mà ông đã gặp ở Paramaribo và có một đứa con gái với bà này. Sau đó chẳng bao lâu thì bà chết vì những nguyên nhân hợp tự nhiên và bà đã không chịu số phận của người đàn bà kia — thân xác của người ấy đã thành phân bón cho mấy luống rau cải — mà bà lại được chôn toàn thây và với cái tên Hà Lan của bà trong nghĩa trang địa phương. Cô con gái đã thừa hưởng màu da của bà và nét mặt cùng với đôi mắt vàng và ngơ ngác của cha cô, và ông có đủ lý do để nghĩ rằng ông đang nuôi lớn khôn cô gái đẹp nhất trên trần gian.

Kể từ khi gặp nghị sĩ Onésimo Sanchez trong cuôc vận động tranh cử đầu tiên của ông này, Nelson Farina đã năn nỉ ông nghị sĩ giúp mình có một lý lịch giả đủ để qua mặt luật pháp. Ông nghị sĩ, thân thiện nhưng cương quyết, đã từ chối. Nelson Farima không hề bỏ cuộc, trong nhiều năm nay, khi nào có dịp, ông lại nhắc lời yêu cầu của mình với cách năn nỉ khác. Nhưng lần này ông nằm yên trên võng, chịu chết mục trong cái xó xỉnh nóng hầm của dân cướp biển. Khi nghe tràng vỗ tay hoan hô lần cuối, ông ngóc đầu dậy, nhìn qua những tấm ván của hàng rào, ông thấy mặt kia của tấn tuồng: những giàn gỗ chống khu nhà bằng giấy, cái giá để cho cây kiểng khỏi ngã, những người bị che khuất đang đẩy chiếc tàu đi biển. Ông nhổ một bãi nước miếng nhưng không thấy bực bội gì, miệng lẩm bẩm:

“Merde. C’est le Blacamán de la politique.” [3]

Sau bài diễn văn, theo thông lệ, ông nghị sĩ sẽ đi bộ qua các phố của thị trấn trong tiếng nhạc, tiếng pháo nổ và ông sẽ bị dân chúng vây quanh, nhao nhao nói cho ông nghe những thỉnh nguyện của mình. Ông nghị sĩ sẽ lắng nghe một cách vui vẻ, ông luôn luôn có cách an ủi mọi người mà không phải làm điều gì ân sủng đặc biệt cho bất cứ ai. Một người đàn bà đứng trên mái nhà với sáu đứa con nhỏ cố sức nói lớn cho ông nghị sĩ có thể nghe giữa những tiếng ồn ào và pháo đốt ầm ĩ chung quanh:

“Ông nghị sĩ, tôi chẳng xin điều gì lớn lao lắm đâu. Chỉ cho tôi một con lừa kéo nước từ Giếng Người Treo Cổ về đây!”

Ông nghị sĩ để ý thấy sáu đứa bé gầy ốm. Ông mới hỏi:

“Thế chồng chị đâu rồi?”

“Ông ta đi kiếm vàng kiếm bạc ở đảo Aruba,” người đàn bà đáp giọng cười cợt, “nhưng ông ta chỉ kiếm được một bà nước ngoài, loại đàn bà đặt hột xoàn trên răng.”

Câu trả lời làm cho mọi người cười rộ lên. Ông nghị sĩ quyết định:

“Được rồi. Tôi sẽ kiếm cho chị con lừa.”

Chẳng mấy chốc, một người phụ tá của ông đưa đến nhà người đàn bà một con lừa đã thắng yên cương để chở đồ, ngang hông của nó có một khẩu hiệu vận động bầu cử cho ông nghị sĩ được viết bằng loại sơn không tẩy được để không ai có thể quên đó là một món quà của ông nghị sĩ.

Dọc theo quãng đường ngắn, ông làm thêm nhiều cử chỉ khác, ít quan trọng hơn, ông còn đút một muỗng thuốc cho một người bệnh đang nằm trên giường được kéo ra đến cửa ra vào nhà để người bệnh có thể thấy ông nghị sĩ đi ngang qua. Ở góc đường cuối cùng đó, qua mấy tấm ván của hàng rào, ông thấy Nelson Farina nằm trên võng, trông mệt mỏi và không vui, nhưng ông nghị sĩ vẫn lên tiếng chào, không có một chút gì thiện cảm trong thái độ:

“Chào ông. Ông mạnh giỏi chứ?”

Nelson Farina ngồi xoay người lại trên võng, vẻ mặt buồn bã làm cho ông nghị sĩ ái ngại:

“Moi, vous savez.” [4]

Con gái của ông bước ra vườn khi nghe tiếng chào hỏi. Cô mặc một chiếc váy của người da đỏ Guajiro đã bạc màu và rẻ tiền, trên đầu cô đỏm dáng vài cái nơ đủ màu, mặt cô sơn như thể để chống nắng, nhưng ngay cả áo quần, mặt mũi như thế người ta cũng có thể thấy chưa có ai trên đời này đẹp hơn cô. Ông nghị sĩ như đứng tim. Ông lầm thầm trong miệng:

“Ta chỉ có chết. Ông trời chắc đã phát khùng!”

Đêm đó Nelson Farina cho con gái mặc thật đẹp và đưa cô ta đến gặp ông nghị sĩ. Hai người bảo vệ có trang bị súng ống đứng trong cái nóng của căn nhà được mượn, gật đầu, bảo cô gái chờ ở chiếc ghế duy nhất trong phòng ngoài.

Ông nghị sĩ đang ở phòng kế bên gặp những người quan trọng của Rosal del Virrey. Ông tập họp họ để nói cho họ nghe những sự thật mà ông không nói đến trong những bài diễn văn của ông. Họ quá giống tất cả những người mà ông luôn luôn gặp tại những thành phố trong sa mạc đến độ ngay cả ông nghị sĩ cũng thấy chán nản, mệt mỏi với những phiên làm việc ban đêm liên tục này. Áo ông đẫm mồ hôi, ông cố gắng làm khô người nhờ những luồng gió nóng từ chiếc quạt điện kêu vù vù như một con ngựa trời trong hơi nhiệt nặng nề của phòng. Ông nói:

“Dĩ nhiên, chúng ta không ăn những con chim giấy. Các ông và tôi đều rõ cái ngày có cây, có hoa trên đống phân dê này, ngày mà ta có cá ngừ thay vì dòi bọ trong những hố nước ven biển, ngày đó cả tôi và các ông sẽ chẳng còn ai trên đời này đâu. Tôi nói thế, các ông rõ ý tôi chưa?”

Không ai trả lời. Trong khi nói, ông nghị sĩ xé một tờ lịch và gấp một con bướm. Ông phóng nó lên mà không thực sự nhắm bất cứ mục tiêu gì và con bướm dật dờ trong luồng gió từ quạt trần và bay ra khỏi căn phòng để hở một nửa. Ông nghị sĩ tiếp tục nói với dáng điệu tự chủ một phần nhờ ám ảnh của cái chết. Ông nói:

“Cho nên, tôi không phải nhắc lại ở đây những gì mà bà con đã biết quá rõ; tôi tái đắc cử là một thắng lợi lớn cho bà con hơn là cho tôi, bởi vì tôi đã quá chán ngán tình trạng nước nghẽn, và mồ hôi của người thổ dân, trong khi bà con, mặt khác, lại sống nhờ vào đó.”

Laura Farina nhìn thấy con bướm giấy bay ra. Chỉ có cô thấy con bướm bay ra bởi vì những người bảo vệ trong phòng ngoài này ngồi la liệt trên các nấc thang, gục lên gục xuống, tay ôm súng. Sau khi lượn vài vòng, con bướm lớn bung ra hoàn toàn, nằm mẹp sát tường và kẹt ở đó. Laura Farina cố dùng móng tay kéo nó ra. Một người lính gác, tỉnh dậy vì tiếng vỗ tay rào rào ở phòng bên, nhìn thấy cô loay hoay. Anh ta nói giọng ngái ngủ:

“Không lấy ra được đâu. Nó bị sơn dính vào tường rồi.”

Laura Farina lại ngồi xuống khi mọi người lũ lượt rời nơi hội họp. Ông nghị sĩ đứng ở cửa ra vào, tay nắm lấy chốt cửa, ông chỉ để ý đến cô Laura Farina khi trong phòng không còn ai khác.

“Cô làm gì ở đây?”

“C’est de la part de mon père,” [5] cô đáp.

Ông nghị sĩ hiểu. Ông nhìn dò xét mấy người lính ngủ gà ngủ gật, rồi ông quay qua nhìn Laura Farina, vẻ đẹp lạ kỳ của cô con gái làm ông thấy đau hơn nỗi đau của ông, và ông kết luận rằng cái chết đã quyết định giùm cho ông. Nên ông bảo:

“Vào đây!”

Laura Farina đứng thảng thốt ở ngưỡng cửa ra vào. Hàng ngàn tờ giấy bạc đang bay lơ lửng trong phòng, dật dờ như những con bướm. Nhưng ông nghị sĩ đã tắt quạt và những đồng tiền lả tả đáp xuống, làm trắng cả một vùng trong phòng. Ông cười nói:

“Em thấy đấy, ngay cả đống rác rưởi này cũng có thể bay được.”

Laura Farina ngồi xuống trên một chiếc ghế học trò. Da của cô mềm mà chắc, cùng màu và cũng cùng độ đậm đặc như dầu thô hong dưới ánh mặt trời, tóc của cô là bờm của một con ngựa con, và đôi mắt lớn của cô sáng hơn ánh đèn. Ông nghị sĩ theo dõi tia nhìn của cô và cuối cùng tìm thấy đóa hoa hồng, bây giờ đã bị ố vì đất muối. Ông nói:

“Đó là một hoa hồng.”

“Vâng,” cô đáp, mặt thoáng vẻ bối rối, “em biết chúng ở Riohacha.”

Ông nghị sĩ ngồi trên một chiếc ghế bố nhà binh, vừa nói về hoa hồng vừa cởi nút áo. Trên phía mà ông nghĩ rằng trái tim của ông nằm bên trong lồng ngực, ông có xăm hình một trái tim bị một mũi tên xuyên thủng. Ông ném chiếc áo ướt lên sàn nhà và yêu cầu Laura Farina phụ ông tháo giày ra.

Cô gái quì xuống trước chiếc ghế bố. Ông nghị sĩ tiếp tục nhìn cô chăm chăm, vẻ suy nghĩ, và trong khi cô tháo sợi giây giày ra, ông tự hỏi ai là người sẽ gặp chuyện không may trong cuộc gặp gỡ này. Ông nói:

“Em chỉ là một bé gái.”

“Ông biết không, thế mà đến tháng tư này em được 19 tuổi đấy.”

Ông nghị sĩ trở nên tò mò. Ông hỏi:

“Ngày nào?”

“Ngày 11.”

Ông nghị sĩ thấy dễ chịu hơn. Ông nói: “Tôi và em đều cùng tuổi Dương Cừu,” rồi ông cười, nói thêm, “đó là dấu hiệu cô đơn.”

Laura Farina không để ý nghe ông nói vì cô không biết phải làm gì với đôi giày cao cổ này. Về phần ông nghị sĩ, ông cũng chẳng biết phải làm gì với cô Laura Farina, bởi vì ông không quen những vụ tình ái đột nhiên này, và bên cạnh đó ông cũng biết người đang ở với ông đây có nguồn gốc là dân hạ lưu. Để có thêm thì giờ suy nghĩ, ông giữ Laura Farina chặt giữa hai đầu gối, ôm cô ngang hông, và nằm ngửa trên chiếc giường bố. Rồi ông nhận ra cô không mặc gì bên trong, vì thân thể của cô cho tỏa mùi ngột ngạt của một con thú trong rừng, nhưng con tim của cô sợ hãi và da của cô nhờn một thứ mồ hôi trơn trơn. Ông thở dài:

“Không ai thương chúng ta cả.”

Laura Farina muốn nói một điều gì đó nhưng không cất tiếng được vì cảm thấy không khí như đọng lại. Ông ta đặt cô nằm cạnh ông để giúp cô, ông tắt đèn và cả căn phòng chìm trong bóng của đóa hoa hồng. Cô để mặc cho số phận. Ông nghị sĩ chậm rãi vuốt ve cô, bàn tay tìm kiếm cô, chưa đụng được đến cô, nhưng ở nơi mà ông nghĩ sẽ tìm thấy cô, ông gặp phải một vật gì bằng sắt vướng tay ông.

“Em có cái gì ở đây thế?”

“Ổ khóa.”

“Cái chó gì thế?” ông nghị sĩ giận dữ nói và hỏi một điều mà ông dư biết. “Chìa khóa đâu?”

Laura Farina thở ra nhẹ nhàng. Cô trả lời:

“Ba em giữ nó. Ba bảo là em nói với ông cho người đến lấy chìa khóa và đưa cho ba em một tờ giấy ông viết hứa với ba em là ông sẽ giúp ba em lo vụ giấy tờ.”

Ông nghị sĩ trở nên căng thẳng. Ông tức giận, lầu bầu: “Thằng khốn.” Rồi ông nhắm mắt lại để thư giãn và ông lại thấy mình trong bóng tối. Ông sực nhớ một điều, hãy nhớ rằng dù cho người đó là ta hay ai khác, cái chết sẽ chẳng lâu đâu và cũng chẳng lâu đâu cái tên tuổi còn để lại.

Chờ cho cơn rùng mình qua đi, ông mới hỏi:

“Nói cho tôi biết điều này, em nghe người ta nói gì về tôi?”

“Ông muốn nghe sự thật trước Chúa chứ?”

“Ừ, sự thật trước Chúa.”

“Thế thì,” Laura Farina dè dặt, “người ta nói ông tệ hơn những người kia vì ông khác họ.”

Ông nghị sĩ không thấy bực bội. Ông yên lặng hồi lâu, hai mắt nhắm lại, và khi ông mở mắt trở lại ông dường như đã trở về từ những bản năng khéo che dấu nhất của ông.

“Ôi, mẹ kiếp,” ông quyết định, “em bảo ông cha già dịch của em là ta sẽ lo vụ đó cho ông.”

“Nếu ông muốn, em có thể đi lấy chìa khóa.”

Ông nghị sĩ giữ cô lại. Ông nói:

“Bỏ chuyện cái chìa khóa đi. Nằm đây ngủ với ta một lát. Có người bên cạnh khi cô đơn cũng là điều hay.”

Và cô đặt đầu của ông lên vai mình, mắt cô vẫn nhìn chăm chú vào đóa hồng. Ông nghị sĩ ôm lấy hông cô, vùi mặt vào vòng tay có mùi thú rừng, và buông xuôi trước nỗi sợ hãi. Sáu tháng và mười một ngày sau, ông sẽ chết trong cùng tư thế đó, trơ trọi và bị loại bỏ vì vụ tai tiếng với Laura Farina và tức tưởi đã chết mà không có cô.

--------------------------------

[1]       Bản tiếng Anh “Death Constant Beyond Love” do Gregory Rabassa dịch. (Chú thích của Tiền Vệ)

[2]       Marcus Aurelius [tên gọi đầy đủ là Caesar Marcus Aurelius Antonius Augustus] là đại đế La-mã từ năm 161 đến năm 180, nổi tiếng với bộ Meditations, một tác phẩm về triết lý khắc kỷ. Ông là nhân vật biểu trưng cho thời Hoàng Kim của đế quốc La-mã.

[3]       “Mẹ kiếp. Trò chính trị nhố nhăng “. (Chú thích của người dịch)

[4]       “Tôi hả, ông biết rồi”. (Chú thích của người dịch)

[5]       “Tôi thay mặt cha tôi”. (Chú thích của người dịch)

 

 

➖➖➖


 

Phần tiếng Anh

---

Death Constant Beyond Love

Translated from the Spanish by Gregory Rabassa.

Senator Onesimo Sanchez had six months and eleven days to go before his death when he found the woman of his life. He met her in Rosal del Virrey, an illusory village which by night was the furtive wharf for smugglers’ ships, and yet it seemed in broad daylight the most useless inlet on the desert, looking out on an arid and directionless sea, so far removed from everything that no one would have suspected that someone capable of changing the destiny of anyone lived there. Even its name was a kind of joke, because the only rose in that village was being worn by Senator Onesimo Sanchez himself on the same afternoon that he met Laura Farina.

It was an unavoidable stop in the electoral campaign he made every four years. The carnival wagons had arrived in the morning. Then came the trucks with the rented Indians who were carried into the towns in order to enlarge the crowds at public ceremonies. Shortly before eleven o’clock, along with the music and rockets and jeeps of the retinue, the ministerial automobile the color of strawberry soda arrived. Senator Onesimo Sanchez was placid and weatherless inside the air-conditioned car, but as soon as he opened the door he was shaken by a gust of fire and his shirt of pure silk was soaked in a kind of light-colored soup, and he felt many years older and more alone than ever. In real life he had just turned forty-two, had been graduated from Gottingen with honors as a metallurgical engineer, and was an avid reader, although without much success, of badly translated Latin classics. He was married to a radiant German woman who had given him five children and they were all happy in their home, he the happiest of all until they told him, three months before, that he would be dead forever by next Christmas.

While the preparations for the public rally were being completed, the senator managed to have an hour alone in the house they had set aside for him to rest in. Before he lay down he put into a glass of drinking water the rose he had kept alive all across the desert, lunched on the diet cereals which he took with him so as to avoid the repeated portions of fried goat that were waiting for him during the rest of the day, and took several painkillers before the time prescribed so that he would have the remedy ahead of the pain. Then he put the electric fan close to the hammock and stretched out naked for fifteen minutes in the shadow of the rose, making a great effort at mental distraction so as not to think about death while he dozed. Except for the doctors, no one knew that he had been sentenced to a fixed term, for he had decided to endure his secret all alone, with no change in his life, not out of pride but out of shame. He felt in full control of his free will when he appeared in public again at three in the afternoon, rested and clean, wearing a pair of coarse linen slacks and a floral shirt, and with his soul sustained by the anti-pain pills. Nevertheless, the erosion of death was much more pernicious than he had supposed, for as he went up onto the platform he felt a strange disdain for those who were fighting for the opportunity to shake his hand, and he didn’t feel sorry as he had at other times for the groups of barefoot Indians who could scarcely endure the hot saltpeter coals of the sterile little square. He silenced the applause with a wave of his hand, almost with rage, and he began to speak without gestures, his eyes fixed on the sea that was sighing with heat. His measured, deep voice had the quality of water in repose, but the speech that had been memorized and ground out so many times had not occurred to him as a means of telling the truth but rather as the opposite of a fatalistic pronouncement by Marcus Aurelius in the fourth book of his Meditations. “We are here for the purpose of defeating nature,” he began, against all of his convictions. “We will no longer be foundlings in our own country, orphans of God in a realm of thirst and bad climate, exiles in our own land. We will be different people, ladies and gentlemen, we will be a great and happy people.” There was a pattern to his circus. As he spoke, his aides threw clusters of paper birds into the air and the artificial creatures took on life, flew about the platform of planks, and went out to sea. At the same time, other men took some prop trees with felt leaves out of the wagons and planted them in the saltpeter soil behind the crowd. They finished by setting up a cardboard facade with make believe houses of red brick that had glass windows, and with it they covered the miserable shacks of real life. 

The senator prolonged his speech with two quotations in Fatin in order to give the farce more time. He promised rainmaking machines, portable breeders for livestock, the oils of happiness which would make vegetables grow in the saltpeter and clumps of pansies in the window boxes. When he saw that his world of fiction was all set up, he pointed to it. “That’s the way it will be for us, ladies and gentlemen,” he shouted. “Look! That’s the way it will be for us.”

The audience turned around. An ocean liner made of painted paper was passing behind the houses, and it was taller than the tallest houses in the artificial city. Only the senator himself noticed that since it had been set up and taken down and carried from one place to another, the superimposed cardboard town had also been eaten away by the terrible climate and that it was almost as poor and dusty as Rosal del Virrey.

For the first time in twelve years, Nelson Farina didn’t go to greet the senator. He listened to the speech from his hammock amidst the remains of his siesta, under the cool bower of a house of unplaned boards which he had built with the same pharmacist’s hands with which he had drawn and quartered his first wife. He had escaped from Devil’s Island and appeared in Rosal del Virrey on a ship loaded with innocent macaws, with a beautiful and blasphemous black woman he had found in Paramaribo and by whom he had a daughter. The woman died of natural causes a short while later, and she didn’t suffer the fate of the other, whose pieces had fertilized her own cauliflower patch, but was buried whole and with her Dutch name in the local cemetery. The daughter had inherited her color and her fisure along with her father’s yellow and astonished eyes, and he had good reason to imagine that he was rearing the most beautiful woman in the world.

Ever since he had first met Senator Onesimo Sanchez during his first electoral campaign, Nelson Farina had begged for his help in getting a false identity card which would place him beyond the reach of the law. The senator, in a friendly but firm way, had refused. Nelson Farina never gave up, and for several years, every time he found the chance, he would repeat his request with a different recourse. But always he received the same answer. Therefore on this visit he remained in his hammock, condemned to rot alive in that burning den of buccaneers. When he heard the final applause, he lifted his head and, looking over the boards of the fence, he saw the back side of the farce: the props for the buildings, the framework of the trees, the hidden illusionists who were pushing the ocean liner along. He spat without rancor.

“Merde” he said. “C’est le Blacaman de la politique. “

After the speech, as was customary, the senator took a walk through the streets of the town in the midst of the music and the rockets and besieged by the townspeople, who told him their troubles. The senator listened to them good-naturedly, and he always found some way to console everybody without having to do them any difficult favors. A woman up on the roof of a house with her six youngest children managed to make herself heard over the uproar and the fireworks. “I’m not asking for much, Senator,” she said. “Just a donkey to haul water from Hanged Man’s Well.” 

The senator noticed the six thin children. “What became of your husband?” he asked.

“He went to find his fortune on the island of Aruba,” the woman answered good-humoredly, “and what he found was a foreign woman, the kind that put diamonds in their teeth.”

The answer brought on a roar of laughter.

“All right,” the senator decided, “you’ll get your donkey.” A short while later an aide of his brought a good pack donkey to the woman’s house, and on the rump it had a campaign slogan written in indelible paint so that no one would ever forget that it was a gift from the senator.

Along the short stretch of street he made other smaller gestures, and he even gave a spoonful of medicine to a sick man who had had his bed brought to the door of his house so he could see him pass. At the last corner, through the boards of the fence, he saw Nelson Farina in his hammock, looking ashen and gloomy, but, nonetheless, the senator greeted him, with no show of affection:

“Hello, how are you?”

Nelson Farina turned in his hammock and soaked him in the sad amber of his look.

“Moi, vous savez,” he said.

His daughter came out into the yard when she heard the greeting. She was wearing a cheap, faded guajiro Indian robe, her head was decorated with colored bows, and her face was painted as protection against the sun, but even in that state of disrepair it was possible to imagine that there had never been another so beautiful in the whole world. The senator was left breathless. “I’ll be damned!” he breathed in surprise. “The Lord does the craziest things!” That night Nelson Farina dressed his daughter up in her best clothes and sent her to the senator. Two guards armed with rifles who were nodding from the heat in the borrowed house ordered her to wait on the only chair in the vestibule. 

The senator was in the next room meeting with the important people of Rosal del Virrey, whom he had gathered together in order to sing for them the truths he had left out of his speeches. They looked so much like the ones he always met in every town in the desert that even the senator himself was sick and tired of that perpetual same nightly session. Flis shirt was soaked with sweat and he was trying to dry it on his body with the hot breeze from an electric fan that was buzzing like a horsefly in the heavy heat of the room.

“We, of course, can’t eat paper birds,” he said. “You and I know that the day there are trees and flowers in this heap of goat dung, the day there are shad instead of worms in the water holes, that day neither you nor I will have anything to do here, do I make myself clear?”

No one answered. While he was speaking, the senator had torn a sheet off the calendar and fashioned a paper butterfly out of it with his hands. He tossed it into the air current coming from the fan with no particular aim and the butterfly flew about the room and then went out through the half-open door. The senator went on speaking with a control aided by the complicity of death.

“Therefore,” he said, “I don’t have to repeat to you what you already know too well: that my reelection is a better piece of business for you than it is for me, because I’m fed up with stagnant water and Indian sweat, while you people, on the other hand, make your living from it.”

Laura Farina saw the paper butterfly come out. Only she saw it because the guards in the vestibule had fallen asleep on the steps, hugging their rifles. After a few turns, the large lithographed butterfly unfolded completely, flattened against the wall, and remained stuck there. Laura Farina tried to pull it off with her nails. One of the guards, who woke up with the applause from the next room, noticed her vain attempt. “It won’t come off,” he said sleepily. “It’s painted on the wall.”

Laura Farina sat down again when the men began to come out of the meeting. The senator stood in the door of the room with his hand on the latch, and he noticed Laura Farina only when the vestibule was empty.

“What are you doing here?”

“C’est de la part de mon pere, “ she said.

The senator understood. He scrutinized the sleeping guards, then he scrutinized Laura Farina, whose unusual beauty was even more demanding than his pain, and he resolved then that death had made his decision for him. “Come in,” he told her.

Laura Farina was struck dumb standing in the doorway to the room: thousands of banknotes were floating in the air, flapping like the butterfly. But the senator turned off the fan and the bills were left without air and alighted on the objects in the room. 

“You see,” he smiled, “even shit can fly.”

Laura Farina sat down on a schoolboy’s stool. Her skin was smooth and firm with the same color and the same solar density as crude oil, her hair was the mane of a young mare, and her huge eyes were brighter than the light. The senator followed the thread of her look and finally found the rose that had been tarnished by the saltpeter. “It’s a rose,” he said.

“Yes,” she said with a trace of perplexity, “I learned what they were in Riohacha.” The senator sat down on an army cot, talking about roses as he unbuttoned his shirt. On the side where he imagined his heart to be inside his chest he had a corsair’s tattoo of a heart pierced by an arrow. He threw the soaked shirt to the floor and asked Laura Farina to help him off with his boots. 

She kneeled down facing the cot. The senator continued to scrutinize her, thoughtfully, and while she was untying the laces he wondered which one of them would end up with the bad luck of that encounter.

“You’re just a child,” he said.

“Don’t you believe it,” she said. “I’ll be nineteen in April.”

The senator became interested.

“What day?”

“The eleventh,” she said.

The senator felt better. “We’re both Aries,” he said. And, smiling, he added:

“It’s the sign of solitude.”

Laura Farina wasn’t paying attention because she didn’t know what to do with the boots. The senator, for his part, didn’t know what to do with Laura Farina, because he wasn’t used to sudden love affairs, and besides, he knew that the one at hand had its origins in indignity. Just to have some time to think, he held Laura Farina tightly between his knees, embraced her about the waist, and lay down on his back on the cot. Then he realized that she was naked under her dress, for her body gave off the dark fragrance of an animal of the woods, but her heart was frightened and her skin disturbed by a glacial sweat.

“No one loves us,” he sighed.

Laura Farina tried to say something, but there was only enough air for her to breathe. He laid her down beside him to help her; he put out the light and the room was in the shadow of the rose. She abandoned herself to the mercies of her fate. The senator caressed her slowly, seeking her with his hand, barely touching her, but where he expected to find her, he came across something iron that was in the way.

“What have you got there?”

“A padlock,” she said.

“What in hell . . . !” the senator said furiously and asked what he knew only too well. “Where’s the key?”

Laura Farina gave a breath of relief.

“My papa has it,” she answered. “He told me to tell you to send one of your people to get it and to send along with him a written promise that you’ll straighten out his situation.”

The senator grew tense. “Frog bastard,” he murmured indignantly. Then he closed his eyes in order to relax, and he met himself in the darkness. Remember, he remembered, that whether it’s you or someone else, it won’t be long before you ’ll be dead and it won’t be long before your name won’t even be left. He waited for the shudder to pass.

“Tell me one thing,” he asked then. “What have you heard about me?”

“Do you want the honest-to-God truth?”

“The honest-to-God truth.”

“Well,” Laura Farina ventured, “they say you’re worse than the rest because you’re different.” The senator didn’t get upset. He remained silent for a long time with his eyes closed, and when he opened them again he seemed to have returned from his most hidden instincts. “Oh, what the hell,” he decided, “tell your son of a bitch of a father that I’ll straighten out his situation.”

“If you want, I can go get the key myself,” Laura Farina said. The senator held her back.

“Forget about the key,” he said, “and sleep a while with me. It’s good to be with someone when you’re so alone.”

Then she laid his head on her shoulder, her eyes fixed on the rose. The senator held her about the waist, sank his face into woods animal armpit, and gave in to terror. Six months and eleven days later he would die in that same position, degraded and repudiated because of the public scandal with Laura Farina, and weeping with rage at dying without her. □

➖➖➖


2023-12-09

Những nhầm lẫn khôi hài - Henryk Sienkiewicz

2023-12-09

Những nhầm lẫn khôi hài

Henryk Sienkiewicz

(Giải Nobel Văn học 1905)

Dịch giả: Lê Bá Thự


 

Cách đây chừng năm sáu năm gì đó, tại một địa điểm thuộc địa hạt Maripoza người ta phát hiện ra mỏ dầu. Những món lợi nhuận kếch xù mà các mỏ dầu ở Nevada và các bang khác đem lại đã khiến mấy vị chủ thầu chung tay lập ngay một công ty liên doanh để khai thác mỏ mới phát hiện này. Người ta tuôn tới đây đủ loại thiết bị: máy bơm, cần trục, thang leo, thùng to, thùng nhỏ, máy khoan và cả nồi hơi; người ta dựng nhà cho thợ thuyền, đặt cho địa điểm này cái tên “Struck Oil”, và chẳng bao lâu, tại vùng đất vốn khỉ ho cò gáy, không một bóng người này, nơi cách đây một năm duy chỉ có những chú chó sói đồng cỏ cư ngụ, đã mọc lên một ấp trại với vài chục ngôi nhà có vài trăm dân thợ ở.

Hai năm sau, Struck Oil đã được gọi là thị trấn Struck Oil. Thật vậy, nó đã là “thị trấn” với đầy đủ ý nghĩa của từ này. Xin lưu ý, lúc này đã có một thợ giày, một thợ may, một thợ mộc, một thợ rèn, một thợ chạm và một đốc tờ người Pháp sinh sống ở đây. Hồi còn ở Pháp ông đốc tờ này làm thợ cạo râu, nhưng cuối cùng, con người “uyên bác” và vô hại này, nay là đốc tờ Mỹ, đã trở nên vô cùng quan trọng.

Như chuyện vẫn thường có ở các thị trấn nhỏ, ông đốc tờ làm cả việc bán thuốc và bán tem thư; vậy là ông có tới ba nghề. Cũng giống như làm đốc tờ, ông là người bán thuốc vô hại, bởi lẽ trong hiệu thuốc của ông chỉ có thể mua được hai thứ thuốc: xi-rô ngọt và leroa. Ông già lặng lẽ, nhã nhặn này thường nói với các con bệnh của mình:

- Các vị khỏi phải e ngại điều gì khi dùng thuốc của tôi. Tôi vốn có thói quen, khi phát thuốc cho con bệnh, bao giờ tôi cũng tự mình uống một liều y hệt như vậy, bởi tôi hiểu rằng, nó mà không làm tổn hại sức khoẻ của tôi, thì nó cũng chẳng gây hại cho sức khoẻ của người bệnh. Đúng không?

- Bẩm đúng ạ! - Mấy bà con đã được trấn an trả lời. Họ không hề nghĩ, bổn phận của đốc tờ đâu phải chỉ có việc đừng làm hại người khác, mà còn là cứu giúp nữa.

Ông Dasonville, - đốc tờ có cái tên như vậy, - đặc biệt tin vào sự công hiệu tuyệt vời của leroa. Đã bao lâu, tại các cuộc họp đốc tờ cởi mũ, thao thao bất tuyệt trước công chúng:

- Thưa quý ông, quý bà! Xin quý ông, quý bà hãy tin, leroa là tuyệt hảo! Tôi đã bảy mươi, suốt bốn mươi năm ròng, ngày nào tôi cũng dùng leroa, và các vị hãy nhìn đây: trên đầu tôi không hề có lấy một sợi tóc bạc.

Các bà và các ông lại có thể để ý và thấy, quả đúng là đốc tờ không có một sợi tóc bạc nào, không một sợi bởi lẽ đầu ông ta hói, nhẵn thín. Có điều, những để ý đại loại như vậy cũng không giúp được gì cho sự lớn mạnh của thị trấn Struck Oil, cho nên chả ai làm việc đó cả.

Lúc này thị trấn Struck Oil cứ phình ra và phình ra. Sau hai năm đã có một nhánh đường xe lửa tới đây. Thị trấn có những quan chức dân cử. Ông đốc tờ được nhiều người hâm mộ, với tư cách là đại biểu của giới trí thức được bầu làm thẩm phán. Còn vị thợ giày, một người Do Thái Ba Lan, ông Devis làm cảnh sát trưởng; cả ngành cảnh sát ở đây chỉ có độc một viên chức, không hơn, không kém. Một ngôi trường được xây cất, dưới sự điều hành mĩ mãn của “giáo sư Madam”, một phụ nữ vẫn còn trinh tiết, bị viêm lợi mãn tính; và đây nữa, khách sạn đầu tiên với cái tên “Hotel Hiệp chủng quốc” đứng sừng sững.

“Hoạt động kinh doanh” cũng cực kì sôi động. Việc xuất dầu lửa mang lại những món lợi nhuận béo bở. Người ta thấy ông Devis đã cho đặt một tủ kính trưng bày trước cửa hàng mình, giống như kiểu người ta vẫn trang hoàng các hiệu giày ở San Francisco. Trong một cuộc họp, dân phố đã ngỏ lời cảm tạ ông Devis về cái “vật trang hoàng mới có của thành phố” này; với khiêm tốn của một công dân tai to mặt lớn, ông Devis đáp lời: Xin cảm tạ! Xin cảm tạ! Có gì đâu!

Ở đâu có thẩm phán và cảnh sát trưởng là ở đó có vụ việc. Điều này đòi hỏi phải viết lách, phải có giấy tờ. Ngoài ra ở góc phố Cojtes và phố Thứ Nhất đã mọc lên một “cửa hàng văn phòng phẩm”. Ở đó người ta bán cả nhật báo chính trị và những tờ tranh châm biếm về Grant dưới dạng một lão nông đang vắt sữa bò, mà con bò lại tiêu biểu cho nước Mỹ. Bổn phận của một cảnh sát trưởng nói chung không bắt ông ta đi cấm bán những bức tranh loại như vậy, bởi cái đó đâu có thuộc cảnh sát.

Nhưng đến đây chưa phải đã hết. Thành phố Mỹ không thể sống thiếu báo chí; năm thứ hai trôi qua, một tờ tạp chí ra đời với tiêu đề “Tập san thứ bảy hàng tuần”. Số dân thị trấn Struck Oil là bao nhiêu thì số người đặt mua tập san là ngần ấy. Biên tập viên của tờ báo kiêm luôn người xuất bản, người ấn loát và người phát hành. Cái nhiệm vụ cuối cùng này dễ ợt đối với ông, vì ông còn nuôi bò sữa nữa và sáng sáng phải đi đưa sữa tới từng nhà. Tuy nhiên điều đó nói chung không cản trở ông bắt đầu các bài xã luận của tờ báo bằng những từ: “Giá như vị Tổng thống hèn mạt của nước Mỹ chúng ta làm theo lời khuyên mà chúng ta đã nói cho ông ta trong số báo trước”…

Vậy là, như chúng ta đã thấy, ở cái thị trấn Struck Oil có phước này chẳng thiếu thứ gì. Phần nữa, do đám thợ mỏ khai thác dầu không có tính gây gổ, cũng không có các thói xấu mà những người đi đào vàng thường mắc phải, nên thị trấn hết đỗi bình yên. Không ai đánh lộn nhau, cũng không hề nghe thấy có vụ “xử tội” nào. Cuộc sống trôi qua yên ổn, ngày nọ giống ngày kia hệt như hai giọt nước vậy. Ai cũng làm “kinh doanh” từ sáng sớm, tối đến họ đốt rác trên các đường phố, và nếu như không có họp hành gì thì họ đi ngủ, đinh ninh rằng, chiều tối mai họ lại đốt rác.

Cảnh sát trưởng chỉ có một khó khăn duy nhất là không thể dẹp nổi đám dân phố vẫn dùng súng các-bin bắn những con ngỗng trời thường bay ngang qua thành phố lúc chiều tà. Luật của thành phố quy định cấm nổ súng trên đường phố mà. “Giá đây chỉ là một thị trấn nhỏ, nghèo nàn cho cam, - cảnh sát trưởng, - mà tôi đâu có bảo vậy, nhưng trong một thành phố lớn như thế này. Tạch! Đùng! Tạch! Đùng! Thật chả đẹp chút nào cả.”

Dân phố lắng nghe, gật gù đáp lại: “Bẩm vâng ạ!”. Ấy vậy mà, khi chiều tà, hễ trên bầu trời hồng nhạt xuất hiện những chuỗi trắng và xám kéo từ núi kéo ra biển là ai nấy quên ngay lời hứa, vác các-bin ra và súng lại nổ giòn. Ông Devis hoàn toàn có quyền giải từng kẻ phạm pháp tới chỗ ngài thẩm phán và ngài thẩm phán có thể phạt tiền họ. Có điều, chớ quên là, những kẻ phạm pháp lúc ốm đau lại chính là con bệnh của đốc tờ, còn khi bị hỏng giày họ là khách hàng của cảnh sát trưởng; cho nên, tay nọ rửa sạch tay kia thì được, chứ tay nọ chớ có cản tay kia lại.

Thị trấn Struck Oil yên bình như trên bầu trời, vậy mà bỗng nhiên những ngày đẹp đẽ đó chấm dứt.

Một ông chủ hiệu tạp hoá căm ghét một bà chủ hiệu tạp hoá tới tận xương tuỷ, còn bà này thì cũng vậy đối với ông kia.

Ở đây có lẽ cần giải thích, thế nào là “hiệu tạp hoá” ở Mỹ. Hiệu tạp hoá có nghĩa là cửa hàng bán tất cả mọi thứ: ở đó có thể mua bột mì, mũ, xì gà, chổi, khuy áo, gạo, cá trích, sơ mi, mỡ lợn, hạt giống, áo khoác, quần dài, bóng đèn, rìu, búa, đường, bát đĩa, cổ áo bằng giấy, cá khô, tóm lại là mọi thứ mà con người có thể cần. Thoạt đầu trong thị trấn Struck Oil chỉ có duy nhất một hiệu tạp hoá. Một người đàn ông Đức tên là Hans Kasche làm chủ hiệu. Người Đức gốc Phổ này là một anh chàng tính tình điềm đạm, đã ba mươi nhăm tuổi, mắt lồi, không to béo nhưng khá rắn chắc; chẳng bao giờ thấy anh ta vận lễ phục và bao giờ miệng cũng ngậm tẩu. Vốn tiếng Anh của anh chỉ đủ dùng làm “kinh doanh”, không hơn, không kém. Anh ta làm ăn buôn bán khấm khá, chả thế mà sau một năm trong thị trấn Struck Oil người ta đã kháo nhau, “anh ta kiếm được” phải tới bạc ngàn.

Thế rồi thình lình một hiệu tạp hoá thứ hai xuất hiện.

Và chuyện lạ lùng! Chủ hiệu thứ nhất là một người đàn ông Đức, người lập hiệu thứ hai là một người đàn bà Đức. “Kunegunde và Eduard, Eduard và Kunegunde!”. Chả bao lâu cuộc xung đột giữa hai bên bùng nổ. Số là thế này: cô Neuman hoặc “Niuman” như cô vẫn tự xưng, đem món bánh nướng làm bằng bột bị trộn lẫn xút và phèn chua thết khách trong bữa tiệc khai trương. Nhẽ ra cô đã bị bẽ mặt trước công chúng về chuyện này, nếu như cô không chủ động giữ lại và đưa ra những bằng chứng khẳng định rằng, bởi bao bột mì của cô vẫn chưa bị bóc tem, nên bột làm bánh là cô mua của anh Hans Kasche. Hoá ra, Kasche vốn là tay cả ghen và thâm thuý, ngay từ đầu anh chàng đã có ý đồ làm mất mặt nữ đối thủ của mình trước công chúng. Thực ra, người ta đã có thể thấy trước, thế nào rồi hai hiệu tạp hoá cũng sẽ kình địch với nhau, nhưng không ai biết trước được là sự kình địch đó sẽ biến thành mối thù hận kinh khủng giữa hai người. Chẳng bao lâu sự căm ghét đã đi tới mức, Hans chỉ đốt rác khi nào gió có thể thổi khói vào cửa hàng của nữ đối phương; còn cô nữ đối phương không gọi Hans là gì khác ngoài cái tên “Lão Đức”, Hans cho đây là một sự xúc phạm ghê gớm đối với mình.

Lúc đầu dân phố chê cười cả hai, hơn nữa cả hai đều không nói được tiếng Anh. Tuy vậy, do hàng ngày lui tới hai cửa hiệu mua sắm nên dần dà trong thị trấn hình thành hai phái, những người theo Hans và những người theo Neuman. Họ bắt đầu nhìn nhau bằng con mắt đố kị, điều này dễ tác động xấu tới cuộc sống hạnh phúc và sự yên tĩnh của thị trấn Struck Oil cộng hoà và dẫn tới những rắc rối nguy hiểm trong tương lai. Nhà chính trị uyên thâm, ông Devis muốn triệt cái xấu từ gốc, cho nên ông gắng sức hoà giải giữa hai anh chị Đức. Đã bao lần ông đứng ngay giữa phố nói với họ bằng tiếng Đức:

- Này, anh chị cãi nhau cái nỗi gì nào? Chả phải cả hai đều mua giày của một hiệu là gì? Bây giờ tôi đang có loại mà cả thành phố San Francisco không sánh nổi nhé.

- Cần gì phải đi quảng cáo giày dép với cái lão không lâu nữa sẽ đi chân đất, - cô Neuman chua chát ngắt lời.

- Tôi sẽ không bán chịu vì cặp giò đâu. - Hans từ tốn đáp lại.

Cần phải biết rằng, cô Neuman, mặc dầu là phụ nữ Đức, nhưng có cặp đùi đẹp tuyệt vời, cho nên mấy lời bóng gió độc địa ấy làm cô ức đến tận cổ.

Trong các cuộc họp của thị trấn hai phái bắt đầu đưa chuyện của anh Hans và cô Neuman ra; song ở nước Mỹ đàn ông không bao giờ có lẽ phải mỗi khi có chuyện với phụ nữ, cho nên đa phần nghiêng về phía cô Neuman.

Chả bao lâu Hans nhận thấy, cửa hiệu của anh dạo này chẳng lời lãi là bao.

Tuy nhiên, ngay cô Neuman cũng chả kiếm chác được gì nhiều, bởi tất cả phụ nữ trong thị trấn lại nghiêng về phía Hans - mấy bà để ý thấy các đức ông chồng của mình thường lui tới mua hàng chỗ cô gái Đức xinh đẹp và lần nào cũng vậy họ la cà ở đó lâu ơi là lâu.

Khi không còn một bóng khách nào ở cả hai cửa hàng, Hans và cô Neuman ra đứng giữa cửa, người nọ đối mặt người kia, nhìn nhau như muốn nuốt chửng. Bấy giờ cô Neuman cất giọng hát, bắt chước làn điệu của bài “Auguxtin yêu dấu của tôi”:

- “Lão Đức, Lão Đức, La-Lão Đức, La-Lão Đức-ức!”

Hans đưa mắt nhìn từ chân, đến thân người và cuối cùng là mặt cô nàng, ra bộ như người đang quan sát xác con chó sói bị giết cách đây một tháng, sau đó bật ra tiếng cười nảy lửa và nói to:

- Lạy chúa!

Lòng căm ghét trong con người trầm tĩnh này đã lên tới mức, mỗi sáng dậy hễ đứng trước cửa mà không thấy cô Neuman đâu cả thì anh ta cứ đi đi, lại lại như thiếu một cái gì đó.

Nhẽ ra từ lâu đã có thể xảy ra một số lần đụng độ giữa hai người, nếu như không có chuyện Hans biết chắc mình sẽ bị thua trong bất kì vụ kiện cáo nào, nhất là cô Neuman có đằng sau mình ông biên tập viên của tờ “Tập san thứ bảy hàng tuần”. Hans tin là có điều này khi anh ta tung tin cô Neuman mang vú giả. Mà cũng có thể là như vậy thật, bởi ở Mỹ đây là chuyện khá phổ biến. Thế là một tuần sau đó, trên tờ “Tập san thứ bảy hàng tuần” đã đăng một bài sấm sét, trong đó sau khi nói chung chung về những lời vu khống của “những Lão Đức” ông biên tập viên đã kết thúc bằng lời đảm bảo trịnh trọng, xem đây là “nguồn tin đáng tin cậy”, rằng đôi vú của cửa hàng bị vu khống nọ là vú thật.

Từ đó, sáng sáng Hans uống cà phê đen thay sữa, anh không lấy sữa của ông biên tập viên nữa, thay vào đó cô Neuman hàng ngày nhận cả hai suất. Ngoài ra cô đã bảo thợ may may cho cô một bộ váy liền áo sao cho chỗ ngực có thể khiến cho mọi người tin, Hans là kẻ vu khống.

Trước sự ranh ma của đàn bà Hans cảm thấy bất lực. Trong khi đó cô gái Đức ngày nào cũng vậy, từ lúc tinh mơ đã đứng trước cửa hàng cất giọng hát mỗi lúc một to:

- “Lão Đức, Lão Đức, La-Lão Đức, La-Lão Đức-ức!”

“Bây giờ ta có thể làm gì với con nhỏ này nhỉ? - Hans suy nghĩ, - ta có lúa mì trộn thuốc độc để bẫy chuột, ta cũng có thể đầu độc gà của cô ta chứ? Mà không! Người ta sẽ bắt mình phải đền mất! Mà không, ta biết ta phải làm gì rồi”.

Và một buổi tối, cô Neuman rất ngạc nhiên khi nhìn thấy Hans ôm một bó cây hướng dương dại đem rải xuống lối đi chỗ phía dưới chấn song cửa sổ nhà hầm. “Lạ thật, hắn làm cái gì vậy? - cô nghĩ, - dứt khoát là cái gì đó để xỏ mình!” - Lúc này trời đã nhá nhem. Hans rải cây hướng dương theo hai vệt, ở giữa chừa lối đi vào cửa sổ nhà hầm, tiếp đó anh ta bẻ một vật gì đó phủ bao tải, quay lưng về phía cô Neuman, gỡ bao tải khỏi vật bí mật, lấy lá hướng dương phủ lại rồi anh ta đi lại chỗ tường rào viết lên tường chữ gì đó.

Máu tò mò của cô Neuman nổi lên.

“Hẳn là hắn viết gì đó về mình, - cô thầm nghĩ, - thôi hẵng cứ để cho thiên hạ đi ngủ hết đã, ta sẽ ra đó xem sao, dù có phải chết cũng cam.”

Làm xong việc Hans lên gác và tắt đèn ngay.

Lúc này cô Neuman nhanh nhảu khoác áo choàng ngủ vào người, đi hài vào đôi chân không tất rồi băng qua đường. Đến chỗ có rải cây hướng dương cô đi thẳng theo lối vào chỗ cửa sổ nhà hầm để đọc những dòng chữ trên tường. Bỗng mắt cô trợn ngược, nửa người cô ngã về phía sau, mồm kêu đau đớn: “Ái! Ái!”, - tiếp đó là những lời kêu cứu tuyệt vọng: “Cứu tôi với! Cứu tôi, cứu tôi với!”

Cửa sổ trên gác mở ra.

- Cái gì thế này, - giọng Hans nhẹ nhàng, - cái gì thế này?

- Lão Đức đểu cáng! - Cô thét to, - mày hãm hại bà, đồ chết tiệt! Ngày mai mày sẽ bị treo cổ. Cứu tôi với! Cứu tôi với!

- Tôi xuống ngay đây, - Hans bảo.

Một lát sau Hans xuất hiện, tay cầm ngọn nến. Anh ta thấy cô Neuman đang đứng sững người như bị đóng đinh vào đất. Hans tiến lại sát cô và cười:

- Cái gì thế này nhỉ? A, cô Neuman đấy à? Ha ha ha! Xin chào cô! Ha ha ha! Tôi đặt bẫy bẫy chồn mà lại bẫy được cô. Cô sang nhòm ngó gì nhà hầm của tôi hả? Tôi đã phải viết lên tường báo trước để đừng ai đến còn gì. Bây giờ cô cứ kêu lên; cứ để cho mọi người nghe thấy; cứ để cho mọi người chứng kiến, đêm hôm cô mò sang dòm ngó nhà hầm của Lão Đức. Lạy chúa! Cứ gào thét nữa đi, nhưng hãy cứ đứng đó cho đến tận sáng mai. Chúc cô ngủ ngon, chúc ngủ ngon!

Tình cảnh của cô Neuman thật khốn khổ. Kêu cứu chăng? Người ta nghe thấy: bẽ mặt! Không kêu cứu ư? Phải đứng suốt đêm trong bẫy, ngày mai lộ hết thì sao? Mà chân thì mỗi lúc càng thêm nhức nhối. Đầu cô choáng váng, sao trời quay cuồng, đảo lộn, mặt trăng hoà lẫn với bộ mặt hung ác của Hans… Cô ngất xỉu.

- Ông Hans! - Hans tự quát mình, - nếu mà cô ta chết, ngày mai người ta sẽ hành quyết ông mà không cần xét xử.

Hans rởn tóc gáy sợ hãi.

Gay go thật. Anh nhanh nhảu tìm khoá mở bẫy, song mở đâu có dễ, áo choàng ngủ của cô Neuman quá dài. Phải vén lên một ít và… mặc dầu căm ghét tột độ và sợ hãi, Hans không thể không đưa mắt ngưỡng mộ cặp đùi đẹp như cẩm thạch của người bạn gái hiện lên qua ánh trăng vàng.

Anh có thể thổ lộ với ai đó rằng, trong cái căm ghét của anh giờ đây có cả lòng thương. Anh nhanh tay mở bẫy, cô nàng vẫn không nhúc nhích, thế là anh đành bế cô lên tay và tức tốc đưa cô về nhà. Dọc đường anh lại thấy thương thưong. Lát sau Hans trở về nhà mình và suốt đêm đó anh không sao chợp mắt nổi.

Sáng hôm sau không thấy cô Neuman xuất hiện trước cửa hàng của mình để hát câu: “Lão Đức, Lão Đức-La-Lão Đức…” hay là cô xấu hổ, mà cũng có thể là cô đang lặng lẽ tìm cách trả thù.

Hoá ra cô đã tìm cách trả thù. Ngay chiều tối hôm đó, ông biên tập viên của “Tập san thứ bảy hàng tuần” đã gọi Hans ra đấm nhau và ngay phút đầu trận đấu ông đã cho ngay Hans một cú vào mắt. Bị dồn vào thế bí Hans liền đấm cho ông ta những cú như trời giáng, đến nỗi sau giây lát chống cự vô ích ông biên tập viên ngã gục, mồm kêu: “Thôi! Thôi!”

Chả biết bằng cách nào, vì Hans có nói cho ai đâu, cả thị trấn đã biết được chuyện tai nạn ctối hôm trước của cô Neuman. Sau trận đấm nhau với biên tập viên, lòng thương đối với người bạn gái đã biến khỏi trái tim của Hans và chỉ còn đọng lại lòng căm ghét.

Hans có linh tính, sắp tới thế nào cũng sẽ bị một cú bất ngờ từ một bàn tay căm tức. Các chủ hiệu tạp hoá thường treo trước cửa hàng của mình bảng thông báo các mặt hàng dưới tiêu đề Notice. Mặt khác, cũng cần phải biết rằng các cửa hiệu tạp hoá thường bán nước đá cho các quán rượu, không có thứ này thì không một người Mỹ nào chịu uống whisky hoặc bia. Và thế là Hans thấy bỗng dưng không ai đến mua nước đá ở cửa hiệu của anh nữa. Những cây nước đá cỡ bự mà anh phải chở về bằng xe lửa cất trong nhà hầm bị tan hết, phí tới mấy chục đôla. Tại sao? Cớ gì? Chuyện gì? Hans nhận thấy, những người thuộc phái của anh hàng ngày vẫn vào cửa hiệu của cô Neuman mua nước đá. Anh không tài nào hiểu nổi, thế nghĩa là thế nào, hơn nữa anh có cáu gắt với chủ quán nào đâu.

Anh quyết định phải làm sáng tỏ chuyện này.

- Tại sao ông không vào lấy nước đá ở chỗ tôi nữa? - Anh hỏi chủ quán Peters đang đi ngang qua nhà mình bằng thứ tiếng Anh bập bẹ.

- Vì anh có đâu.

- Sao lại không có?

- Tôi biết đâu đấy.

- Lạy chúa, tôi có nước đá đấy chứ.

- Thế thì sao lại thế này hả? - Chủ quán chỉ lên bảng thông báo treo trước nhà.

Hans nhìn, ức tím mặt. Trên bảng thông báo của anh kẻ nào đã bóc mất chữ “t” ở giữa từ “Notice”, thành ra “Notice” đổi thành “No ice”, tiếng Anh có nghĩa là: không có nước đá.

- Đểu giả đến thế là cùng! - Hans thét to, mặt tím bầm, lồng lộn nhảy sang cửa hàng của cô Neuman.

- Đây mới là thâm thuý! - Hans uất ức quát, - duyên cớ gì mà nhà cô lại móc mất một chữ ở giữa hả?

- Tôi móc cái gì của anh ở giữa nào? - Cô Neuman ngơ ngác hỏi.

- Tôi nói chữ “t”, tôi nói! Cô đã móc mất “t” của tôi! Lạy chúa! Dứt khoát là như vậy. Nhà cô phải đền tiền nước đá cho tôi. Lạy chúa! Lạy chúa!

Không kìm nổi máu nóng, Hans la hét hung dữ như kẻ bị quỷ ám trước mặt cô Neuman. Dân phố đổ xô đến.

- Cứu tôi với bà con ơi! - Cô Neuman hô hoán. - Lão Đức điên mất rồi! Hắn bảo tôi móc mất của hắn cái gì đó ở giữa, mà quả tình tôi có móc cái gì của hắn đâu. Tôi phải móc cái gì của hắn nào? Tôi chả móc cái gì cả! Ôi! Lạy chúa! Tôi có thể móc mắt hắn, nếu như tôi có thể, chỉ có thế thôi. Tôi là người đàn bà tội nghiệp, tôi đơn độc chỉ có một mình! Hắn sẽ giết tôi ở đây, hắn sẽ hãm hại tôi mất thôi!

Cô gào thét tới mức những giọt lệ oan trào ra tràn trề. Người Mỹ không hiểu chuyện gì, song người Mỹ chẳng thể dửng dưng trước nước mắt của phụ nữ, họ liền lôi cổ anh chàng Đức tống ra ngoài. Anh ta cố víu. Víu sao nổi! Người anh bị bắn ra như một viên đạn, anh băng qua đường, lao vào cửa nhà mình, ngã gục.

Một tuần sau đó, trên cửa hiệu của Hans thấy treo một tấm biển có tranh hoạ. Trên tấm biển vẽ một con khỉ mặc váy liền áo, có thắt lưng, yếm trắng, vai đeo lá chắn; nói tóm lại, trông giống hệt cô Neuman. Phía dưới có dòng chữ màu vàng to tướng: “Hiệu tạp hoá dưới con khỉ”.

Dân phố kéo đến xem. Những tiếng cười từ phía trước cửa đập vào tai cô Neuman. Cô bước ra ngoài, ngó nhìn, mặt tái xanh, song vẫn ráng bình tĩnh nói thật to:

- Hiệu tạp hoá dưới con khỉ à? Chẳng có gì là lạ cả, vì anh Kasche ở trên cửa hiệu. Ha!

Thực ra cú này làm nhức nhối tim cô. Ngay trưa hôm đó cô đã nghe thấy bọn học trò trên đường đi học về đến chỗ hai cửa hiệu, dừng lại trước tấm biển hô to:

- Ô! Đây là cô Neuman! Chào cô chủ hiệu Neuman!

Thật là chuyện quá quắt. Buổi tối trước khi ông biên tập viên đến chơi cô liền nói với ông ta:

- Con khỉ đó là em! Em biết là em, nhưng em sẽ không tha hắn đâu. Hắn sẽ phải gỡ đi và dùng lưỡi liếm sạch con khỉ này trước mặt em.

- Thế bây giờ cô định làm gì nào?

- Lát nữa em sẽ đến gặp ông thẩm phán.

- Sao lại lát nữa hả?

- Ngày mai vậy.

Sáng sớm hôm sau cô sang bảo Hans:

- Nghe đây, Lão Đức! Ta biết con khỉ đó là ta, nhưng ngươi hãy đi cùng ta tới gặp thẩm phán. Để xem ông ta phán xét chuyện này như thế nào.

- Tôi sẽ bảo là tôi có quyền vẽ bất kì cái gì tôi muốn lên cửa hàng của tôi.

- Lát nữa rồi sẽ thấy.

Cô Neuman trút nhẹ hơi thở.

- Do đâu mà cô lại biết con khỉ đó là cô hả?

- Lương tâm bảo tôi như vậy. Đi, đi ngay tức khắc tới gặp thẩm phán, bằng không ông cảnh sát trưởng sẽ cùm tay ngươi lại mà giải đi cho coi.

- Được, đây sẵn lòng đi. - Hans nói ra chiều nắm phần thắng.

Cả hai đóng cửa hiệu và cùng đi, dọc đường mỗi người tính nước cờ của mình. Mãi khi đến trước cổng nhà ông thẩm phán Dasonville họ mới sực nhớ ra, cả hai đều không đủ vốn tiếng Anh để trình bày sự việc. Làm thế nào bây giờ? Phải rồi, cảnh sát trưởng người Do Thái Ba Lan vừa biết tiếng Đức vừa biết tiếng Anh. Họ bèn đến nhờ ông cảnh sát trưởng.

Lúc này cảnh sát trưởng đang ngồi trên xe, chuẩn bị đi.

- Hai người cứ đến mà gặp Dasonville! Suốt mấy năm trời các người chỉ dùng độc một đôi giày! Tôi đi lấy gỗ bây giờ đây. Tạm biệt!

Và ông ta đi thẳng.

Hans đứng sấn sát cô gái.

- Cô em đành phải đợi đến ngày mai thôi. - Hans nhẹ nhàng nói.

- Tôi phải đợi ấy à? Tôi chết trước ngày mai mất thôi. Hay là anh gỡ con khỉ đi.

- Tôi chẳng gỡ đâu.

- Thế thì ngươi sẽ bị treo cổ! Ngươi sẽ bị treo cổ, Lão Đức! Mà khỏi cần cảnh sát trưởng. Đằng nào thì ông thẩm phán cũng hiểu hai bên muốn gì rồi.

- Vậy thì đi và không cần cảnh sát trưởng. - Người đàn ông nói.

Có điều cô Neuman đã lầm. Cả thị trấn chỉ có độc một thẩm phán, ông ta không hay biết chút gì về những vụ cãi nhau của họ cả. Ông già làm thứ thuốc leroa là có tội với chúa, vậy mà ông ta cứ đinh ninh rằng mình là đấng cứu thế.

Ông tiếp hai người như ông vẫn thường tiếp những người khác, chân tình và lịch thiệp:

- Đưa lưỡi xem nào, các con của ta! - Ông bảo. - Ta sẽ kê đơn ngay cho các con đây.

Cả hai khách dùng tay làm hiệu, họ đâu cần có thuốc. Cô Neuman lắp lại:

- Không phải cái này, không phải!

- Vậy thì cái gì?

Kẻ nói qua, người nói lại. Hans nói một thì cô nàng nói mười. Cuối cùng cô gái Đức nảy ra sáng kiến, cô chỉ vào tim mình và ra hiệu, anh Hans đã chọc thủng bằng bảy nhát gươm.

- Ta hiểu! Bây giờ thì ta hiểu rồi! - Đốc tờ nói.

Ông liền giở sổ ra ghi. Ông hỏi Hans: Bao nhiêu tuổi? - Ba mươi sáu. Hỏi cô gái - cô ta không nhớ chính xác lắm: Bẩm, có lẽ khoảng hai mươi lăm. - Được! Tên của hai anh chị? - Hans-Lora. - Được! Nghề nghiệp? - Cả hai bán tạp hoá. - Được. Tiếp đó, ông còn hỏi một số câu gì đó nữa. Cả hai đều không hiểu, nhưng lại trả lời “vâng”. Đốc tờ gật đầu. Mọi việc xong.

Ghi chép xong ông đứng dậy và thình lình khi cô Lora còn đang ngơ ngác thì ông tiến lại ôm ngang lưng và hôn cô.

Cô gái cho đây là điềm tốt và ra về tràn đầy hi vọng thắng cuộc.

Dọc đường cô nàng bảo Hans:

- Tôi sẽ cho anh biết tay!

- Cô em sẽ cho người khác biết! - Anh chàng Đức bình thản chống chế.

Sáng hôm sau cảnh sát trưởng đến trước hai cửa hàng. Hai đối thủ đều đang đứng trước cửa. Hans nhả khói khỏi tẩu, cô nàng hát:

- “Lão Đức, Lão Đức, La-Lão Đức, La-Lão Đức-ức!”

- Sao, bây giờ hai người có muốn đến nhà thẩm phán không nào? - Cảnh sát trưởng hỏi.

- Chúng tôi đã đến đó rồi.

- Và sao?

- Cảnh sát trưởng của em ơi! Ông Devis của em! - Cô gái gọi to, - ông đến đó khắc rõ. À, em cần một đôi giày đấy. Đến đó ông hãy nói với thẩm phán cho em một lời ủng hộ. Ông thấy đấy, em là một cô gái tội nghiệp, cô đơn…

Cảnh sát trưởng đi và sau mười lăm phút quay lại. Nhưng không hiểu tại sao dân chúng lại vây chặt quanh ông.

- Thế nào? Sao? - Cả hai cùng hỏi.

- Mọi sự đều tốt, hay! - Cảnh sát trưởng nói.

- Thế thẩm phán phán quyết thế nào?

- Việc gì ông ấy phải làm chuyện xấu nào. Ông ấy đã chấp thuận cho hai người được kết hôn rồi đó.

- Cho kết hôn???

- Phải chăng, đúng là hai người không xin kết hôn?

Như sét đánh ngang tai, thực ra cô Neuman không hoảng sợ tới mức như vậy. Hans trợn mắt, mồm há hốc, ngơ ngác nhìn cô Neuman, còn cô Neuman trợn mắt, mồm há hốc, ngơ ngác nhìn Hans. Cả hai đứng trơ như phỗng đá, không nhúc nhích. Rồi cả hai cùng kêu lên:

- Tôi phải làm vợ anh ta?

- Tôi phải làm chồng cô ta?

- Ép duyên! Ép duyên! Không bao giờ! Phải li dị ngay thôi! Tôi không muốn!

- Chết mất thôi! Ép duyên! Li dị, li dị, li dị thôi! Sao lại thế này?

- Hai bạn yêu quý của tôi ơi, - cảnh sát trưởng từ tốn nói, - kêu la ở đây phỏng giúp ích gì nào? Thẩm phán cho cưới, nhưng ông ấy không cho li dị đâu. Kêu la cái nỗi gì nào? Các bạn có phải là những nhà triệu phú ở San Francisco hay không mà dám li dị hả? Các bạn không biết li dị tốn kém như thế nào à? Này! Kêu la cái nỗi gì nào? Tôi có giày trẻ em rất đẹp nhé, tôi sẽ bán rẻ cho! Tạm biệt!

Nói đoạn, cảnh sát trưởng bỏ đi. Dân phố nãy giờ đứng cười cũng tản ra; chỉ còn lại cặp vợ chồng mới kết hôn.

- Chính cái lão người Pháp đó, - cô gái đã có chồng nói to, - lão đã chủ tâm làm chuyện đó đối với chúng ta, hai người Đức!

- Đúng thế, - Hans lặp lại.

- Nhưng đi li dị thôi!

- Tôi trước, vì cô đã móc mất chữ “t” của tôi ở giữa.

- Không! Tôi trước, vì anh đã bẫy tôi.

- Tôi đếch thích cô.

- Tôi ghét anh.

Hai người dứt ra về và đóng cửa hiệu. Suốt ngày hôm đó, cô nàng ngồi trong nhà, suy nghĩ miên man, anh chàng cũng vậy. Đêm xuống. Đêm yên tĩnh. Tuy vậy cả hai đều không ngủ được. Họ đặt lưng xuống, nhưng mắt không sao nhắm nổi. Anh chàng nghĩ: “Vợ mình đang ngủ đằng kia!”. Cô nàng: “Chồng mình đang ngủ đằng kia!” - Và trong trái tim của họ nảy sinh những tình cảm lạ lùng. Nỗi căm uất, bực tức, pha trộn với cảm giác cô đơn. Phần nữa, Hans còn suy nghĩ về con khỉ của mình trên cửa hàng. Sao lại giữ nó ở đấy khi bây giờ nó là bức tranh châm biếm vợ mình? Và cảm nhận mình đã làm một việc rất xấu nên anh sẽ xoá con khỉ này đi. Có điều, lại còn cái cô Neuman này nữa! Anh căm ghét cô ta cơ mà. Tại cô ta mà nước đá của anh đã bị tan hết. Chính anh đã bẫy được cô ta trong đêm trăng nọ. Trong óc anh lại hiện lên những dáng hình mà anh đã mục thị qua ánh trăng vàng. “Quả thực, cô ta là một nữ nhi khoẻ mạnh (anh nghĩ). Có điều cô ấy ghét mình và mình không thích cô ta”. Tình thế là như vậy! Lạy chúa! Mình đã lấy vợ rồi chăng? Và lấy ai? Lấy cô Neuman ấy à! Nhưng mà ở đây li dị tốn kém là vậy. Có bán cả cửa hiệu cũng không đủ!

- Ta là vợ của cái anh chàng Đức này, - cô Neuman tự lẩm bẩm với chính mình. - Mình chẳng còn là cô nữa rồi. Đó là mình muốn xưng: cô, song mình đã lấy chồng! Lấy ai? Lấy anh chàng Kasche đã bẫy mình. Đúng là… anh ấy ôm ngang lưng và nâng mình lên. Anh ấy khoẻ làm sao! Ôi! Anh ta tự ôm ngang lưng mình. Cái gì vậy nhỉ? Hình như có tiếng sột soạt đâu đây.

Chả có tiếng sột soạt nào cả, có điều cô Neuman bắt đầu sợ, dẫu rằng lâu nay cô có sợ bao giờ.

- Giá như bây giờ anh ấy dám… Lạy chúa!

Nhưng cô lại nói tiếp bằng một giọng, trong đó ngân lên một nỗi thất vọng lạ lùng.

- Nhưng mà anh ấy đâu có dám… Anh ấy…

Một cảm giác sợ hãi hết thảy bùng lên trong cô. “Với người phụ nữ cô đơn bao giờ chả vậy, - cô nghĩ tiếp, - giá như ở đây có một người đàn ông chắc sẽ an toàn hơn. Mình đã từng nghe về một số vụ tự vẫn ở vùng này (thực ra cô Neuman không hề nghe có các vụ tự vẫn). Tôi thề rằng, sẽ có lúc người ta giết tôi ở đây. Chà, cái anh chàng Kasche này, anh chàng Kasche này đã bịt đường của mình. Dẫu sao phải tính chuyện li dị thôi.

Cô suy nghĩ như vậy, nằm trằn trọc trên chiếc giường Mỹ rộng khổ và quả thực cô cảm thấy cô đơn hết nỗi. Bỗng cô lại chồm dậy. Lần này nỗi sợ hãi của cô có lí do thực sự. Trong đêm khuya thanh vắng, nghe rõ mồn một tiếng nện của búa đinh.

- Lạy chúa! - Cô thét lên, - có kẻ đang đột nhập vào cửa hàng của tôi.

Nói đoạn, cô nhảy ra khỏi giường và băng ra cửa sổ, sau khi quan sát cô liền trấn tĩnh lại. Qua ánh trăng nhìn thấy một chiếc thang, trên thang là dáng hình tròn trắng của Hans, người đang dùng búa tháo đinh, tay giữ chặt tấm biển có hình con khỉ.

Cô Neuman rón rén mở cửa sổ.

“Vậy là anh ta gỡ con khỉ: một cử chỉ tốt bụng từ phía anh ta!” - cô nghĩ. Và bỗng nhiên cô có cảm giác, một cái gì đó đang tan quanh trái tim mình.

Hans từ từ rút đinh ra. Miếng tôn rơi xuống đất kêu loảng xoảng: anh xuống thang, tháo khung, dùng đôi tay căng phồng nhiệt huyết quấn miếng tôn thành hình loa kèn rồi đi cất thang.

Cô nàng theo dõi anh chàng không chớp mắt. Đêm tĩnh mịch, ấm áp.

- Anh Hans - Bỗng cô trinh nữ thì thầm.

- Cô không ngủ à? - Hans thủ thỉ.

- Không! Chào anh!

- Chào cô.

- Anh đang làm gì vậy?

- Tôi gỡ con khỉ đi.

- Em đa tạ anh, anh Hans.

Giây lát im lặng.

- Anh Hans ơi! - Cô gái lại cất giọng thỏ thẻ.

- Gì, hả cô Lora?

- Chúng ta phải bàn chuyện li dị thôi.

- Phải đấy, cô Lora.

- Ngày mai được không?

- Ừ, mai.

Giây lát im lặng: trăng mỉm cười, chó ngừng sủa.

- Anh Hans ơi!

- Gì, hả cô Lora?

- Em cần giải quyết ngay tức khắc việc li dị này.

Giọng cô sầu não.

- Tôi cũng vậy, cô Lora ạ!

Giọng Hans buồn buồn.

- Vì, anh thấy đấy, không nên chậm trễ.

- Tốt nhất là đừng chậm trễ.

- Càng bàn nhanh càng tốt.

- Càng tốt, cô Lora.

- Vậy thì ta có thể bàn ngay…

- Nếu cô cho phép…

- Thế thì anh sang nhà em…

- Tôi về thay quần áo đã.

- Chả cần lễ nghi đâu.

Cửa dưới nhà mở ra, Hans khuất vào bóng đêm, sau chốc lát Hans đã có mặt tại căn phòng nhỏ, tĩnh mịch, ấm áp và ngăn nắp của cô nàng. Cô Lora bận bộ đồ ngủ trắng phau, lòng cô say đắm thực sự.

- Tôi nghe cô đây, - Hans nói bằng một giọng đàn ông nhát gừng.

- Nhưng, anh thấy không, em rất muốn li dị, nhưng… em sợ, mong sao người ngoài phố không nhìn thấy hai chúng ta.

- Mà chỗ cửa sổ tối lắm! - Hans nói.

- Vâng! Tối lắm! - Cô nàng đáp lại.

Lúc này cuộc họp bàn li dị bắt đầu, và khỏi cần kể tiếp.

Yên tĩnh trở lại với thị trấn Struck Oil.

 

➖➖➖

 

 

Việt Điện U Linh Tập - Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) - Lý Tế Xuyên

 2026-10-10 Việt Điện U Linh Tập Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) ...