2023-09-02
Chữ
Quốc ngữ
---
Lê
Văn Lợi tổng hợp từ Wikipedia & Internet
Nhân kỷ niệm 78 năm ngày Quốc khánh (2/9/1945
– 2/9/2023) - ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng
trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam – “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” trân trọng gửi
đến các thành viên BelUnion cùng gia đình, bạn bè thân hữu những lời chúc tốt đẹp
nhất, sức khỏe, hạnh phúc và an lành!
-
Nhân dịp này, “Tiểu thuyết chiều thứ
Bảy” biên soạn và trân trọng giới thiệu đến anh/chị bài viết với tựa đề “Chữ Quốc
ngữ”, thông tin được lấy từ nguồn Wikipedia và Internet.
Một
bản sao của tuyên ngôn Độc lập gốc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được đánh máy
bằng chữ Quốc ngữ.
-
Loài
người nổi bật giữa các loài động vật bởi sự phức hợp của các nền văn hóa, cấu
trúc xã hội và đặc biệt là khả năng giao tiếp. Nói đến khả năng giao tiếp là
nói đến ngôn ngữ, chữ viết. Đối với chúng ta, chữ Quốc ngữ đóng vai trò đặc biệt
quan trọng. Xin lấy thống kê mới nhất về ngôn ngữ được viết trên các trang web:
· Trong bảng thống kê “Usage statistics of
content languages for websites”
(Thống kê sử dụng ngôn ngữ nội dung cho các trang web) (thống kê ngày
16/08/2023) thì tiếng Việt đứng thứ 14 (sau tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng
Nga, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng
Ý, tiếng Ba Tư, tiếng Hà Lan, tiếng Ba Lan, tiếng Hoa).
· Căn cứ theo trang https://www.statista.com/, trong bảng thống kê “Languages most
frequently used for web content as of January 2023” (Các ngôn ngữ được sử dụng
thường xuyên nhất cho nội dung web tính đến tháng 1 năm 2023) thì tiếng Việt đứng
thứ 12.
Như
vậy, có thể nói rằng chữ viết tiếng Việt – chữ Quốc ngữ – đã được tích hợp vào
tiến trình phát triển chung của loài người và có một vị trí đáng trân trọng.
-
Nguồn
bài viết này được lấy chủ yếu từ trang Wikipedia Chữ Quốc ngữ, lược bỏ các phần đi sâu
về chi tiết kỹ thuật. Lý do cho việc lựa chọn này là thông tin từ trang
Wikipedia phần lớn đều nói rõ nguồn gốc từ các tài liệu đáng tin cậy, hoặc lấy
thông tin từ các tàng thư có uy tín trên thế giới.
-
Chú
ý: Khi đọc về nguồn gốc hình thành chữ Quốc ngữ, anh/chị
có thể ngạc nhiên vì trang này cho rằng giáo sĩ Francisco de Pina
(1585–1625) là người có công trong việc sáng tạo chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu, khác
với quan niệm cho rằng giáo sĩ Alexandre
de Rhodes là “ông tổ” của chữ Quốc ngữ. Việc thay đổi này có xuất
phát điểm từ nghiên cứu của GS. Roland Jacques - người Pháp, nguyên là trưởng
khoa Luật Công Giáo Đại học Saint-Paul của Ottawa (Canada). Năm 1998, Roland
Jacques cho đăng bài “Le
Portugal et la romanisation de la langue vietnamienne. Faut- il réécrire
l'histoire ?” (Bồ Đào Nha và quá trình Latinh hóa tiếng
Việt. Có nên viết lại lịch sử?). Bản tiếng Việt anh/chị có thể tham khảo ở
đây.
Năm 2007, NXB Khoa học Xã hội cho xuất bản bản dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những
người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học (cho đến 1650)”. Roland
Jacques không phủ nhận Alexandre de Rhodes nhưng một nhân vật quan trọng, có
vai trò quyết định tới công trình sáng tạo của Alexandre de Rhodes, là
Francisco de Pina, lại không hề được nhắc đến trong lịch sử (tại thời điểm bài
viết của ông). Trang Wikipedia Chữ Quốc ngữ có tham chiếu đến nghiên
cứu của Roland Jacques nhưng khá thận trọng.
Tham
khảo thêm:
①. Hội thảo khoa học “Dinh
trấn Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ” ngày 24/08/2016 do UBND tỉnh Quảng Nam phối hợp
với Bộ Khoa học và Công nghệ, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức được tác giả
Đình Tăng đăng
trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
②. Bài đăng nhiều kỳ trên
báo Tuổi trẻ điện tử: Nguồn gốc chữ quốc ngữ
của tác giả Trần Nhật Vy.
-:-
➖➖➖
Chữ Quốc ngữ
Nguồn: Wikipedia
Chữ
Quốc ngữ là một loại chữ viết tiếng Việt, được ghi bằng tập hợp các chữ cái
Latinh và dấu phụ được dùng cùng với các chữ cái đó. Chữ Quốc ngữ được tạo ra bởi
các tu sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha, Ý và Pháp, bằng việc cải tiến bảng chữ cái
Latinh và ghép âm dựa theo quy tắc chính tả của văn tự tiếng Bồ Đào Nha và một
chút tiếng Ý.
Tên gọi
Muộn
nhất là từ năm 1867 đã có người gọi chữ Latinh cho tiếng Việt là chữ quốc ngữ.
Trong năm này, Trương Vĩnh Ký xuất bản hai quyển sách về ngữ pháp. Quyển đầu là
sách tiếng An Nam viết bằng chữ quốc ngữ về ngữ pháp tiếng Pha Lang Sa (tiếng
Pháp) có tên gọi là Mẹo luật dạy học tiếng pha-lang-sa. Trong sách có
tên gọi chữ quốc ngự (ngự chứ không phải là ngữ) được dùng
để chỉ văn tự Latinh tiếng Việt. Quyển sách thứ hai là sách ngữ pháp tiếng An
Nam viết bằng tiếng Pha Lang Sa, có tên gọi là Abrégé de grammaire annamite
(Khái yếu ngữ pháp tiếng An Nam). Trong quyển sách tiếng Pha Lang Sa, chữ
Latinh tiếng Việt được gọi bằng tiếng Pha Lang Sa là l’alphabet européen
(bảng chữ cái châu Âu), les caractères latins (chữ Latinh). Trên Gia Định
báo số phát hành ngày 15 tháng 4 cùng năm, khi đề cập tới quyển sách ngữ pháp
tiếng An Nam viết bằng tiếng Pha Lang Sa của Trương Vĩnh Ký, tên gọi chữ quốc
ngữ đã được sử dụng để chỉ chữ Latinh cho tiếng Việt.
Lịch sử
Hình thành
Chữ
Quốc ngữ được hình thành bởi các tu sĩ Dòng Tên trong quá trình truyền đạo Công
giáo tại Việt Nam đầu thế kỷ 17 dưới quy chế bảo trợ của Bồ Đào Nha. Francisco
de Pina là nhà truyền giáo đầu tiên thông thạo tiếng Việt,
ông đã bắt đầu xây dựng phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh. Giáo
sĩ Alexandre de Rhodes là người có công
hệ thống hóa và định chế hóa chữ quốc ngữ qua cuốn từ điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum
in năm 1651 tại Roma. Ông cho biết mình đã biên soạn cuốn từ điển này dựa trên
hai từ điển (nay đã thất truyền) của Gaspar
do Amaral và Antonio
Barbosa. Các nhà truyền giáo khác đóng góp trong lịch sử sơ
khởi của chữ Quốc ngữ có thể kể đến Francesco
Buzomi, Christoforo
Borri, Girolamo Maiorica,
và Antonio de Fontes.
Theo
soạn giả Alexandre de Rhodes, ông mượn dấu sắc, huyền, ngã từ tiếng Cổ Hy Lạp
mà vẫn không đủ nên phải thêm iota subscriptum (dấu nặng) và dấu hỏi để
biểu lộ thanh giọng của tiếng Việt. So sánh ký tự thì âm nh, ch theo tiếng Bồ
Đào Nha; gi theo tiếng Ý; còn ph theo tiếng Cổ Hy Lạp. Dấu lưỡi câu ◌᷄ được
dùng để thể hiện phụ âm cuối mũi hóa.
Các
văn bản thời kỳ này là tài liệu ghi chép quan trọng về cách phát âm của tiếng
Việt trung đại. Bên cạnh mục đích thực tiễn là để các nhà truyền giáo học tiếng
Việt thuận lợi hơn, chữ Quốc ngữ còn giúp một vài giáo hữu Việt Nam thông qua mẫu
tự Latinh làm quen với tiếng Latinh, ngôn ngữ hoàn vũ của Giáo hội Công giáo.
Linh
mục Giovanni
Filippo de Marini chép lại biên bản hội nghị năm 1645 về mô
thức rửa tội có ghi: "Tau rữa mầï nhân danh Cha, uà Con, uà Spirito
Santo. Taü lấÿ tên Chuá, tốt tên, tốt danh, tốt tiẽng..."
Chỉnh lý
Cuối
thế kỷ 18 tại Đàng Trong diễn ra cuộc chỉnh lý khiến chữ Quốc ngữ hầu như giống
với ngày nay. Các giáo hữu Đàng Trong đã biên soạn từ điển chữ Quốc ngữ, dưới sự
điều phối của Giám mục Bá
Đa Lộc Bỉ Nhu (Pierre Pigneau de Behaine). Căn cứ vào bản
thảo này, giáo sĩ Jean-Louis Taberd
đã biên tập và cho xuất bản năm 1838.
Cuốn
tự điển của Bá Đa Lộc được soạn quãng năm 1772–1773 có tên Dictionarium
Anamatico-Latinum mới chỉ là bản viết tay (nay còn giữ ở Văn khố Hội Truyền
giáo Paris) chứ chưa được in ra. Trong khi đó tự điển của Taberd mang tên Nam
Việt–Dương Hiệp Tự vị (tựa Latinh giống với tựa cuốn của
Bá Đa Lộc) được in ở Serampore, Ấn Độ. Nó phản ảnh một biến chuyển quan trọng của
tiếng Việt trong khoảng thế kỷ XVIII và XIX. So sánh tự điển của Taberd và De
Rhodes thì âm "ꞗ" (ȸ) biến mất, thay thế bằng âm "v" hoặc
"b". Những âm "bl", "ml", "pl",
"sl", và "tl" cũng biến mất, thay thế bằng "tr",
"nh", "l", "s". Lưu ý một số cách viết chính tả
cũ vẫn còn gặp ở các văn bản của João
de Loureiro đương thời tại Đàng Trong và của
Philipphê Bỉnh tại Lisboa vào đầu thế kỷ 19.
Cuốn
tự điển có phần phụ lục tựa là "Lời Chúa Tàu và Người Annam vấn đáp cùng
nhau" (Dialogus Inter Unum Navis Praevectum et Unum Cocincinensem),
trong đó có đoạn như sau:
- Ông đi viếng Quan lớn thì được song thói
nước nầy chẳng cho phép thăm đờn bà.
- Tôi cam lòng chìu theo quốc pháp, tôi chẳng
có ý làm đều gì nghịch cùng thói phép đất nầy, có tục ngữ rằng: nhập giang tùy
khúc nhập gia tùy tục.
Như
vậy, dạng chính tả của chữ Quốc ngữ ở lần chỉnh lý này với cách viết không khác
mấy thời nay là bước chuẩn hóa chính cuối cùng, các phương án sửa đổi chính tả
sau này đều không phổ biến được. Trong hơn 200 năm, Công giáo tại Việt Nam tuy
lưu hành chữ Quốc ngữ nhưng vẫn sử dụng chữ Nôm là chủ yếu.
Địa vị chính thức
Do
sự thống trị của Hán học ở Việt Nam, chữ Quốc ngữ trên chặng đường hơn 300 năm
hình thành và phát triển nhưng chưa đủ phổ biến để coi là văn tự chính thức. Chữ
Nôm và chữ Hán vẫn là dạng văn tự chính của tiếng Việt trong mấy trăm năm qua,
đang được mọi người trong xã hội sử dụng phổ biến nên không có lý do gì phải bị
thay thế. Phải cho tới khi người Pháp xâm lăng, chiếm Nam Kỳ vào cuối thế kỷ
XIX, thì tên gọi và vị trí "chữ Quốc ngữ" của chữ Latinh cho tiếng Việt
mới được xác lập, lúc đó chữ Quốc ngữ mới được bảo hộ để phổ biến, nhằm khiến
tiếng Việt đồng văn tự Latinh với tiếng Pháp, giúp phổ biến tiếng Pháp và văn
hoá Pháp ở Việt Nam. Ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector
Ohier ký nghị định "bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán"
trong các công văn ở Nam Kỳ.
Nghị
định 82 ký ngày 6 tháng 4 năm 1878 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký cũng đề ra mốc
hẹn trong bốn năm (tức năm 1882) thì phải chuyển hẳn sang chữ Quốc ngữ:
Kể từ mồng một
Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh,
án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ quốc ngữ; nhân viên nào
không thể viết thơ từ bằng chữ quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng
trong ngạch phủ, huyện và tổng...
Ngày
1 Tháng Giêng năm 1879 thì lại có lệnh khẳng định các văn kiện chính thức phải
dùng chữ Quốc ngữ. Cũng năm đó chính quyền Pháp đưa chữ Quốc ngữ vào ngành giáo
dục, bắt đầu ở các thôn xã Nam Kỳ phải dạy lối chữ này. Để khuyến khích việc
truyền bá chữ Quốc ngữ, nhà chức trách thuộc địa Nam Kỳ còn ra nghị định ngày
14 Tháng 6 năm 1880 giảm hoặc miễn thuế thân và miễn sưu dịch cho thân hào
hương lý nếu họ biết viết chữ Quốc ngữ.
Gia
Định Báo, một tờ báo do Trương
Vĩnh Ký làm chủ biên phát hành, là tờ báo đầu tiên viết bằng
chữ Quốc ngữ ra mắt năm 1865; so với ngày nay thì câu văn đã thêm phần mạch lạc,
chính tả không mấy khác biệt. Ví dụ như bản thông báo ngày 22 tháng 12 năm 1888
sau đây:
Sở Thuế Chánh Ngạch.
Các người thiếu thuế... đặng hay: các sổ phụ trong tháng Octobre 1888 thuế đất,
thuế sanh ý, thuế ghe biển, thuế ghe sông, cùng thuế thân đã lập theo phép để
trong tay quan Kho Bạc Sài Gòn và Chợ Lớn hay về việc thâu thuế. Bởi đó sức cho
các người ấy phải y theo hạn trong luật dạy mà đóng các món thuế biên trong sổ ấy,
bằng không thì phải cứ phép mà bắt buộc...
Nửa đầu thế kỷ XX
Sang
thế kỷ XX thì chính phủ Đông
Pháp
mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ
từ năm 1910. Thượng thư bộ Học là Cao
Xuân Dục có công văn trả lời Toàn quyền Đông Dương với ý tán đồng:
... cả nước cùng học
chữ Quốc ngữ Latinh, tuyển chọn các vị cử nhân, tú tài, tôn sinh, ấm sinh người
bản quốc sung làm giáo sư và thành lập viện dịch chữ Quốc ngữ... Nay vâng mệnh
Hoàng đế bản quốc lập ra trường chuyên dạy thứ chữ này chính là muốn thống nhất
một lối dùng làm thứ chữ dạy học phổ thông.
Năm
1915 thì kỳ thi Hương cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ mặc cho sự chống đối của giới
sĩ phu. Ở Trung Kỳ thì đạo dụ của vua Khải Định ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu
Ngọ (tức ngày 28 tháng 12 năm 1918) chính thức bãi bỏ khoa cử và năm 1919 là
năm cuối mở khoa thi ở Huế. Chữ Quốc ngữ từ đó trở thành văn tự diễn đạt phổ biến
ở Việt Nam, trong khi đó người Việt đang dần "mù chữ" với Chữ Hán và
chữ Nôm, hai dạng văn tự này trở nên ít được sử dụng.
Trong
khi đó cũng có thành phần theo Nho học nhưng hiểu được ưu điểm dễ viết dễ đọc của
chữ Quốc ngữ và cổ động việc thâu nhận chữ Quốc ngữ như là một cách nâng cao
trình độ kiến thức đại chúng, canh tân xã hội, thức tỉnh tinh thần yêu nước và
huy động động lực phản kháng của người Việt trước quyền lực của thực dân Pháp.
Trong đó có nhóm Đông
Kinh Nghĩa Thục. Việc theo học chữ Quốc ngữ theo đó thì
không chỉ là phương tiện đọc và viết mà còn hàm ý vận động chính trị và vận mệnh
dân tộc.
Chữ
Quốc ngữ qua những tác phẩm biên khảo, phóng sự, bình luận, du ký của những Nam
Phong Tạp chí, Đông
Dương Tạp chí, cùng một loạt tiểu thuyết và thơ mới của
nhóm Tự lực Văn đoàn với tư tưởng mới, phong cách mới cũng và nhiều tác giả
khác giúp ưu điểm dễ viết dễ đọc của chữ Quốc ngữ được thể hiện.
Từ giữa thế kỷ XX
Nửa
cuối thế kỷ XX diễn ra các chỉnh sửa chữ Quốc ngữ, trong đó có sửa đổi chữ viết
liên quan đến các cuộc cải cách giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam thực hiện. Do
lúc này có hơn 4 triệu người Việt ở nước ngoài, cùng với những hay dở của cải
cách giáo dục trong nước, dẫn đến quan niệm và sử dụng chữ Quốc ngữ có sự khác
nhau nhất định, tùy theo từng người được thụ hưởng nền giáo dục nào.
1. Từ những năm 1950 tại miền Bắc, chữ Quốc ngữ được
giản lược bằng cách bỏ dấu gạch nối giữa từ ghép và tên riêng, ví dụ: tự-do
thành tự do, Họ-Văn-Tên thành Họ Văn Tên. Tuy nhiên điều đặc biệt là năm 1973
khi xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, thì lại có yêu cầu có dùng gạch
nối trong dòng tên ở mặt chính là Hồ-Chí-Minh.
2. Những người không thụ hưởng cải cách giáo dục,
gồm những người ở nước ngoài hoặc đã học phổ thông trước cải cách giáo dục.
3. Thế hệ thụ hưởng cải cách giáo dục với tên chữ
"a bờ cờ" (đọc thêm âm).
4. Thế hệ thụ hưởng cải cách giáo dục thứ hai với
tên chữ "a bê xê" (đọc theo tên tiếng Pháp).
Nguồn gốc một số chữ cái chữ quốc ngữ
ă:
Vay mượn từ tiếng Latinh. Trong tiếng Latinh dấu âm ngắn (˘) được thêm vào phía
trên các chữ cái nguyên âm để biểu thị nguyên âm ngắn, "ă" biểu thị
nguyên âm ngắn /a/. Nguyên âm ngắn và nguyên âm dài có cách phát âm giống nhau
nhưng thời gian phát âm của nguyên âm dài dài hơn nguyên âm ngắn. "Ă"
không được coi là một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Latinh. Chữ quốc ngữ
dùng chữ "ă" để biểu thị nguyên âm ngắn /a/ khi có sự phân biệt về độ
dài của nguyên âm /a/. Ví dụ: [kan] và [kaːn]) được lần lượt ghi lại bằng chữ
quốc ngữ là "căn" và "can".
â:
Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha "â" biểu thị
nguyên âm /ɐ/ và /ɐ̃/. Hai nguyên âm /ɐ/ và /ɐ̃/ trong tiếng Bồ Đào Nha là
nguyên âm đọc mạnh, dấu mũ (ˆ) phía trên chữ a biểu thị độ cao của chúng.
"Â" không được coi là một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Bồ Đào
Nha. Chữ quốc ngữ dùng chữ "â" để biểu thị nguyên âm ngắn /ə/ khi có
sự phân biệt về độ dài của nguyên âm /ə/, dấu mũ (ˆ) phía trên chữ a biểu thị
đây là nguyên âm dài. Nguyên âm ngắn và nguyên âm dài có cách phát âm giống
nhau nhưng thời gian phát âm của nguyên âm dài dài hơn nguyên âm ngắn. Ví dụ:
[kən] và [kəːn]) lần lượt được ghi bằng chữ quốc ngữ là "cân" và
"cơn".
c:
Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha chữ "c" khi đứng
trước "a", "o", "u" sẽ biểu thị phụ âm /k/, khi đứng
trước "e", "i" sẽ biểu thị phụ âm /s/. Chữ quốc ngữ dùng chữ
"c" để biểu thị phụ âm /k/. Vì trong tiếng Bồ Đào Nha chữ
"c" khi đứng trước "e", "i" sẽ biểu thị phụ âm
/s/ nên để tránh cho những người biết tiếng biết Bồ Đào Nha khỏi đọc sai, trong
chữ quốc ngữ phụ âm đầu /k/ được ghi lại bằng chữ "c" khi sau nó là
nguyên âm "a", "ă", "â", "o",
"ô", "ơ", "u", "ư", ghi bằng chữ
"k" nếu sau nó là nguyên âm "e", "ê",
"i". Ví dụ: /kɛɔ/ được ghi lại bằng chữ quốc ngữ là "keo",
không được viết là "ceo".
ch:
Vay mượn từ tiếng Bắc Bồ Đào Nha. Dựa theo thống kê hiện đại, trong tiếng Bắc Bồ
Đào Nha thuộc huyện Guarda, miền Beira Alta, nơi Francisco de Pina đã trưởng
thành, rất có khả năng chữ cái ghép đôi "ch" biểu thị bằng âm vị /ʧ/.
Chữ quốc ngữ đã mượn chữ cái ghép đôi "ch" với âm vị /ʧ/ của tiếng Bắc
Bồ Đào Nha để ghi một âm vị trong tiếng Việt [c]. Phương ngữ miền Nam có sự lẫn
lộn "CH" thành "T" cho phụ âm cuối.
d:
Trong hầu hết các hệ thống chữ viết dựa trên chữ Latinh chữ "d" thường
dùng để ghi lại phụ âm /d/ hoặc /d̪/ nhưng vì trong tiếng Việt trung đại (và cả
tiếng Việt hiện đại) không có hai phụ âm này nên chữ "d" được dùng để
ghi lại một phụ âm trong tiếng Việt trung đại có cách phát âm gần giống là /ð/.
Phụ âm /ð/ không còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại, nó đã biến đổi thành phụ
âm /z/ trong phương ngữ Bắc và phụ âm /j/ trong phương ngữ Nam.
đ:
Chữ này được tạo thành bằng cách thêm một nét gạch ngang ngắn vào chữ
"d" để ghi lại phụ âm /ɗ/, ý là cách phát âm của phụ âm /ɗ/ có phần
giống với phụ âm /d/ và /t/.
ê:
Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha "ê" biểu thị
nguyên âm /e/ và nguyên âm đôi /əj/. Nguyên âm /e/ trong tiếng Bồ Đào Nha là
nguyên âm đọc nặng, dấu mũ (ˆ) phía trên chữ e biểu thị độ cao của nó.
"Ê" không được coi là một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Bồ Đào
Nha. Chữ quốc ngữ dùng chữ "ê" để biểu thị nguyên âm /e/ và /ə/
(trong nguyên âm đôi "iê" /iə/).
g:
Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha chữ cái "g" khi
đứng trước "a", "o", "u" sẽ biểu thị phụ âm /ɡ/,
khi đứng trước "e", "i" sẽ biểu thị phụ âm /ʒ/. Chữ quốc ngữ
mượn chữ cái "g" của tiếng Bồ Đào Nha để ghi lại một phụ âm trong tiếng
Việt có cách phát âm gần giống với /ɡ/ là /ɣ/. Vì trong tiếng Bồ Đào Nha chữ
cái "g" khi đứng trước "e", "i" sẽ biểu thị phụ
âm /ʒ/ nên để tránh cho người biết tiếng Bồ Đào Nha khỏi đọc sai chữ quốc ngữ
chữ ghép đôi "gh" mượn từ tiếng Ý để ghi lại /ɣ/ khi sau nó là nguyên
âm "e", "ê", "i". Ví dụ: /ɣo/, /ɣe/ lần lượt được
ghi bằng chữ quốc ngữ ghi là "gỗ", "ghế", không viết là
"ghỗ", "gế".
gh:
Vay mượn từ tiếng Ý. Trong tiếng Ý chữ cái "g" biểu thị phụ âm /ɡ/
khi đứng trước "a", "o", "u", biểu thị phụ âm /d͡ʒ/
khi đứng trước "e", "i". Phụ âm /ɡ/ khi đi với nguyên âm
"e", "i" sẽ được ghi lại bằng "gh". Chữ quốc ngữ
mượn chữ "g" của tiếng Bồ Đào Nha để ghi lại phụ âm /ɣ/ của tiếng Việt.
Trong tiếng Bồ Đào Nha cũng có hiện tượng "g" khi đứng trước
"e", "i" đọc khác với "g" đứng trước
"a", "o", "u". Để tránh cho những người biết tiếng
Bồ Đào Nha và tiếng Ý khỏi đọc sai, trong chữ quốc ngữ phụ âm /ɣ/ sẽ được ghi lại
bằng chữ ghép đôi "gh" mượn từ tiếng Ý khi sau nó là nguyên âm
"e", "ê", "i". Ví dụ: /ɣe/, /ɣo/ lần lượt được
ghi bằng chữ quốc ngữ ghi là "ghế" "gỗ", không viết là
"gế", "ghỗ".
gi:
Vay mượn từ tiếng Ý. Trong tiếng Ý chữ cái "g" biểu thị phụ âm /ɡ/
khi đứng trước "a", "o", "u", biểu thị phụ âm /d͡ʒ/
khi đứng trước "e", "i". Khi sau "g" là
"i", sau "i" là "a", "o", "u"
thì "i" không ghi lại âm vị nào, nó chỉ đóng vai trò là một chỉ báo về
cách phát âm của chữ "g" đứng trước nó, cho biết rằng chữ
"g" ở đây biểu thị phụ âm /d͡ʒ/ chứ không phải là /ɡ/. Vì phụ âm /ʝ/
của tiếng Việt trung đại có cách phát âm gần giống với phụ âm /d͡ʒ/ của tiếng Ý
nên chữ quốc ngữ đã mượn "gi" của tiếng Ý để ghi lại phụ âm /ʝ/ và âm
tiết /ʝi/ của tiếng Việt trung đại. Trong phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam của
tiếng Việt hiện đại phụ âm /ʝ/ không còn tồn tại, nó đã biến đổi thành phụ âm
/z/ trong phương ngữ Bắc và phụ âm /j/ trong phương ngữ Nam. Ngày nay,
"dàn" và "giàn", "dì" và "gì" trong hai
phương ngữ Bắc và Nam là đồng âm.
i:
Không rõ từ đâu trong phương ngữ miền Nam, nếu ghép với một phụ âm cuối thì đa
số đọc thành "Ư" ngoại trừ "M". Thí dụ: Inh/ưn,it/ưt,ích/ứt.
k:
Vay mượn từ tiếng Hy Lạp. Trong tiếng Hy Lạp chữ cái "k" biểu thị phụ
âm /k/. Trong chữ quốc ngữ phụ âm đầu /k/ được ghi lại bằng chữ "k"
khi sau nó là nguyên âm "e" /ɛ/, "ê" /e/, "i/y" /ɛ/,
ghi bằng chữ "c" khi sau nó là nguyên âm "a",
"ă", "â", "o", "ô", "ơ",
"u", "ư". Mục đích là để tránh cho những người biết tiếng Bồ
Đào Nha khỏi đọc sai vì trong tiếng Bồ Đào Nha chữ "c" khi đứng trước
ba chữ "e", "i", "y" sẽ biểu thị phụ âm /s/, chứ
không phải là phụ âm /k/.
kh:
Bắt nguồn từ cách chuyển tự các phụ âm bật hơi của tiếng Hy Lạp cổ đại sang chữ
Latinh. Các phụ âm bật hơi trong tiếng Hy Lạp cổ đại được chuyển tự sang chữ
Latinh bằng cách lấy một chữ cái biểu thị một phụ âm có cách phát âm tương tự với
phụ âm cần chuyển tự nhưng không bật hơi rồi thêm chữ "h" vào phía
sau. Phụ âm bật hơi /kʰ/ của tiếng Hy Lạp cổ đại (trong tiếng Hy Lạp được ghi bằng
chữ "χ") được chuyển tự sang tiếng Latinh thành "ch". Tiếng
Việt trung đại cũng có phụ âm /kʰ/. Chữ quốc ngữ đã phỏng theo cách thức chuyển
tự trên để ghi lại phụ âm /kʰ/ của tiếng Việt trung đại bằng chữ cái ghép đôi
"kh" (chữ cái ghép đôi "ch" đã dùng để ghi lại một phụ âm
khác của tiếng Việt). Trong tiếng Việt hiện đại phụ âm /kʰ/ không còn tồn tại
trong phương ngữ Bắc, nó đã biến đổi thành phụ âm /x/, phương ngữ Nam thì vẫn
còn phụ âm này.
nh:
Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha và quốc ngữ chữ cái ghép
đôi "nh" đều biểu thị phụ âm /ɲ/.
ô:
Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha chữ o với dấu mũ dấu mũ
(ˆ) "ô" biểu thị nguyên âm /o/. Nguyên âm /o/ trong tiếng Bồ Đào Nha
là nguyên âm đọc nặng, dấu mũ (ˆ) phía trên chữ o biểu thị độ cao của nó.
"Ô" không được coi là một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Bồ Đào
Nha. Chữ quốc ngữ cũng dùng chữ "ô" đề biểu thị nguyên âm /o/ giống
như trong tiếng Bồ Đào Nha.
ph:
Bắt nguồn từ cách chuyển tự các phụ âm bật hơi của tiếng Hy Lạp cổ đại sang chữ
Latinh. Các phụ âm bật hơi trong tiếng Hy Lạp cổ đại được chuyển tự sang chữ
Latinh bằng cách lấy một chữ cái biểu thị một phụ âm có cách phát âm tương tự với
phụ âm cần chuyển tự nhưng không bật hơi rồi thêm chữ "h" vào phía
sau. Phụ âm bật hơi /pʰ/ của tiếng Hy Lạp cổ đại (trong tiếng Hy Lạp được ghi bằng
chữ "φ") được chuyển tự sang tiếng Latinh thành "ph". Tiếng
Việt trung đại cũng có phụ âm /pʰ/ nên chữ quốc ngữ đã mượn chữ cái ghép đôi
"ph" để ghi lại /pʰ/ của tiếng Việt trung đại. Phụ âm /pʰ/ không còn
tồn tại trong tiếng Việt hiện đại, nó đã biến đổi thành phụ âm /f/.
s:
Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Đa số phát âm "S" thành "X".
th:
Bắt nguồn từ cách chuyển tự các phụ âm bật hơi của tiếng Hy Lạp cổ đại sang chữ
Latinh. Các phụ âm bật hơi trong tiếng Hy Lạp cổ đại được chuyển tự sang chữ
Latinh bằng cách lấy một chữ cái biểu thị một phụ âm có cách phát âm tương tự với
phụ âm cần chuyển tự nhưng không bật hơi rồi thêm chữ "h" vào phía
sau. Phụ âm bật hơi /tʰ/ của tiếng Hy Lạp cổ đại (trong tiếng Hy Lạp được ghi bằng
chữ "τ") được chuyển tự sang tiếng Latinh thành "th". Tiếng
Việt cũng có phụ âm /tʰ/ nên chữ quốc ngữ đã mượn chữ cái ghép đôi
"th" để ghi lại phụ âm /tʰ/ của tiếng Việt.Người Thủ Dầu Một xưa kia
đa số phát âm sai "TH" thành "KH".
x:
Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha chữ cái "x" khi
đứng đầu từ luôn biểu thị phụ âm /ʃ/. Chữ quốc ngữ dùng chữ "x" để
ghi lại một phụ âm của tiếng Việt trung đại có cách phát âm gần giống với phụ
âm /ʃ/ là /ɕ/. Phụ âm /ɕ/ không còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại, nó đã biến
đổi thành phụ âm /s/.
Vị thế pháp lý của chữ Quốc ngữ
Tuy
bộ chữ Latinh cho tiếng Việt thường được gọi là "chữ Quốc ngữ", nó chỉ
được xem như là một bộ chữ viết phổ thông thường dùng trên thực tế cho tiếng Việt
hiện nay. Không có bất kỳ văn bản pháp lý nào ở cấp nhà nước quy định hay công
nhận chữ Latinh là "Quốc tự" (chữ viết quốc gia) hay "văn tự
chính thức". Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013,
chương I điều 5 mục 3 ghi là "Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt", khẳng
định tiếng Việt là Quốc ngữ nhưng không đề cập tới "Quốc tự".
Ở
các văn bản thuộc lĩnh vực hành chính, tiếng Việt thường được viết bằng chữ Quốc
ngữ theo "Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt"
áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục, nêu tại Quyết
định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984. Ngoài lĩnh vực này,
không có quy định nào yêu cầu người Việt trong đời sống hiện nay chỉ được viết
tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ và cấm viết tiếng Việt bằng chữ Hán và chữ Nôm. Hiến
pháp chương I điều 5 mục 3 cũng ghi "Các dân tộc có quyền dùng tiếng
nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống
và văn hóa tốt đẹp của mình", nên nếu có bộ luật hay quy định nào đó
được đặt ra để cấm người Việt hiện tại viết tiếng Việt bằng chữ Hán và chữ Nôm
như người Việt xưa thì sẽ là một bộ luật vi hiến.
Dù
chữ Latinh cho tiếng Việt đã được tạo ra bởi các tu sĩ Dòng Tên của Bồ Đào Nha
và Ý vào thế kỷ XVII, nhưng sau 200 năm thì tiếng Việt vẫn được viết phổ biến bằng
chữ Hán và chữ Nôm. Chính quyền phong kiến cũng không có luật công nhận văn tự
chính thức, nên lúc đó vị thế của chữ Hán và chữ Nôm cũng chưa phải là Quốc tự.
Tuy vậy chữ Nôm khi đó cũng hay được gọi là "Quốc âm", "Quốc ngữ".
Người Việt cũng không có lý do gì để thay đổi chữ viết phổ biến, nên chữ Latinh
cho tiếng Việt khi đó thường được dùng trong phạm vi xung quanh những nhà truyền
giáo.
Phải
đến thời kỳ Pháp thuộc ở cuối thế kỷ XIX, sau sự xâm lược của Thực dân Pháp,
chính quyền Đông Dương ở Nam Kỳ đưa ra những quy định pháp lý bảo hộ chữ Latinh
cho tiếng Việt thay thế chữ Hán và chữ Nôm, để khiến tiếng Việt đồng văn tự với
tiếng Pháp cũng sử dụng chữ Latinh. Đồng thời chữ Latinh cho tiếng Việt cũng bắt
đầu được gọi là chữ Quốc ngữ. Sang thế kỷ XX, mở rộng chính sách dùng chữ Quốc
ngữ ra Bắc Kỳ. Từ đó tiếng Việt được viết phổ biến bằng chữ Latinh. Người Việt
cũng dần bị "mù chữ" đối với chữ Hán và chữ Nôm.
Theo
tư liệu trong "Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ
(25/5/1938)" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 25/5/2008, thì Hội ra
đời ngày 25/5/1938. Ngày 29/7/1938, Thống sứ Bắc Kỳ là người Pháp công nhận sự
hợp pháp của Hội, và Hội cho rằng đó là dấu mốc chắc chắn cho vị thế "chữ
Quốc ngữ" của chữ Latinh cho tiếng Việt. Việc cổ động cho học "chữ Quốc
ngữ" ở Việt Nam gắn với các phong trào cải cách trong giai đoạn 1890 -
1910 như Hội
Trí Tri, phong
trào Duy Tân, Đông
Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành, đã thừa
nhận và cổ vũ học "chữ Quốc ngữ", coi là phương tiện thuận lợi cho học
hành nâng cao dân trí.
Theo
Tiến sĩ Trần Trọng Dương, sắc lệnh số 20 do Võ Nguyên Giáp ký năm 1945 "có
quy định về việc sử dụng chữ Quốc ngữ và coi đó là chữ viết của nước
mình."
Hỗ trợ trên máy tính
Các
phông chữ Unicode
chứa các chữ cái tiếng Việt; nằm rải rác trong phần "Latin
Cơ bản", "Latin-1 Thêm",
"Latin
Mở rộng-A", "Latin Mở rộng-B",
và “Latin
Mở rộng Thêm”.
Chữ
quốc ngữ có thể được biểu thị trong ASCII dựa trên quy ước như VIQR. Trước khi
Unicode được dùng rộng rãi, các phông chữ TCVN3, VNI, và VISCII cũng đã được
dùng để biểu thị tiếng Việt. Ngày nay UTF-8
là mã hoá được dùng rộng rãi trên máy tính cho tiếng Việt.
Nhiều
bàn phím máy tính không hỗ trợ việc nhập trực tiếp các ký tự tiếng Việt. Điều
này dẫn đến sự ra đời của các phần mềm cho phép thực hiện các phương pháp nhập
ký tự tiếng Việt theo quy ước như Telex, VIQR hay VNI.
➖➖➖

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét