2023-09-30
Ngư
Ông và Biển Cả (1)
https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/28/ErnestHemingway.jpg
---
Ernest
Hemingway
(Giải
Nobel Văn học 1954)
Dịch giả: Phùng Khánh, Phùng Thăng
Nguyên bản tiếng Anh: The Old Man and the Sea
Nguồn: Project Gutenberg Canada ebook #948
Tham chiếu bản quyền: http://gutenberg.ca/links/licence.html
Lão
đã già, một mình một thuyền câu cá trên dòng Nhiệt lưu và đã tám mươi tư ngày
qua lão không bắt được lấy một mống cá nào. Bốn mươi ngày đầu thằng bé đi với
lão. Nhưng sau bốn mươi ngày không câu được cá, cha mẹ thằng bé bảo nó rằng rốt
cuộc bây giờ ông lão đã hoàn toàn salao, cách diễn đạt tệ nhất của vận rủi,
rồi buộc nó đi theo thuyền khác và ngay trong tuần lễ đầu tiên chiếc thuyền ấy
đã câu được ba con cá lớn. Điều đó khiến thằng bé buồn khi hằng ngày thấy ông
lão trở về với chiếc thuyền không, nó luôn xuống giúp lão mang khi thì cuộn
dây, cái lao móc săn cá, khi thì cái sào hay tấm buồm quấn quanh cột. Tấm buồm
được vá bằng bao bột, cuộn lại trông như một lá cờ bại trận triền miên. Ông lão
gầy gò, giơ cả xương, gáy hằn sâu nhiều nếp nhăn. Những vệt nám vô hại trên làn
da má của lão do bị ung thư bởi ánh mặt trời phản hồi trên mặt biển nhiệt đới.
Những vệt ấy kéo dài xuống cả hai bên má, tay lão hằn những vết sẹo sâu bởi kéo
những con cá lớn. Nhưng chẳng có vết nào trong số sẹo ấy còn mới cả. Chúng cũ kỹ
như mấy vệt xói mòn trên sa mạc không cá. Mọi thứ trên cơ thể lão đều toát lên
vẻ già nua, trừ đôi mắt; chúng có cùng màu với nước biển, vui vẻ và không hề thất
bại.
“Ông
Santiago, thằng bé nói khi hai người leo lên bờ nơi con thuyền được kéo lên.
“Cháu
có thể lại đi cùng ông. Chúng ta đã có ít tiền rồi.
Ông
lão dạy thằng bé câu cá và nó quý lão.
“Đừng”,
lão nói.
“Cháu
đang đi với con thuyền may mắn. Hãy ở lại với họ”.
“Nhưng
ông còn nhớ có hồi suốt tám mươi bảy ngày ta không bắt được cá nhưng sau đó
trong ba tuần lễ ngày nào ta cũng vớ được cá lớn”.
“Ông
nhớ”, ông lão nói.
“Ông
biết cháu đã không rời bỏ ông vì thiếu lòng tin”.
“Tại
cha cháu bắt làm như thế. Cháu còn nhỏ, cháu phải nghe lời cha”.
"Ông
hiểu”, ông lão nói.
“Đấy
là chuyện thường”.
“Cha
cháu chẳng tin đâu”.
“Phải”,
ông lão nói.
“Nhưng
chúng ta tin, đúng không?”
“Vâng”,
thằng bé đáp.
“Cháu
có thể mời ông một cốc bia ở khách sạn Terrace trước khi chúng ta mang mấy thứ
này về nhà chứ?”
“Tại
sao lại không?”, ông lão nói. “Dân chài với nhau cả mà”.
Họ
ngồi ở Terrace và rất nhiều người đánh cá trêu ông lão nhưng lão không giận. Một
số khác, những ngư dân lớn tuổi hơn, nhìn lão và cảm thấy buồn. Nhưng họ không
để lộ ra mà chỉ từ tốn nói về dòng chảy, độ sâu buông câu, về thời tiết tốt, ổn
định và về những thứ họ đã nhìn thấy. Mấy tay đánh cá thành công của ngày ấy đã
trở về, xả thịt con cá kiếm của họ, sắp đầy lên hai tấm ván, mỗi người khiêng một
đầu đi xuyên đến nhà để cá, đợi chiếc xe tải ướp lạnh đưa đến chợ Havana. Những
người bắt được cá mập thì đưa chúng đến xưởng cá mập phía bên kia vịnh; chúng
được móc treo lên bằng ròng rọc, gan bị mổ lấy, vi bị cắt, da bị lột và thịt
thì được xẻ thành súc đưa ướp muối. Khi gió Đông thổi, mùi tanh nồng từ xưởng
cá mập bên kia cảng phả đến. Nhưng hôm nay, mùi cá chỉ thoang thoảng vì gió thổi
chếch sang hướng Bắc rồi lặng hẳn; trên Terrace trời tỏa nắng dễ chịu.
“Ông
Santiago”, thằng bé gọi.
“Ừ”,
ông lão đáp. Lão đang giữ cái lá và hồi tưởng về nhiều năm trước.
“Cháu
đi kiếm giúp ông mấy con cá mòi cho ngày mai nhé?”
“Đừng.
Đi chơi bóng chày đi. Ông vẫn có thể chèo và Rogelio sẽ quăng lưới”.
”Cháu
thích đi. Nếu cháu không được câu cá với ông thì cháu muốn giúp ông việc gì
đó”.
“Cháu
đã mua bia cho ông”, ông lão nói. “Cháu thực sự là đàn ông rồi”.
“Lần
đầu tiên ông đưa cháu ra khơi, cháu lên mấy?”
“Lên
năm, và suýt nữa cháu bị chết khi ông lôi con cá quá lớn lên thuyền, nó gần như
quật tan con thuyền ra nhiều mảnh. Cháu có còn nhớ không?”
“Cháu
vẫn nhớ cái đuôi quật mạnh; chỗ ngồi chèo thuyền bị gãy và tiếng nện của cái
chày. Cháu nhớ ông ném cháu ra đằng mũi thuyền, nơi lùng nhùng những sợi dây ướt
rồi cháu cảm thấy toàn bộ con thuyền chao đảo và tiếng ông quật con cá nghe như
thể đang đốn cây, máu nóng hổi bắn cả lên người cháu”.
“Có
phải cháu thực sự nhớ chuyện ấy hay là do ông kể?”
“Cháu
nhớ mọi thứ kể từ cái lần đầu tiên ông cháu ta đi cùng nhau”. Ông lão nhìn thằng
bé bằng ánh mắt chan chứa tình thương, tin cậy, ấm áp của mình.
“Nếu
cháu là con ta thì ta sẽ đưa cháu đi cầu may một phen”, lão nói. “Nhưng cháu là
con của cha mẹ cháu và cháu đang đi trên con thuyền may mắn”.
“Cháu
có thể đi kiếm cá mòi chứ? Cháu còn biết nơi cháu có thể kiếm được bốn con mồi”.
“Hôm
nay ông vẫn còn mấy con. Ông đã muối chúng trong thùng”.
“Để
cháu đi kiếm bốn con tươi”.
“Một
thôi”, ông lão nói. Niềm hy vọng và lòng tin của ông lão chưa bao giờ nguội lạnh.
Còn bây giờ thì chúng đang cuộn lên như khi gió đang nổi.
“Hai”,
thằng bé nói.
“Hai”,
ông lão đồng ý.
“Cháu
không ăn cắp đấy chứ?”
“Cháu
không”, thằng bé đáp. “Cháu mua”.
“Cảm
ơn cháu”, ông lão nói. Lão quá giản dị để không tự hỏi tính nhún nhường của
mình có tự bao giờ. Nhưng lão biết lão đã có nó và lão biết nó chẳng có gì xấu
hổ và cũng chẳng mảy may phương hại đến niềm kiêu hãnh thực sự.
“Với
con nước này, mai sẽ là một ngày tốt lành”, lão nói.
“Ông
sẽ đến đâu”, thằng bé hỏi.
“Đi
thật xa, khi gió trở thì mới quay về. Ông muốn đến đấy trước khi trời sáng”.
“Cháu
sẽ tìm cách để ông ấy ra câu xa”, thằng bé nói.
“Rồi
khi ông câu được một con gì đấy thật sự lớn, cháu sẽ có thể đến giúp”.
“Ông
ấy không thích ra khơi xa đâu”.
“Vâng”,
thằng bé nói.
“Nhưng
cháu sẽ thấy cái gì đó, một con chim săn mồi chẳng hạn, mà ông ấy không thể thấy
rồi giục ông ta bám theo bầy cá dorado”.
“Mắt
ông ấy kém đến thế ư?”.
"Ông
ấy gần như mù”.
“Lạ
thật”, ông lão nói.
“Ông
ấy chưa bao giờ đi săn rùa. Đấy là lý do làm mắt kém thị lực”.
“Nhưng
ông đã nhiều năm đi săn rùa tận Mosquito Coast mà mắt ông vẫn còn tốt”.
“Ta
là một lão già kỳ lạ”.
“Nhưng
giờ đây ông có còn đủ sức để dành cho con cá thật lớn không?”
“Ông
chắc thế. Vả lại còn có nhiều mẹo nữa”.
“Chúng
ta hãy mang dụng cụ về nhà”, thằng bé nói.
“Rồi
cháu có thể mang lưới-quăng đi bắt cá mòi”. Họ tháo vật dụng khỏi thuyền. Ông
lão vác cột buồm, thằng bé mang thùng gỗ đựng dây, những sợi dây câu màu nâu được
bện thật chắc, cái móc, ngọn lao với cán của nó. Thùng đựng mồi để ở đuôi thuyền,
bên cạnh cái chày được dùng để quật những con cá lớn khi bị kéo lên khoang.
Chẳng
ai ăn trộm đồ đạc của ông lão, nhưng tốt hơn thì cứ đưa cánh buồm, cuộn dây nặng
vào nhà bởi sương có thể làm chúng hỏng và dẫu cho lão có hoàn toàn tin chắc là
chẳng có người địa phương nào ăn cắp của lão thì lão vẫn nghĩ cái móc và ngọn
lao hẳn có sức cám dỗ khi để trên thuyền. Họ cùng đi bộ trên con đường đến lều
ông lão rồi bước vào qua cánh cửa để ngỏ. Ông lão dựng cột buồm với lá buồm quấn
quanh vào vách, thằng bé đặt cái thùng gỗ và mấy thứ khác bên cạnh. Cột buồm
cao gần bằng chiều cao của căn lều một buồng. Vách lều được ghép bằng thân loài
cọ xù xì có tên gọi là guano; trong lều có một cái giường, một cái bàn,
một cái ghế và một cái bếp trên nền đất để nấu bằng than củi. Trên bức tường
màu nâu của những thân cọ guano đập giập với mấy chiếc lá cứng queo của
chúng chồng lên nhau, là hai bức ảnh màu của Đức Chúa Jesus và Đức Mẹ Đồng
Trinh xứ Cobre. Đấy là di vật của vợ lão. Có dạo bức ảnh tô màu của vợ lão cũng
được treo trên tường nhưng rồi lão đã tháo xuống bởi nó khiến lão càng cô đơn
hơn khi nhìn thấy, lão để nó trên giá trong góc dưới chiếc sơ mi sạch của lão.
“Ông
có gì ăn không?”, thằng bé hỏi.
“Một
niêu cơm gạo vàng với cá. Cháu có muốn ăn không?”.
“Thưa
không. Cháu sẽ ăn ở nhà. Ông có cần cháu nhóm lửa không?”.
“Không.
Để lát nữa ông nhóm. Hoặc có lẽ ông sẽ ăn cơm nguội”.
“Cháu
có thể mang cái lưới-quăng đi chứ?”.
“Dĩ
nhiên”. Không có cái lưới-quăng nào cả, thằng bé nhớ rõ cái lúc họ bán nó.
Nhưng ngày nào hai ông cháu cũng vờ tưởng tượng như thế. Và thằng bé cũng biết
chẳng có niêu cơm gạo vàng và cá nào cả.
“Tám
mươi lăm là con số may mắn”, ông lão nói.
“Cháu
có thích ông mang về con cá nặng gần nửa tấn không?”.
“Cháu
sẽ lấy cái lưới-quăng đi bắt cá mòi. Ông ngồi sưởi nắng trên ngưỡng cửa chứ?”.
“Ừ.
Ông có tờ báo hôm qua và sẽ đọc về trận bóng chày”. Thằng bé không chắc liệu
cái tờ báo hôm qua ấy có phải là sản phẩm của trí tưởng tượng nữa không.
Nhưng
ông lão đã lôi tờ báo từ dưới giường ra.
“Perico
cho ông ở bodega”, lão giải thích.
“Cháu
sẽ quay lại khi kiếm được vài con cá mòi. Cháu sẽ ướp đá mấy con của ông cùng của
cháu rồi sáng mai chúng ta chia nhau. Khi cháu quay lại, ông nhớ kể cho cháu
nghe chuyện đội bóng đấy”.
“Đội
Yankee không thể thua”.
“Nhưng
cháu sợ đội Da Đỏ Cleveland”.
“Hãy
tin vào đội Yankee, cháu à. Hãy tin tưởng ở Di Maggio vĩ đại”.
“Cháu
sợ cả đội Hổ Detroit lẫn đội Da Đỏ Cleveland”.
“Hãy
coi chừng không khéo cháu lại sợ cả đội Đỏ Cincinnati và đội White Sox của
Chicago”.
"Ông
đọc đi rồi kể cho cháu lúc cháu quay lại”.
“Cháu
có nghĩ chúng ta nên mua tờ vé số có số cuối là tám mươi lăm không? Mai là ngày
thứ tám mươi lăm”.
“Chúng
ta có thể mua”, thằng bé nói.
“Nhưng
thế còn con số cực kỳ kỷ lục của ông là tám mươi bảy”.
“Không
thể xảy ra lần thứ hai đâu. Cháu có chắc là cháu có thể tìm được tờ vé số tám
mươi lăm ấy chứ?”
“Cháu
có thể mua một chiếc”.
“Một
chiếc. Hai đô la rưỡi đấy. Ai có thể cho chúng ta vay món tiền ấy?”
“Dễ
thôi mà. Cháu luôn có khả năng vay hai đô rưỡi”.
“Ông
nghĩ có lẽ ông cũng có khả năng đó. Nhưng ông cố không vay mượn. Thoạt tiên thì
vay mượn. Rồi sau đó là ăn mày”.
“Hãy
giữ ấm ông ạ”, thằng bé nói.
“Chúng
ta đã qua tháng chín”. “Tháng này là mùa cá lớn”, ông lão nói.
“Vào
tháng năm thì ai cũng có thể trở thành người đánh cá”.
“Bây
giờ cháu đi kiếm cá mòi đây”, thằng bé nói. Khi thằng bé trở lại ông lão đã ngủ
trên ghế, mặt trời đã lặn. Thằng bé mang cái mền lính cũ trong giường ra trải
lên phía sau ghế, đắp qua vai ông lão. Đôi vai thật kỳ lạ, vẫn chắc nịch dẫu đã
rất già, cả cái cổ vẫn còn khỏe, những nếp nhăn mờ đi khi ông lão ngủ gục đầu về
phía trước. Chiếc sơ mi của ông được vá nhiều lần đến nỗi trông nó cũng hệt như
tấm buồm; mặt trời làm mấy miếng vá ấy phai nhạt theo nhiều màu khác nhau. Dẫu
sao thì cái đầu ông lão cũng đã rất già và khi đôi mắt nhắm lại thì khuôn mặt
lão không còn sinh khí. Tờ báo nằm vắt qua đầu gối lão, độ nặng của cánh tay giữ
nó ở lại đó trong làn gió nhẹ buổi tối. Lão đi chân trần. Thằng bé để lão ở đó
và khi nó quay lại ông lão vẫn còn ngủ.
“Ông
ơi, dậy đi”, thằng bé gọi và đặt tay lên đầu gối lão. Ông lão mở mắt, ngơ ngác
một lúc rồi mới tỉnh hẳn. Rồi lão mỉm cười.
“Cháu
có cái gì đấy”, lão hỏi.
“Đồ
ăn tối”, thằng bé nói.
“Chúng
ta sẽ ăn tối”.
“Ông
không đói lắm đâu”.
“Thì
cứ ăn vậy. Ông không thể không ăn mà bắt cá được”.
“Vẫn
cứ câu được”, ông lão nói lúc đứng dậy cầm tờ báo gấp lại. Rồi lão chuẩn bị xếp
mền.
“Ông
cứ quấn mền quanh người”, thằng bé nói.
“Trong
lúc cháu còn sống thì ông không phải nhịn đói mà đi câu cá”.
“Vậy
thì hãy sống cho thật lâu và quan tâm đến bản thân mình”, ông lão nói.
“Ta
ăn gì vậy?”.
“Đậu
đen, cơm, chuối chiên và ít thịt hầm”. Thằng bé đựng mấy món ấy trong chiếc cặp
lồng hai ngăn, mang về từ Terrace. Hai bộ dao nĩa, thìa được quấn bằng giấy ăn
đút trong túi nó.
“Ai
cho cháu mấy món này?”
“Bác
Martin. Chủ quán”.
“Ông
phải cảm ơn bác ấy”.
“Cháu
đã cảm ơn rồi”, thằng bé nói. “Ông không phải cảm ơn bác ấy nữa”.
“Ông
sẽ biếu bác ấy miếng thịt bụng của con cá lớn”, ông lão nói. “Bác ấy đã nhiều lần
cho chúng ta như thế này phải không?”
“Cháu
nghĩ thế”.
“Vậy
thì ông phải biếu bác ấy cái gì quí hơn miếng thịt bụng. Bác ấy rất tử tế với
chúng ta”.
“Bác
ấy gửi biếu hai chai bia”.
“Ông
thích bia lon nhất”.
“Cháu
biết. Nhưng đây là bia Hatuey đóng chai, cháu sẽ mang trả chai”.
“Cháu
chu đáo quá”, ông lão nói. “Ta ăn chứ?”
“Thì
cháu đã mời ông mãi,” thằng bé dịu dàng nói. “Cháu chưa muốn mở cặp lồng trước
khi ông đã sẵn sàng”.
“Ông
sẽ sẵn sàng ngay”, ông lão nói. “Ông chỉ rửa sơ qua một tí”.
Ông
rửa ở đâu nhỉ, thằng bé nghĩ. Nguồn nước của làng cách đây hai con đường. Mình
phải lấy nước về cho ông, thằng bé nghĩ, xà phòng và cả khăn tắm tươm tất nữa.
Sao mình lại vô tâm đến thế? Mình phải kiếm cho ông chiếc sơ mi khác, một chiếc
jacket mặc mùa đông, đôi giày và một cái mền nữa.
“Món
thịt hầm của cháu tuyệt lắm”, ông lão nói.
“Kể
cho cháu nghe về trận bóng đi”, thằng bé giục lão.
“Như
ông đã nói, trong Liên đoàn Mỹ, đấy là đội Yankee”, ông lão hạnh phúc nói.
➖➖➖
Phần tiếng Anh
The
Old Man and the Sea (1)
He
was an old man who fished alone in a skiff in the Gulf Stream and he had gone
eighty-four days now without taking a fish. In the first forty days a boy had
been with him. But after forty days without a fish the boy's parents had told
him that the old man was now definitely and finally salao, which is the worst
form of unlucky, and the boy had gone at their orders in another boat which
caught three good fish the first week. It made the boy sad to see the old man
come in each day with his skiff empty and he always went down to help him carry
either the coiled lines or the gaff and harpoon and the sail that was furled
around the mast. The sail was patched with flour sacks and, furled, it looked
like the flag of permanent defeat.
The
old man was thin and gaunt with deep wrinkles in the back of his neck. The
brown blotches of the benevolent skin cancer the sun brings from its reflection
on the tropic sea were on his cheeks. The blotches ran well down the sides of
his face and his hands had the deep-creased scars from handling heavy fish on
the cords. But none of these scars were fresh. They were as old as erosions in
a fishless desert.
Everything
about him was old except his eyes and they were the same color as the sea and
were cheerful and undefeated.
“Santiago,”
the boy said to him as they climbed the bank from where the skiff was hauled
up. “I could go with you again. We've made some money.”
The
old man had taught the boy to fish and the boy loved him.
“No,”
the old man said. “You're with a lucky boat. Stay with them.”
“But
remember how you went eighty-seven days without fish and then we caught big
ones every day for three weeks.”
“I
remember,” the old man said. “I know you did not leave me because you doubted.”
“It
was papa made me leave. I am a boy and I must obey him.”
“I
know,” the old man said. “It is quite normal.”
“He
hasn't much faith.”
“No,”
the old man said. “But we have. Haven't we?”
“Yes,”
the boy said. “Can I offer you a beer on the Terrace and then we'll take the
stuff home.”
“Why
not?” the old man said. “Between fishermen.”
They
sat on the Terrace and many of the fishermen made fun of the old man and he was
not angry. Others, of the older fishermen, looked at him and were sad. But they
did not show it and they spoke politely about the current and the depths they
had drifted their lines at and the steady good weather and of what they had
seen. The successful fishermen of that day were already in and had butchered
their marlin out and carried them laid full length across two planks, with two
men staggering at the end of each plank, to the fish house where they waited
for the ice truck to carry them to the market in Havana. Those who had caught
sharks had taken them to the shark factory on the other side of the cove where
they were hoisted on a block and tackle, their livers removed, their fins cut
off and their hides skinned out and their flesh cut into strips for salting.
When
the wind was in the east a smell came across the harbour from the shark
factory; but today there was only the faint edge of the odour because the wind
had backed into the north and then dropped off and it was pleasant and sunny on
the Terrace.
“Santiago,”
the boy said.
“Yes,”
the old man said. He was holding his glass and thinking of many years ago.
“Can
I go out to get sardines for you for tomorrow?”
“No.
Go and play baseball. I can still row and Rogelio will throw the net.”
“I
would like to go. If I cannot fish with you, I would like to serve in some way.”
“You
bought me a beer,” the old man said. “You are already a man.”
“How
old was I when you first took me in a boat?”
“Five
and you nearly were killed when I brought the fish in too green and he nearly
tore the boat to pieces. Can you remember?”
“I
can remember the tail slapping and banging and the thwart breaking and the
noise of the clubbing. I can remember you throwing me into the bow where the
wet coiled lines were and feeling the whole boat shiver and the noise of you
clubbing him like chopping a tree down and the sweet blood smell all over me.”
“Can
you really remember that or did I just tell it to you?”
“I
remember everything from when we first went together.”
The
old man looked at him with his sun-burned, confident loving eyes.
“If
you were my boy I'd take you out and gamble,” he said. “But you are your
father's and your mother's and you are in a lucky boat.”
“May
I get the sardines? I know where I can get four baits too.”
“I
have mine left from today. I put them in salt in the box.”
“Let
me get four fresh ones.”
“One,”
the old man said. His hope and his confidence had never gone. But now they were
freshening as when the breeze rises.
“Two,”
the boy said.
“Two,”
the old man agreed. “You didn't steal them?”
“I
would,” the boy said. “But I bought these.”
“Thank
you,” the old man said. He was too simple to wonder when he had attained
humility. But he knew he had attained it and he knew it was not disgraceful and
it carried no loss of true pride.
“Tomorrow
is going to be a good day with this current,” he said.
“Where
are you going?” the boy asked.
“Far
out to come in when the wind shifts. I want to be out before it is light.”
“I'll
try to get him to work far out,” the boy said. “Then if you hook something
truly big we can come to your aid.”
“He
does not like to work too far out.”
“No,”
the boy said. “But I will see something that he cannot see such as a bird
working and get him to come out after dolphin.”
“Are
his eyes that bad?”
“He
is almost blind.”
“It
is strange,” the old man said. “He never went turtle-ing. That is what kills
the eyes.”
“But
you went turtle-ing for years off the Mosquito Coast and your eyes are good.”
“I
am a strange old man.”
“But
are you strong enough now for a truly big fish?”
“I
think so. And there are many tricks.”
“Let
us take the stuff home,” the boy said. “So I can get the cast net and go after
the sardines.”
They
picked up the gear from the boat. The old man carried the mast on his shoulder
and the boy carried the wooden box with the coiled, hard-braided brown lines,
the gaff and the harpoon with its shaft. The box with the baits was under the
stern of the skiff along with the club that was used to subdue the big fish
when they were brought alongside. No one would steal from the old man but it
was better to take the sail and the heavy lines home as the dew was bad for
them and, though he was quite sure no local people would steal from him, the
old man thought that a gaff and a harpoon were needless temptations to leave in
a boat.
They
walked up the road together to the old man's shack and went in through its open
door. The old man leaned the mast with its wrapped sail against the wall and
the boy put the box and the other gear beside it. The mast was nearly as long
as the one room of the shack. The shack was made of the tough bud-shields of
the royal palm which are called guano and in it there was a bed, a table, one
chair, and a place on the dirt floor to cook with charcoal. On the brown walls
of the flattened, overlapping leaves of the sturdy fibered guano there was a
picture in color of the Sacred Heart of Jesus and another of the Virgin of
Cobre. These were relics of his wife. Once there had been a tinted photograph
of his wife on the wall but he had taken it down because it made him too lonely
to see it and it was on the shelf in the corner under his clean shirt.
“What
do you have to eat?” the boy asked.
“A
pot of yellow rice with fish. Do you want some?”
“No.
I will eat at home. Do you want me to make the fire?”
“No.
I will make it later on. Or I may eat the rice cold.”
“May
I take the cast net?”
“Of
course.”
There
was no cast net and the boy remembered when they had sold it. But they went
through this fiction every day. There was no pot of yellow rice and fish and
the boy knew this too.
“Eighty-five
is a lucky number,” the old man said. “How would you like to see me bring one
in that dressed out over a thousand pounds?”
“I'll
get the cast net and go for sardines. Will you sit in the sun in the doorway?”
“Yes.
I have yesterday's paper and I will read the baseball.”
The
boy did not know whether yesterday's paper was a fiction too. But the old man
brought it out from under the bed.
“Perico
gave it to me at the bodega,” he explained.
“I'll
be back when I have the sardines. I'll keep yours and mine together on ice and
we can share them in the morning. When I come back you can tell me about the
baseball.”
“The
Yankees cannot lose.”
“But
I fear the Indians of Cleveland.”
“Have
faith in the Yankees my son. Think of the great DiMaggio.”
“I
fear both the Tigers of Detroit and the Indians of Cleveland.”
“Be
careful or you will fear even the Reds of Cincinnati and the White Sox of
Chicago.”
“You
study it and tell me when I come back.”
“Do
you think we should buy a terminal of the lottery with an eighty-five? Tomorrow
is the eighty-fifth day.”
“We
can do that,” the boy said. “But what about the eighty-seven of your great
record?”
“It
could not happen twice. Do you think you can find an eighty-five?”
“I
can order one.”
“One
sheet. That's two dollars and a half. Who can we borrow that from?”
“That's
easy. I can always borrow two dollars and a half.”
“I
think perhaps I can too. But I try not to borrow. First you borrow. Then you
beg.”
“Keep
warm old man,” the boy said. “Remember we are in September.”
“The
month when the great fish come,” the old man said. “Anyone can be a fisherman
in May.”
“I
go now for the sardines,” the boy said.
When
the boy came back the old man was asleep in the chair and the sun was down. The
boy took the old army blanket off the bed and spread it over the back of the
chair and over the old man's shoulders. They were strange shoulders, still
powerful although very old, and the neck was still strong too and the creases
did not show so much when the old man was asleep and his head fallen forward.
His shirt had been patched so many times that it was like the sail and the
patches were faded to many different shades by the sun. The old man's head was
very old though and with his eyes closed there was no life in his face. The
newspaper lay across his knees and the weight of his arm held it there in the
evening breeze. He was barefooted.
The
boy left him there and when he came back the old man was still asleep.
“Wake
up old man,” the boy said and put his hand on one of the old man's knees.
The
old man opened his eyes and for a moment he was coming back from a long way
away. Then he smiled.
“What
have you got?” he asked.
“Supper,”
said the boy. “We're going to have supper.”
“I'm
not very hungry.”
“Come
on and eat. You can't fish and not eat.”
“I
have,” the old man said getting up and taking the newspaper and folding it.
Then he started to fold the blanket.
“Keep
the blanket around you,” the boy said. “You'll not fish without eating while
I'm alive.”
“Then
live a long time and take care of yourself,” the old man said. “What are we
eating?”
“Black
beans and rice, fried bananas, and some stew.”
The
boy had brought them in a two-decker metal container from the Terrace. The two
sets of knives and forks and spoons were in his pocket with a paper napkin
wrapped around each set.
“Who
gave this to you?”
“Martin.
The owner.”
“I
must thank him.”
“I
thanked him already,” the boy said. “You don't need to thank him.”
“I'll
give him the belly meat of a big fish,” the old man said. “Has he done this for
us more than once?”
“I
think so.”
“I
must give him something more than the belly meat then. He is very thoughtful
for us.”
“He
sent two beers.”
“I
like the beer in cans best.”
“I
know. But this is in bottles, Hatuey beer, and I take back the bottles.”
“That's
very kind of you,” the old man said. “Should we eat?”
“I've
been asking you to,” the boy told him gently. “I have not wished to open the
container until you were ready.”
“I'm
ready now,” the old man said. “I only needed time to wash.”
Where
did you wash? the boy thought. The village water supply was two streets down
the road. I must have water here for him, the boy thought, and soap and a good
towel. Why am I so thoughtless? I must get him another shirt and a jacket for
the winter and some sort of shoes and another blanket.
“Your
stew is excellent,” the old man said.
“Tell
me about the baseball,” the boy asked him.
“In
the American League it is the Yankees as I said,” the old man said happily.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét