2026-08-29
Việt
Điện U Linh Tập
Minh
Chủ Linh Ứng Chiêu Cảm Bảo Hựu Đại Vương
(Chuyện
Thần Đồng Cổ)
ChatGPT minh họa
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Truyện
Báo Cực chép rằng: Vương vốn là thần núi Đồng Cổ (núi ấy ở tỉnh Thanh Hóa, tục
danh là núi Khả Phong). Ngày xưa, thời Lý Thái Tông đang làm Thái tử, Thái Tổ
sai đem quân đi đánh Chiêm Thành, quân kéo đến Tràng Châu, đêm đóng quân nghỉ lại.
Chừng khoảng canh ba, giữa lúc mông lung bỗng thấy một người kỳ dị, thân dài
tám thước, tu mi như kích, y quan nghiêm nhã, mình mặc nhung phục, tay cầm binh
khí, cúi đầu khép nép tâu rằng:
-
Thần là chủ núi Đồng Cổ, nghe Quân Thượng nam chinh chẳng nề nguy hiểm, xin
theo trợ thuận vương sư, sau là có thể khiếp phục được hồ man, lập chút công mọn.
Thái
Tông cả mừng, vỗ tay cho ngay, hốt nhiên thức dậy thì ra là một giấc mơ. Trận
đánh ấy quả được đại tiệp. Thái Tông khải hoàn, đem lễ phẩm đến tạ ơn, nhân đó
xin rước thần về Kinh Sư để bảo quốc hộ dân. Vua sai người đi xem chỗ để lập đền
thì từ phía ngoài kinh kỳ chưa có chỗ nào quyết định là tốt. Đêm ấy, Vương thác
mộng cho vua xin chỗ đất trong Đại nội, bên hữu chùa Thánh Thọ sau nói rằng:
-
Chỗ ấy tinh khiết, trông vào lộng lẫy, xét cho tường tận hẳn là có túc nhân vậy.
Vua
liền nghe theo, chọn ngày khởi công, chẳng bao lâu mà hoàn thành. Thái Tổ băng,
Thái Tôn tức vị. Đêm đó, Vương lại thác mộng tâu Thái Tông rằng:
-
Ba Vương lâu nay hoài bảo dị chí, muốn huy động binh giáp, xin vua sớm lo phòng
bị hầu khỏi hậu hoạn.
Vua
tỉnh dậy cũng chưa lấy gì làm tin chắc. Đến lúc trời mờ sáng, quả nhiên đúng
như lời nói trong mộng.
Thái
Tông kinh dị, chiếu phong làm Thiên Hạ Minh Chủ Thần, thêm tước Đại Vương.
Niên
hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Linh Ứng Đại Vương. Năm thứ tư, gia phong
hai chữ Chiêu Cảm. Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Bảo Hựu.
~
Tiếm
bình
Đại
Vương là vị danh thần núi non, bẩm thụ Sắc mệnh của Thượng đế, oai đức lừng lẫy
đã lâu giữa trời đất, không đợi đến Thời quân Thế chủ bao phong mới rõ linh dị.
Duy
thương cõi đời chìm đắm, lòng trần tối tăm, nếu mà lặng lẽ không thèm chỉ vẽ đường
mê thì Thế chủ trọn đời không tỉnh ngộ. Nên chi hằng thác mộng để cáo rõ, mở đường
mới. Khi đó, Thế chủ mới tôn, mới kính, mới lập đền thờ phụng, rồi lại theo mà
phong tặng nữa.
Nếu
không phải thế thì các vị danh thần ở trong nhân hoàn, làng nào lại không thờ,
người nào lại không lạy, cầu đảo đính lễ, mà sao cứ mịt mịt mù mù, luống hưởng
hương hỏa của nhân gian mà họa phúc không nghe có báo ứng, chỉ chuyên trang sức
bề ngoài, lâu đài cho tráng lệ, đồ thờ cho rực rỡ rồi nghiễm nhiên ngồi ngửa
trong ấy thì ra làm cái trò gì vậy?
~
Wikipedia
Thần Đồng Cổ
Thần
Đồng Cổ là vị thần
núi có công trong sự nghiệp chống ngoại xâm và nội xâm trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.[1]
Truyền
thuyết
Theo truyền thuyết, thần Đồng Cổ là vị thần được thờ ở đền
Đồng Cổ thuộc núi Đồng Cổ (còn gọi là núi Khả Phong), tỉnh Thanh Hóa, thuộc Bộ Cửu
Chân. Thần đã xin theo giúp Vua Hùng đánh
giặc ở Hồ Tôn. Khi thắng trận trở về, Vua Hùng vào đền làm lễ tạ
ơn, cho đúc trống đồng và phong cho thần là "Đồng Cổ Đại
vương".[2][3] Núi
Đồng Cổ hiện nay đã được các nhà nghiên cứu tìm ra, đó là một cụm ba ngọn núi
có tên là Tam Thai ở bên bờ phải sông Mã thuộc
địa phận làng Đan Nê (Đan Nê trước kia còn có tên là Khả Lao, gọi là Khả Lao
phong (phong là đỉnh núi) rồi gọi tắt là Khả Phong, có thể bao gồm cả ấp Xuân
Thái ngày nay), xã Yên
Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.[4]
Năm 986, thần Đồng
Cổ lại hiển linh giúp Lê Hoàn đánh
giặc Chăm ở phương Nam tại sông Ba Hòa, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Khi thắng trận, Lê Hoàn đã tạ
ơn và ghi cho đền câu đối:
"Long
đình tích hiển Tam Thanh lĩnh
Mã
thủy Thanh lai Bản Nguyệt Hồ".[2]
Sách Việt điện u linh (soạn từ thế kỷ XIV), truyện Minh chủ linh ứng chiêu cảm
bảo hựu đại vương cho biết, "Theo Báo cực truyện chép:
Vương là thần núi Đồng Cổ ở Thanh Hóa, tục gọi là núi Khả Phong" và có
chép về việc: Năm 1020 khi Thái tử Lý Phật Mã theo lệnh vua cha Lý Thái Tổ đi đánh Chiêm Thành. Khi đến Trường Châu
(bờ phải sông Mã, nay thuộc xã Yên Thọ), một đêm, thần Đồng Cổ báo mộng
cho Lý Phật Mã: "Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin thái
tử sang đánh phương Nam, tôi xin theo giúp để phá giặc lập chút công nhỏ".
Sau khi thắng trận trở về, Lý Phật Mã qua Trường Châu làm lễ tạ ơn và xin được
rước linh vị của thần Đồng Cổ về kinh đô thờ phụng để giữ nước hộ dân.[1] Về
đến Thăng Long, văn võ bá quan và các thầy phong thủy còn đang chọn đất lập đền
thì ban đêm Thần lại báo mộng: "Xin lập đền ở bên hữu, trong Đại La thành,
sau chùa Thánh Thọ". Thái tử
theo lời, cho hưng công xây dựng, không bao lâu đền dựng xong (nay là đền Đồng Cổ (Hà Nội)). Đền
được xây ở nơi gặp nhau của sông Thiên Phù và sông Tô Lịch thuộc làng Đông Xã (nay là số 353 đường Thụy
Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội).
Đến khi Thái Tổ mất, Thái Tông lên nối ngôi, đêm mộng thấy thần đến báo rằng:
"Ba vị vương em vua mưu làm phản, định đem giáp binh đến, xin nhà vua nên
kíp đề phòng!". Vua thức dậy còn chưa tin, đến sáng mới thấy việc xảy ra
đúng như lời thần báo. Vua lấy làm lạ, xuống chiếu phong thần làm "Thiên hạ
minh chủ, gia tước đại vương".[2][4]
Các sách chính sử cũng có ghi việc
này, Đại Việt Sử ký Toàn thư, Kỷ nhà Lý, trong mục
ghi các sự kiện xảy ra năm 1028 có đoạn tả: "Phong tước vương cho thần
núi Đồng Cổ, dựng miếu để tuế thời cúng tế và làm lễ thề. Trước đây, trước khi
ba vương làm phản một ngày, vua chiêm bao thấy một người tự xưng là thần núi Đồng
Cổ nói với vua về việc ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh làm loạn, nên bảo
đem quân đánh ngay đi. Khi tỉnh dậy, vua sai phòng bị, quả nhiên ứng nghiệm.
Vua chiếu cho hữu ti dựng miếu ở bên hữu thành Đại La, liền sau chùa Thánh Thọ,
lấy ngày 25 tháng ấy đắp đền, cắm cờ xí, dàn đội ngũ, treo gươm giáo. Ở trước
thần vị, vua đọc lời thề rằng: "Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin
thần minh giết chết." Các quan đi từ cửa Đông đi vào đến trước
thần vị cùng uống máu ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng ba gặp
ngày quốc kỵ, hoãn đến ngày 4 tháng 4".[1][2][4]
Sắc
phong
Một số sắc
phong bao gồm:
- Đồng
Cổ Đại vương (Vua
Hùng sắc phong, theo truyền thuyết).
- Thiên
hạ Minh chủ, Gia tước Đại vương (Lý Thái Tông sắc phong sau khi thần báo mộng
năm 1028, theo Việt điện u linh).
- Thiên
hạ Minh chủ Đại vương (Lý Thái Tông sắc phong sau khi dẹp
xong loạn Tam Vương năm 1028).[1]
- Minh
chủ Linh ứng Chiêu cảm Bảo hựu Đại vương (nhà
Lý và nhà
Trần sắc phong, sắc phong này được đặt tên cho truyện cùng tên ở
sách Việt điện u linh).
Các Triều đại sau
đó đều có sắc phong (14 đạo), hiện nay đền Đồng Cổ (Hà Nội) còn
giữ được 3 đạo: Cảnh
Hưng năm thứ 14 (1784), Quang
Trung năm thứ tư (1791), Cảnh Thịnh năm thứ nhất (1793).[2]
Sách chính sử
như Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà Lý, trong mục
ghi các sự kiện xảy ra năm 1028 có ghi "Phong tước vương cho thần núi Đồng
Cổ" (sau loạn Tam Vương), nhưng không nói rõ tên sắc phong là gì.[4]
Hội
thề Đồng Cổ
Đây là hội thề được
vua Lý Thái Tông lập lệ bắt đầu từ năm 1028 sau sự kiện loạn Tam Vương. Hội thề
được tổ chức hàng năm vào ngày 25 tháng 3 âm lịch tại đền Đồng Cổ ở làng Đông
Xã - Thăng Long (nay là số 353 đường Thụy
Khuê, phường Tây Hồ, Hà Nội).
Sang đời Lý Thánh Tông[cần dẫn nguồn], vì trùng
ngày kỵ của vua cha nên chuyển hội thề sang ngày 4 tháng 4 âm lịch. Tục lệ đó
được giữ suốt hai thế kỷ triều Lý, gián đoạn một vài năm ở Triều Trần. Nhưng chỉ
ba năm sau khi lên ngôi, vào năm 1228, vua Trần Thái Tông đã khôi phục hội thề ở đền Đồng
Cổ vào ngày 4 tháng 4 âm lịch hàng năm giống nhà Lý nhưng
sửa đổi lại lời thề. Tục lệ này được giữ suốt đời Trần. Sau đó, do nhà Hồ chuyển
đô vào Thanh Hóa nên hội thề tổ chức ở núi Đún, tức Đốn Sơn nằm phía ngoài Chính môn
của thành Tây Đô (Tây Giai),[2][4] gọi
là hội thề Đốn Sơn. Năm 1399, Trần Khát Chân cùng Thái bảo Trần Nguyên Hãng và một số vương hầu nhà Trần
mưu sát Hồ Quý Ly trong hội thề này nhưng không thành. Sau vụ
biến tại hội thề, Hồ Quý Ly cho là thần Đồng Cổ không còn thiêng nữa nên bãi bỏ
hội thề. Hội thề Đồng Cổ và hội thề Đốn Sơn đã được nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đưa vào tiểu thuyết Hồ Quý Ly.
Lời
thề thời Lý
“Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết![1] ”
Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì lời thề thời
Lý là:
“Làm
tôi bất trung
Làm
con bất hiếu
Thần
minh tru diệt![2] ”
Lời thề này mang ý
nghĩa đạo đức, chính trị để củng cố Vương triều, các quan ai trốn không đến thì
phải phạt đánh 50 trượng.[1][2]
Lời
thề thời Trần
Ba năm sau khi lên
ngôi, vào năm 1228, vua Trần Thái Tông đã khôi phục hội thề ở đền Đồng
Cổ vào ngày 4 tháng 4 âm lịch hàng năm giống nhà Lý nhưng sửa đổi lại lời thề.
Tục lệ này được giữ suốt đời Trần. Lời thề nhà Trần như sau:
“Làm
tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết![1][2] ”
Đại Việt Sử ký Toàn thư, Kỷ nhà Trần có mô tả: Hàng năm vào ngày 4 tháng 4, tại đền thờ thần Đồng Cổ, theo lệnh của vua, Tể tướng và quan lại họp nhau lại uống máu ăn thề. Quan Trung thư kiểm chính tuyên đọc lời thề rằng: "Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết". Đọc xong, Tể tướng sai đóng cửa điểm danh, người vắng mặt phải phạt 5 quan tiền. Ngày hôm ấy, con trai, con gái đứng ở bốn phương ở cạnh đường để xem, cho là hội lớn.[1][4]
Nơi
thờ
Hiện nay có
hai đền Đồng Cổ thờ thần gồm:
- Đền
Đồng Cổ, thuộc làng Đan Nê, xã Yên
Thọ, huyện Yên Định, Thanh
Hóa. Đền được xây dựng từ thời Hùng Vương, bị thực dân Pháp phá hủy
năm 1948. Năm 2000 dân làng dựng lại ba gian đền. Đền Đồng Cổ suốt từ thời
Lý, Trần, Lê, Nguyễn cho tới năm 1994 được ghi vào danh sách các đền chùa
được triều đình công nhận và hàng năm vua phái các quan khâm mạng (thường
là quan đầu tỉnh) thay vua về đây tế thần. Trước đây trong đền có cỗ trống
đồng lớn, nhưng đến thời Lê
mạt bị mất. Sang thời Tây Sơn, khoảng năm 1796, trấn thủ Thanh Hóa
là Nguyễn Quang Bàn đã
cúng vào đền một trống đồng mà ông tìm thấy ở một bờ sông, ông có làm một bài tán khắc trên biển gỗ sơn son thếp vàng kể
lại sự việc cung tiến trống đồng. Năm 1930, nhà học giả Viện Viễn Đông Bác cổ Victor Goloubew có
về tận nơi khảo sát, đo đạc kích thước của trống, dịch bài tán và công bố
công trình này trên tập
san BEFEO (Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient). Trống
đồng này cũng bị mất trong thời kì chiến tranh Việt Nam.[4]
- Đền
Đồng Cổ, thuộc làng Đông Xã - Thăng Long xưa, nay là cụm 4, phường Tây Hồ, Hà
Nội. Theo Việt điện u linh thì đền được xây dựng
sau khi Thái tử Lý Phật Mã đánh thắng Chiêm Thành (1020) và xin rước linh vị của thần
về Thăng Long, được thần báo mộng chọn chỗ đặt đền. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì đền
được Lý Thái Tông xây dựng năm 1028 sau khi thần
báo mộng cho vua về loạn Tam Vương. Đây là nơi tổ chức hội thề Đồng Cổ từ
năm 1028 nhà Lý, sang đến nhà Trần. Đền bị lính Pháp phá hầu hết trong cuộc
chiến năm 1947, chỉ còn sót có hậu cung. Đền được trùng tu lần lượt vào
các mốc thời gian: năm 1952, những năm 1990, năm 2010 (nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng
Long - Hà Nội), nay trở thành một nếp đền trang nghiêm, mỹ lệ. Dân
làng vẫn giữ được hội thề trung hiếu vào ngày 4 tháng 4 hàng năm.[4] Đền
đã được xếp hạng Di tích
lịch sử văn hóa cấp Nhà nước, trong đền có thờ linh
vật "Thần Đồng", là một phiên bản trống đồng Ngọc Lũ do phường đúc tỉnh
Nam Định thực hiện.[2]
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét