2026-09-05
Việt
Điện U Linh Tập
Quảng
Lợi Thánh Hựu Uy Tế Phu Ứng Đại Vương
(Chuyện
Thần Long Độ)
ChatGPT
minh họa
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Ngày
xưa, Cao Vương đắp thành Đại La, một ngày đang trưa, vua đi bộ dạo chơi đến cửa
Đông, bỗng chốc thấy mây mù nổi lên tứ phía; trong đám mù, có một chòm mây năm
sắc từ mặt đất ùn lên, tia sáng bắn lên sao Đẩu chói lòa cả mắt, khí lạnh buốt
người. Trong chòm mây ngũ sắc, có một người Tiên cỡi rồng vàng, đầu đội mão
xích hoa, thân mặc áo tử hà, xiêm là, giày đỏ, bay lượn ở trong mây mù, hương lạ
thơm lừng, đàn sáo hợp tấu, lững lờ uyển chuyển, lúc thấp lúc cao, lâu ước độ
hai khắc rồi bỗng nhiên tan mất.
Cao
Vương kinh dị, ngờ là quỷ mỵ hiện ra yêu linh để cầu nhân gian cầu đảo, chứ
cũng chẳng biết gì. Vừa đến đêm ấy, vua đang ngồi chơi không làm gì rồi ngủ thì
mộng thấy một người y như quang cảnh ban ngày đã thấy, đến trước cáo với vua rằng:
-
Tôi là Long Độ Vương Khí Quân đây, nghe ông mới làm nhà cửa, xây đắp đô thành,
thân đến tương kiến xin ông đừng nghi gì.
Cao
Vương tỉnh dậy, hội nghị than thở giây lâu rồi nói rằng:
-
Ta không biết làm chính trị nên quỷ thần vượt mặt ta, sự này là điềm lành hay
điểm gở?
Người
ngoài có kẻ bàn nên lập đền, tạc tượng rồi lấy đồng, lấy sắt mà trấn yểm đi.
Cao Vương nghe lời ban thì làm y như vậy, hốt nhiên gió mưa ào đến làm cho bay
cát đổ cây, sập nhà lở đất, lôi cả đồng sắt lên mà nghiền tan ra như tro bụi;
Cao Vương giận, nói rằng:
-
Ta biết rồi, thế nào cũng phải về Bắc đây.
Quả
nhiên như vậy.
Lý
Thái Tổ cũng lại đóng đô ở chỗ ấy; chợ Đông mở rộng thêm, buôn bán tấp nập, bức
cận đền thần rất là huyên náo; vua muốn dời đền thần đến chỗ thanh tĩnh, nhưng
rồi lại bảo:
-
Xưa lập ở đây, nay không nên dời đi chỗ khác.
Bèn
sửa lại rường cột dọc theo dãy phố, nhưng chừa ra một khoảng là chỗ đền thần.
Đến
đêm, thần lập tức hiển linh, gió bấc nổi lên, cát bay đá chuyển, cây gẫy nhà sập,
một dãy phố dài đều sụp đổ xuống đất, duy chỉ một tòa đền thần y nhiên đứng sững
như cũ.
Thái
Tông kinh dị, xét hỏi lai do, có người biết chuyện tâu rõ đầu đuôi. Vua mừng bảo
rằng:
-
Ấy là thần chủ sự đó.
Chiếu
đem lễ vật đến điện tế, định tân niên mới làm lễ tế Đại Kỳ Phúc, từ đây giữ làm
lệ thường, sắc phòng làm Quảng Lợi Vương.
Trước
kia, chợ Đông ba lần bị thất hỏa, gió đưa ngọn lửa, phố xá nhà cửa đều cháy ra
tro, duy một mình thần từ nghiễm nhiên không mảy may tổn hại.
Niên
hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong hai chữ Thánh Hựu. Năm Hưng Long thứ hai
mươi mốt, gia phong hai chữ Phu Ứng, tấn tước Đại Vương, phẩm trật Thượng Tướng
Thái Sư.
Trần
Quang Khải đề một bài thơ ở miếu rằng:
Xưa
nghe người nói Đại Vương linh
Nay
mới biết rằng quỷ mỵ kinh
Lửa
cháy ba lần thiêu chẳng hết.
Gió
bay một trận thổi không chênh.
Chỉ
huy vọng quỷ ba nghìn chúng.
Đàn
áp yêu ma trăm vạn binh
Xin
cậy uy thừa trừ giặc Bắc,
Khiến
cho bờ cõi hưởng thăng bình.
Bây
giờ từ vũ nguy nga và linh ứng.
~
Tiếm
bình
Đức
Khổng nói: "Cái đức của quỷ thần rất là thịnh vậy". Đương lúc mây mù ở
cửa Đông, người tiên bận áo tử hà, cỡi rồng vàng đội mão xích hoa, có thể trông
mà thấy rõ. Cao Vương cho là loài ma núi, quỷ biển.
Kịp
đến lúc Thần nhập mộng cho Cao Vương mà đồng sắt cũng không thể yếm được sự
linh thiêng, lên đền thờ họ Lý mà lửa hồng cũng không cháy nổi sự oanh liệt. Thần
từ đồ sộ cùng với Hoàng đồ, điện Cự Lộc đều được tôn trọng như nhau. Than ôi!
Thịnh lắm thay!
Gần
đây quan Nguyễn Hiệu Thảo ở Phú Thị có đặt cho người ở phố đó một câu đối rằng:
Dập
tắt Chúc Dung ba bận lửa
Đập
tan Đô Hộ vạn cân vàng.
Người
ta đọc lấy làm hay tuyệt.
~
Wikipedia
Long Đỗ
Long
Đỗ (龍肚) hay Long Độ, còn được gọi
là thần Bạch Mã (白馬),
là vị Thành hoàng đất Thăng Long, được
thờ ở đền Bạch Mã, trấn phía Đông
trong Thăng Long tứ trấn,
cũng như nhiều đình, đền khác. Long Đỗ (có nghĩa là "rốn rồng", cũng
chính là núi Nùng trong
truyền thuyết), còn được dùng để chỉ đất Thăng Long-Hà Nội xưa.[1] Thần
núi Long Đỗ, nơi tiếp nhận khí thiêng sông núi của đất kinh thành Thăng Long,[2][3] là
vị thần bảo hộ cho nhân dân Thăng Long được an cư lạc nghiệp.
|
Đền Bạch Mã, một trong Thăng Long
tứ trấn, ngôi đền chính thờ thần Long Đỗ. |
Với
Cao Biền
Hai
cuốn sách cổ Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh tập đã
ghi chép lại sự tích về thần Long Độ (Long Đỗ), trong đó nhắc đến đoạn với Cao
Biền như sau:
Khi
xưa, Cao Biền đời nhà Đường được cử sang cai trị Giao
Châu,
cho đắp thành Đại La. Một hôm,[4] Biền
đang vẩn vơ dạo ngoài cửa đông thành, bỗng thấy mưa to gió lớn, rồi một đám mây
ngũ sắc bốc lên từ mặt đất, tụ lại ở trên không, tia sáng bốc lên chói mắt, khí
trời trở nên lạnh lẽo. Giữa đám mây, thấy hiện ra một người "đầu đội mão
xích hoa, thân mặc áo tử hà, xiêm là, giày đỏ, bay lượn ở trong mây mù, hương lạ
thơm lừng, đàn sáo hợp tấu, lững lờ uyển chuyển, lúc thấp lúc cao, lâu ước độ
hai khắc rồi bỗng nhiên tan mất".[5][6] Cao
Biền kinh dị, cho là yêu quái. Đêm hôm ấy, Biền mộng thấy người gặp lúc ban
ngày, đến bảo rằng: "Ta là Long Độ vương khí quân, thấy ông mở rộng
kinh thành thì đến xem chơi, chớ có ngờ". Biền tỉnh dậy than: "Ta
không biết làm chính trị nên quỷ thần vượt mặt ta, sự này là điềm lành hay điểm
gở?". Có người khuyên Cao Biền dựng đền, đắp tượng thờ rồi lấy một
nghìn cân sắt, đồng làm bùa trấn yểm, Biền làm y như vậy. Bỗng một trận cuồng
phong nổi lên quật đổi cây to, tung đất, làm tất cả đồng sắt trấn yếm đều biến
thành tro bụi. Biền than thở: "Ta phải về Bắc thôi", sau quả
nhiên như thế.[7]
Thành
hoàng Thăng Long
Đến
đời Lý Thái Tổ, khi vua dời đô về Đại
La và đổi tên thành Thăng Long (1010), muốn mở rộng phủ thành nhưng đắp thành
xong đều bị lở, bèn cử người tới cầu thần. Đêm đó, vua nằm mộng thấy thần đến
chúc mừng rồi dặn nhà vua cứ theo dấu vó ngựa đắp. Có con ngựa trắng từ đền đi
ra, đi theo hướng Tây, vòng về hướng Đông, trở về điểm xuất phát rồi biến vào đền.
Nhà vua y lời thần, bèn cho đắp thành xây lũy theo vết chân ngựa để lại, xây đến
đâu chắc đến đấy. Lý Thái Tổ sai tạc một con ngựa trắng để thờ[1] và
ban sắc phong cho thần làm Quốc đô Định bang Thành hoàng đại vương,
tức Thành hoàng của cả thành Thăng Long. Ngôi đền này vì thế cũng được gọi
là đền Bạch Mã.
Đến
đời Lý Thái Tông, cho mở phố chợ về Cửa
Đông, dân cư buôn bán tấp nập, chen chúc huyên náo sát tới tận bên đền. Vua muốn
dời đền đến chỗ thanh tịnh khác, nhưng rồi lại bảo: "Xưa lập ở đây, nay
không nên dời đi chỗ khác"; mới đem sửa sang lại đền, liền với các nhà
ngoài phố, nhưng vẫn để một khoảng làm nơi thờ thần. Đến đêm, thần hiển linh nổi
trận gió bấc rất to, cả dãy phố đều đổ, duy chỉ có đền thờ thần vẫn nguyên vẹn.
Vua lấy làm lạ hỏi, có người biết, tâu lại chuyện hiển linh của thần từ trước.
Vua mừng nói: "Đó thật là vị thần coi việc nhân gian",[8] xuống
chiếu cho sửa lễ tế đền, cho thần hưởng lộc: cứ đến mùa xuân lại đến làm lễ cầu
phúc. Vua lại sắc phong thần làm Quảng Lợi vương. Ở phố chợ Cửa
Đông, ba lần phát hỏa, các nhà trong phố đều bị cháy, duy chỉ có chỗ đền thờ thần,
lửa không bao giờ lấn tới. Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải có
bài thơ đề tặng, hiện vẫn còn ở biển gỗ thờ tại đền:[1][8]
|
Tích
văn hách trạc Đại vương linh, Kim
nhật phương tri quỷ mị kinh. Hoả
bắc tam khu thiêu bất tận, Phong
lôi nhất trận phiến nan khuynh. Chỉ
huy vọng lượng tam thiên chúng, Hô
hấp tiễu trừ bách vạn binh. Nguyện
trượng dư uy thanh Bắc khấu, Đôn
linh vũ trụ lạc thăng bình. |
Đại
vương xưa nức tiếng oai linh Nay
mới hay rằng ma quỷ kinh Lửa
tụ ba khu không cháy miếu Gió
lay một trận chẳng nghiêng mình Khiến
sai bọn quỷ ba nghìn đứa Đánh
dẹp loài ma trăm vạn binh Nhờ
cậy dư uy trừ giặc Bắc Giúp
ngay đất nước được thanh bình (Trần Lê Văn dịch) |
Niên
hiệu Trùng Hưng năm
đầu, lại sắc phong hai chữ Thánh hựu. Năm Hưng
Long thứ
hai mươi mốt, gia phong hai chữ Phu ứng, tấn tước Đại vương, phẩm
trật Thượng tướng Thái sư. Sách Lĩnh Nam chích quái viết:
"Đời Trần phong làm Thuận Dụ tự ứng đại vương. Chùa ở phường
Hà Khẩu huyện Thọ Xương nay gọi là đền Bạch Mã". Sách Đại Nam nhất
thống chí (quyển 13) khi giới thiệu về đền miếu của Hà Nội, đã dẫn
sách Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, còn viết rằng:
"Các vua đời sau cũng theo đó mà phong tới Bạch Mã Quảng Lợi Tối
linh Thượng đẳng thần".[9]
Văn
bia Trùng tu Bạch Mã miếu bi ký, niên đại Minh Mệnh nguyên niên (1820),
hiện còn tại đền có ghi rằng: "Ngài là vị Thành hoàng của kinh thành Thăng
Long… Thần một thôn, một ấp đều được tôn kính, huống đây là vị thần chủ tể một
khu vực ngàn dặm, được hàng trăm đời vua cúng tế. Các công lao ban phúc cho đất
nước, giúp đỡ cho nhân dân, trong đó, cả đô thành và lân ấp đều được nhờ cậy".[10]
Một
trong những câu đối còn tại đền đã khái quát khá tiểu biểu công ơn của thần Bạch
Mã:[8]
Phù
quốc lộ ư La Thành, vạn cổ uy thanh truyền mã tích
Ngật
tôn từ vu giang tứ, thiên thu vượng khí trấn Long Biên
Tạm
dịch:
Giúp
nước thịnh ở La Thành, muôn thuở uy danh truyền dấu ngựa
Bến
sông nước, nghìn năm vượng khí giữ Long Biên
Tên
gọi
Trong
các văn bản cổ, đặc biệt là Việt điện u linh và Lĩnh
Nam chích quái có sự không thống nhất về tên gọi của thần, cụ thể là
"Long Đỗ" và "Long Độ", "Quảng Lợi" và "Quảng
Lại". Trong sáu bản Việt điện u linh lưu tại Viện nghiên
cứu Hán Nôm, tên gọi của thần trong truyện "Quảng Lợi thánh hựu uy tế phu ứng
đại vương"[11] có
năm bản ghi là "Long Độ", có một bản là "Long Đỗ', và tất cả các
bản ghi là "Quảng Lợi". Ngược lại, trong 7 trên chín bản Lĩnh
Nam chích quái lưu tại Viện có chép "Long Đỗ vượng khí truyện"
hay "Long Đỗ chính khí thần truyện",[12] tất
cả đều ghi là "Long Đỗ", có một bản chép là "Quảng Lợi", một
bản chép là "Quảng Lại".
Về
sự khác biệt này, các nhà nghiên cứu ở Việt Hán Nôm dựa vào sách Trấn
Vũ quán lục, thấy rằng "Long Độ" vốn là tên đất Long Biên vào cuối
đời Hùng Vương, Sĩ
Nhiếp khi làm Thái thú Giao Châu, được phong tước
"Long Độ đình hầu". Họ cho rằng Long Độ là tên gọi gốc, đến đời nhà
Trần, do có lệ kiêng húy tên Thái sư Trần Thủ Độ nên mới đổi thành
"Long Đỗ". Cũng như vậy, sang thời Lê, theo sách Bạch Mã thần
từ khảo chính, "vì kiêng húy Thái Tổ là Lê Lợi mà
đổi chữ "Lợi" trong "Quảng Lợi" thành chữ "Lại"
trong "Quảng Lại" vậy".[1]
Tuy
đổi tên vì kiêng húy, nhưng ý nghĩa của những chữ này đều có thể thay thế cho
nhau. "Long Độ" là tên gọi của đất Hà Nội xưa, "Long Đỗ"
nghĩa là bụng rồng, nghĩa lại càng gần gũi với đất Thăng Long được mang tên từ
thời Lý Thái Tổ. "Quảng Lợi" có thể hiểu là "làm lợi rộng khắp",
đổi sang chữ Lại có nghĩa là "chỗ dựa", lại càng làm bật rõ được ý
nghĩa của thần Bạch Mã, là vượng khí đất Long Độ, là chỗ dựa phù hộ cho nước
cho dân.[1]
Về
cơ bản các tên gọi đều muốn chỉ đến rốn rồng- là nơi mà Đất và Trời
gặp nhau, là trung tâm của vũ
trụ -
theo quan điểm phương Đông, bụng có
một vai trò quan trọng như tim trong
quan điểm của phương Tây
Với
thần Tô Lịch
Trong Lĩnh
Nam chích quái cũng như trong tín ngưỡng dân gian từ lâu,[13] thường
đồng hóa hai vị thần của núi Nùng (Long Đỗ) và vị thần của sông Tô Lịch (Tô
Lịch)
lại làm một. Trong Tô Lịch giang thần truyện của Lĩnh
Nam chích quái đã chép lại truyện thần sông Tô Lịch, trong đó có đoạn
sau:
...[Cao]
Biền thông hiểu thiên văn địa lý, xem hình thế đất mà xây thành Đại La ở phía
tây Lô Giang, chu vi 30 dặm để ở. Có dòng sông con từ Lô
Giang chảy vào phía Tây Bắc, cuốn quanh
phía nam, ôm lấy thành Đại La rồi lại nhập vào sông cái. Hồi đó đang giữa tháng
sáu nước mưa lên cao: Biền cưỡi thuyền nhẹ thuận dòng vào tiểu giang đi khoảng
một dặm, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, dung mạo dị kỳ, tắm ở giữa dòng
sông, cười nói tự nhiên. Biền hỏi họ tên. Đáp: ta họ Tô tên Lịch. Biền lại hỏi:
Nhà ở đâu? Đáp: Nhà ở trong sông này. Dứt lời, lấy tay đập nước bắn tung mù mịt,
bỗng nhiên không thấy đâu nữa. Biền biết là thần, bèn đặt tên sông là Tô Lịch.
Một buổi sớm khác, Biền ra đứng ở bờ sông Lô Giang, phía đông thành Đại La, thấy
trận gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng
trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt
vàng rực rỡ một khoảng trời, chập chờn lên xuống trên khoảng không. Mặt trời
cao ba con sào, khí mây hãy còn mù mịt, Biền rất kinh dị, muốn yểm thần. Đêm nằm
mộng thấy thần nhân tới nói rằng: "Chớ yểm ta, ta là tinh
ở Long Đỗ, đứng đầu các địa linh, ông xây thành ở đây, ta chưa
được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép?" Biền kinh hãi.
Sáng hôm sau, Biền lập đàn niệm chú, lấy kim đồng thiết phù để yểm. Đến hôm ấy,
sấm động ầm ầm, gió mưa dậm dật, đất trời u ám, thần tướng hò reo, kinh thiên động
địa. Trong khoảnh khắc, kim đồng thiết phù bật ra khỏi đất, biến thành tro, bay
tan trên không. Biền càng kinh hãi, than rằng: "Xứ này có thần linh dị, ở
lâu tất chuốc lấy tai vạ". Sau Ý Tông triệu Biền về, quả nhiên Biền bị giết
và Cao Tầm được cử sang thay.
Trong
phần mở đầu của cuốn sách này, Vũ
Quỳnh còn viết: "Tô Lịch là thần đất Long Đỗ, Xương Cuồng là
thân cây chiên đàn, một đằng thì lập đàn tế lễ, dân được hưởng phúc, một đằng
thì dùng trò vui mà trừ, dân được thoát hoa, việc tuy kì dị mà không quái đản,
văn tuy thần bì mà không nhảm nhí, tuy có phần hoang đường mà tông tích vẫn có
phần bằng cứ, há chẳng phải chỉ cốt khuyên điều thiện, răn điều ác, bỏ giả theo
thật để khuyến khích phong tục mà thôi ư?", cho thấy việc đồng
hóa hai vị thần Tô Lịch và Long Đỗ. Một số phiên bản của Lĩnh Nam chích
quái cũng chép đoạn sau của truyện này, kể chuyện khi Lý Thái Tổ dời
đô, thần Tô Lịch thác mộng chúc mừng vua và cũng được vua phong là "Đô quốc
Thành hoàng đại vương", tức Thành hoàng của Thăng Long.
Ngược
lại, trong cuốn sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên lại coi
hai vị thần sông Tô Lịch và thần đất Long Đỗ là hai vị khác nhau, chép ở hai
truyện riêng là "Bảo quốc Trấn linh Định bang Quốc đô thành hoành đại
vương" và "Quảng Lợi thánh hựu uy tế phu ứng đại vương". Ngoài
ra có ngôi đình ở Hà Nội như đình Tân Khai lại
thờ riêng cả hai vị thần Tô Lịch và Bạch Mã.[14]
Theo
quan điểm của nhà nghiên cứu Lê Văn Lan thì cũng cho rằng thần Tô Lịch và thần
Long Đỗ là một. Ông cho rằng tên gốc của thần là Tô Lịch, vốn là vị già làng của
một thôn làng bên bờ sông Tô, một "làng Hà Nội gốc", được gọi là
"hương Long Đỗ":[15]
Trong
đền Bạch Mã còn có một tượng nhân thần nữa, làm bằng đồng. Đó là, tượng thần
Long Đỗ, vốn là vị thần của hương Long Đỗ - làng Rốn Rồng. Đấy là nơi tụ cư đầu
tiên trên đất kinh kỳ, sau này. Cả nghìn năm trước khi Lý Thái Tổ định đô và dựng
kinh thành Thăng Long, cư dân hương Long Đỗ, đã chọn ngọn Núi Nùng - Nùng Sơn
chính khí - và dòng sông Tô - Tô Lịch giang thần - làm chỗ dựa phong thủy ở
chính giữa đất trời. Người đứng đầu làng sau đấy trở thành phúc thần, che đỡ
cho cả vùng đất Rồng thiêng, ngày càng mở rộng ra, quanh chỗ Rốn Rồng...
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét