2020-05-16

Người thày học - Thanh Khê

2020-05-16

Người thày học

Thanh Khê


Tôi gặp Phượng nơi nhà một người bạn ở Liège nhân một buổi tiệc giữa bạn bè. Phượng ít nói, cả buổi ăn chỉ thấy Phượng cười đôi ba lần vì một câu pha trò vui nào đó. Không phải là tại Phượng nhút nhát, bằng cớ là chị đã sẵn lòng hát cho mọi người nghe một bài hát thật buồn và gợi nhiều nhớ nhung: "Phố chiều, bao tà áo trắng...".

Nhưng không phải vì thế mà tôi chú ý đến chị. Khi tiệc tàn, vài anh đòi khiêu vũ, tôi thấy Phượng vội vàng đứng dậy lễ phép xin ra về trước, viện cớ chuyến xe lửa cuối cùng đi Bruxelles sắp chạy. Thì ra chị học ở Bruxelles mà tôi nào có biết. Tôi cũng xin ra về luôn để có dịp làm quen với Phượng mặc dù thằng bạn nài nỉ ở lại chơi với nó tối hôm sau.

Lần thứ nhì tôi gặp lại Phượng ở nơi thư viện, chị vui vẻ chào tôi và đón nhận một cuốn báo sinh viên tôi trao, bằng một cái nháy mắt cười tinh nghịch như có ý bảo: "Biết ngay mà, các anh hoạt động ghê lắm".

Từ đó, chúng tôi gặp nhau thường hơn và trở nên thân thiết sau những câu chuyện về quê hương, về những người còn ở lại quê nhà.

Có hôm, Phượng kể cho tôi nghe một mẩu chuyện của đời chị bằng một nỗi ngùi ngùi thương cảm:

"Năm đó tôi thi rớt tú tài Pháp. Nhà tôi giàu, học lại một năm cũng chẳng có gì khó khăn. Nhưng ba má tôi lại muốn tôi đi du học sớm chừng nào hay chừng nấy. Ông bà liền bắt tôi phải thi tú tài Việt. Khổ nổi vốn liếng lịch sử, văn chương Việt Nam của tôi chẳng có là bao, nhiều từ ngữ tôi còn không hiểu nữa là.

Ba tôi hỏi thăm nhiều nơi, cuối cùng tìm được một ông thầy dạy kèm cho tôi mỗi ngày bốn giờ, chia làm hai buổi. Nói là ông thầy chớ thật ra đó là một sinh viên năm thứ ba ban sử địa trường Đại học sư phạm Sài Gòn, còn rất trẻ, chỉ lớn hơn tôi vài ba tuổi. Anh Mẫn quê ở miền Trung nghèo khổ. Nhớ hôm đến nhận việc anh cẩn thận thắt cà vạt lên trên chiếc áo sơ - mi cụt tay cổ đã sờn, trông vụng về làm mấy đứa em tôi cứ lén nhìn và cười khúc khích. Da mặt anh xạm nắng, lốm đốm nhiều vết mụn trứng cá làm anh trông khắc khổ. Bù lại là vầng trán thông minh và cặp mắt thật hiền, chắc là giống cặp mắt của mẹ anh, tôi nghĩ vậy để rồi tự nhiên có cảm tình với anh ngay lần đó.

Ngày ngày anh đạp xe từ nhà ở đầu cầu Bông tới nhà tôi ở đường Tự Đức. Con đường không xa nhưng khói xe, bụi đường và nắng trưa của mùa hè làm nhiều hôm anh mệt lả. Nhìn gương mặt xương xương gầy yếu và tấm lưng áo ướt đẫm mồ hôi, tôi xúc động thật lòng. Chắc là vì vậy nên từ ly nước mát quy ước cho thầy, một hôm nào đó tôi đổi bằng ly nước cam vắt mang ít nhiều săn sóc của một đứa em gái cho người anh trai. Nhưng đó lại là một chuyện khác.

Bài học lịch sử đầu tiên Mẫn dạy tôi không có ghi trong sách. Anh hỏi:

- Chị Phượng có biết nguồn gốc dân tộc Việt Nam ta ở đâu không?

- Dạ, theo Phượng học thì có hai thuyết. Thuyết thứ nhứt cho rằng tổ tiên chúng ta ngày xưa là một bộ lạc ở tỉnh Triết Giang bên Tàu, bị người nước Sở đuổi đánh phải chạy về phương Nam lập nghiệp. Thuyết thứ hai có vẻ khoa học hơn, cho rằng dân Việt là thuộc các giống dân Mélanésien, Polynésien, Mông Cổ pha trộn lẫn nhau...

- Như vậy chúng ta hoặc là người Trung Hoa, hoặc là người Nam Dương mà thành ra chớ gì?

- Dạ, Phượng thấy sách nói như vậy.

Mẫn im lặng một lúc như muốn suy xét thật kỹ những điều anh sắp nói rồi nghiêm trang nhìn tôi:

- Ở trường, tôi cũng được dạy như vậy. Nhưng sự thật là từ mấy chục ngàn năm trước, đồng bằng sông Hồng, sông Mã đã là một trong ba nơi phát sinh ra loài người tại châu Á, sinh sống bằng săn bắt, hái lượm. Qua làm việc, người dân ở đây tiến bộ lên dần và đạt đến trình độ văn minh đồ đồng thau sớm nhứt trong lịch sử nhân loại; cách đây 4000 năm. Đó là thời đại dân ta đúc nên những chiếc trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ tuyệt đẹp mà ngày nay người ta đào được hàng loạt cùng với cả ngàn mũi tên đồng trong các hang động ở Thanh Hóa. Triều đại Hùng Vương là một sự thật lịch sử chớ không phải là truyền thuyết và chúng ta là con cháu của những vị vua anh hùng đã có công dựng nên một đất nước giàu đẹp và kiên cường mang tên Việt Nam đó.

Ngừng một lát, nhìn gương mặt chăm chú theo dõi của tôi, anh nói tiếp:

- Phong kiến Trung Hoa sau khi chiếm được nước ta vào đầu Công nguyên có ý đồ đồng hóa dân Việt nên đã viết sử dạy chúng ta rằng người Việt thật ra cũng chỉ là người Tàu, vậy đất Việt có thành phủ huyện của Trung Hoa cũng chẳng có gì trái lẽ. Thế nhưng hai bà Trưng, bà Triệu, Mai Hắc Đế rồi Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền đã cùng dân tộc ta trả lời lại bọn chúng bằng những cuộc khởi nghĩa giành độc lập đầu tiên trong lịch sử. Sau đó đại tướng Lý Thường Kiệt đã khẳng định rằng: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư, tuyệt nhiên định phận tại thiên thư..." trong trận thắng giặc oai hùng trên sông Như Nguyệt.

Đến thời Pháp thuộc, bọn xâm lược da trắng dựng nên câu chuyện hoang đường khác, nghe có vẻ khoa học hơn, nhưng đại để cũng muốn dạy cho chúng ta rằng dân tộc Việt Nam chỉ là một giống dân phiêu bạt từ một hải đảo xa xôi nào đó đến sanh sống nơi đây. Bây giờ có làm dân Pháp hay dân của một thuộc địa của Pháp thì cũng không có gì xấu hổ mà phải vùng lên đòi giải phóng đất nước, giành độc lập dân tộc!

Mẫn đã chạm đến tự ái của tôi vì tôi còn có tên Pháp là Jacqueline. Nhưng lòng tự ái nhỏ đó tan biến đi rất mau, nhường chỗ cho một niềm tự hào dân tộc đang dâng lên thanh thoát trong lòng theo nhịp điệu những lời lẽ hết sức giản đơn và say sưa Mẫn nói. Có khi tôi mơ màng tưởng tượng thấy những gương mặt uy nghiêm của công chúa Tiên Dung, của nàng Tây Thi, của hai bà Trưng..., của những người phụ nữ Việt Nam như tôi vào thời xa xưa dựng nước và giữ nước đó.

Uống một ngụm nước ngọt ngào, Mẫn nói tiếp:

- Cũng may là nửa triệu quân Mỹ đã phải rút gần hết về Mỹ, nếu không, vài trăm năm nữa đây nước ta có hàng triệu đứa con lai Mỹ và lịch sử "do nhân dân Hoa Kỳ tặng thiếu niên Việt Nam" dạy ở tiểu, trung học chắc sẽ viết rằng dân Việt Nam còn có dòng máu Yankee trong huyết quản bên cạnh máu Indonésie, Đại Hàn... Chừng đó nước Việt có đứng vào Hiệp chủng quốc như  Hạ Uy Di thì cũng có gì là lạ đâu Phượng nhỉ?

Tôi không trả lời anh ngay vì tâm hồn bỗng dưng xao động mạnh mẽ.  Tôi bắt đầu nghĩ tới những cái không dính dấp trực tiếp tới "tôi". Nghe Mẫn nói, tôi đã liên tưởng tới vài ba đứa bạn ham đô la đi lấy chồng Mỹ nửa chừng. Giờ đây, ôm những đứa con mũi lõ mắt xanh hay mắt lồi tóc xoắn chắc chúng ngậm ngùi nuối tiếc những ngày còn con gái. Xã hội quanh tôi sao có nhiều chuyện đáng buồn quá.

- Anh nói Mỹ rút đi là may cho nước mình, Phượng thì cứ nghe ba má than là Mỹ về xứ làm ăn hết được, không như những năm trước đây.

- Cái đó tùy Phượng xét. May hay rủi ở đây thật ra gắn liền với vấn đề quyền lợi tối cao của đất nước và quyền lợi riêng tư. Nói như vậy cũng không thật đúng. Tôi dám chắc rằng dù quân Mỹ rút về, gia đình Phượng bớt giàu sang nhưng sẽ hạnh phúc hơn. Một đứa con giải ngũ trở về. Những đứa cháu lớn lên không còn phải lo đi lính. Và nơi nhà quê, bà con trở lại ruộng vườn xưa không còn nơm nớp lo bom đạn, thuốc khai quang. Với lại, nỗi vui lớn nhất là được làm dân một nước độc lập phải không Phượng?

- Phượng cũng mong có hòa bình lắm chớ. Nhưng thú thật Phượng vẫn sợ sợ cái gì không rõ. Người ta nói mai mốt hòa bình nhà của Phượng sẽ bị nghèo đi mà Phượng thì không quen sống trong cảnh nghèo.

- Phượng thành thật lắm. Tôi quý trọng những người thành thật như vậy bởi vì tôi cũng rất thành thật khi nói với ai điều gì. Phượng sẽ không nghèo đâu vì không làm ăn với Mỹ khi Mỹ rút đi, hai bác vẫn có thể làm ăn giữa người Việt mình với nhau, nếu không thì ai làm? Người mình phải biết mở nhà máy chế tạo thực phẩm, đồ dùng hàng ngày cho đẹp và rẻ hòng cạnh tranh lại với hàng ngoại nhập chứ. Tôi chưa hề nghe ai, kể cả chánh phủ cách mạng, cấm những nhà tư sản dân tộc bỏ vốn khuếch trương kinh tế, đồn điền... Miễn là biết quí trọng những người nghèo khổ đem sức lao động góp phần làm giàu cho mình, biết nghĩ đến đất nước để đừng đầu cơ, tích trữ, bán quá giá v.v...

Đại để những buổi học của tôi với Mẫn là như vậy, nó hay lạc đề nhưng tôi lại rất say mê. Từ lòng say mê đó, tôi tìm kiếm sách vở đọc thêm và thấu suốt chương trình một cách mau chóng. Có đâu như ngày nào, đụng đến môn Sử, Địa, Việt văn là chán ngấy.

***

Năm đó tôi đậu bằng tú tài Việt hạng bình thứ. Ba má tôi cho tôi đi Đà Lạt chơi với lũ bạn học trên những chiếc xe nhà bóng lộn.

Nhưng tôi đổi khác rồi! Những cuộc vui đùa trưởng giả hồi nào mê mải, bây giờ sao nhạt phèo, vô vị. Những đứa bạn trai hào phóng theo đuổi, tôi bắt đầu coi như nợ nần. Tôi thấy nhớ một cái gì. Một cành thông chợt gãy vụn giữa buổi trưa hè yên tĩnh, một tiếng ve kêu ran bên hồ Than thở, một màu hoa pensée tím tím... tất cả đều đã gây trong lòng tôi những cảm giác rạo rực ngây say. Tôi nhớ Mẫn! Tôi nhớ dáng Mẫn gầy gò nhưng cương nghị, mắt sáng long lanh mỗi khi anh nói với tôi về quê hương, đất nước. Có hôm tôi thẫn thờ hàng giờ bên song cửa, nhìn mưa bụi bay lang thang trên những dãy đồi chiều xa, nhớ bài thơ TTKH "Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng, dải đường xa vút bóng chiều phong..." rồi nước mắt tự nhiên dâng trào. Tôi yêu Mẫn mất rồi. Tôi ủy mị, trưởng giả quá phải không anh? Nhưng tôi có yêu Mẫn vì cái gì khác hơn là vẻ đẹp của tâm hồn Mẫn đâu. Tôi sắp đi, yêu để rồi xa có nên không? Hay là cố quên ngay đi, như chẳng có gì đã xảy ra trong đời con gái của mình? Những câu vấn đáp như vậy cứ trở đi trở lại khiến tôi quên ăn mất ngủ.

Sau cùng tôi đã khuất phục trước những lý lẽ của con tim.  Tôi trở về Sài Gòn trong sự ngạc nhiên cùng cực của bạn bè.

Tôi đến thăm Mẫn vào một buổi trưa hè oi bức. Nhà Mẫn ở trong cùng một ngõ hẻm phía sau trường Lê Văn Duyệt. Tôi mặc chiếc áo dài màu xanh đọt chuối thật đơn sơ, tay xách giỏ đựng đầy mận Trại Hầm và lá artichaut, lòng rộn ràng như đã xa Mẫn từ lâu lắm. Thấy tôi vào, Mẫn lúng túng vui mừng:

- Nghe nói Phượng đi nghỉ hè trên Đà Lạt mà.

- Dạ, Phượng vừa về hôm qua, đem cho anh một ít quà và mớ lá artichaut anh uống. Má Phượng nói lá artichaut uống đắng nhưng trị được bịnh đau gan của anh.

- Cám ơn Phượng nhiều lắm. Trời nực quá, Phượng ngồi đây một lát tôi đi mua nước ngọt về uống nhé.

Mẫn đi rồi, tôi đưa mắt nhìn quanh nhà. Chiếc ghế bố có bốn cây trụ mùng nằm kề bên vách lá, cái bàn nhỏ tôi đang ngồi đặt bên cửa sổ làm tủ sách và nơi học; rương đựng quần áo xếp trong một góc nhà, trên bốn viên gạch; đôi giày săng - đan nằm trên nền đất khô cứng. Đó là tất cả những gì thuộc về Mẫn trong căn nhà này. Không, tôi nói sai rồi. Còn có cả một người đang tha thiết yêu Mẫn nữa chứ.

 Mẫn về, đem theo hai cái ly và chai nước cam vàng, rót mời tôi uống.

- Anh ở đây rồi làm sao nấu cơm ăn?

- Không, buổi trưa tôi ăn ở các quán cơm lao động gần trường, chiều thì về ăn chung với gia đình bác tư xích lô bên cạnh nhà.

Trái với điều tôi e ngại, Mẫn không hề mặc cảm về cái nghèo của anh. Sống, ăn, ở với đồng bào của mình bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt thì có gì quý hơn, anh vẫn nói thế. Anh yêu cuộc đời cần lao vì đó là cuộc đời trong sạch nhất, xứng đáng nhứt. Hỏi về gia đình anh, anh kể:

- Tôi sinh ra đời nơi một làng quê nằm bên bờ sông Trà Khúc vào cái năm giặc Pháp còn đầy dẫy trên quê hương ta. Cha tôi cày thuê, cuốc mướn. Mẹ tôi trồng một vườn rau, buôn bán kiếm lời. Ngày còn nhỏ chiều chiều tôi thường theo xem mẹ gánh nước tưới rau, đùa nghịch vóc hai bàn tay đất cát vào thùng nước trong mát để rửa và vui cười.

Khi tôi bắt đầu đi học, trong một trận càn mùa khô năm 1953, quân Pháp bắt ba tôi, đánh đập tàn nhẫn rồi đem giam ở nhà lao Quảng Ngãi. Mẹ tôi oằn vai gánh lấy gánh nặng gia đình, nuôi đàn con còn thơ dại.

Sau hiệp định Genève chấm dứt 80 năm nô lệ giặc Tây, ba tôi về nhà với cơn bịnh suyễn kinh niên. Vui chưa được mấy năm, ông lại bị gọi lên chi công an quận tống giam vì tên tuổi còn nằm trong hồ sơ đen mà bọn Pháp để lại cho chính quyền. Lại nhà tù, lại bị tra khảo, cơm thiu, cá mục. Ba tôi chết lần mòn trong ngục tối cái năm tôi còn học lớp nhứt. Tôi đã lẳng lặng khóc và nuôi oán hờn trong lòng ngay từ thuở ấy.

Tôi lớn lên trong cảnh nhà khốn khó. Mẹ tôi già đi nhiều theo năm tháng chồng chất khổ đau, tủi nhục. Phượng ở thành phố không biết hết được đâu. Bọn cường hào, ác bá ở nông thôn mình như một lũ quân ôn dịch, không để ai yên ổn làm ăn. Chúng dìm cuộc đời dân ta trong máu lệ hờn căm. Mỗi lần về thăm mẹ, thăm quê, tôi lại được nghe kể thêm vài tội ác của bọn chúng. Bắt người vu là thân cộng để đòi tiền chuộc mạng, hãm hiếp phụ nữ trong phòng giam, độc quyền mua rẻ bán đắt những thứ cần dùng, tổ chức bài bạc gian lận, chưởi mắng, hiếp đáp cả những người già cả... Và giờ phút chúng ta trò chuyện nhau đây, chắc mẹ tôi vẫn còn đang ngậm đắng nuốt cay, lom khom cúi mái đầu tóc bạc của người xới đất trồng lớp rau mới cho cháu đem lên chợ bán.

Mẫn ngừng nói khi thoáng thấy hai giọt lệ long lanh trên khóe mắt tôi. Tôi khóc vì thương cảm và cũng vì tủi hổ. Đồng bào tôi khổ cực như vậy; còn tôi, biết bao nhiêu lần rồi tôi phung phí tiền bạc trong thương xá Tax, hành lang Eden một cách vô tư đáng trách. Tôi đã đối xử rất không phải với những người giúp việc chỉ vì họ nghèo, tôi giàu. Tôi đã... trời ơi, làm sao xóa được trong cuộc đời nhung lụa của tôi những vết đen ấy?

-Đừng buồn Phượng ạ. Không phải lỗi ở chúng ta đâu. Chiến tranh rồi cũng sẽ chấm dứt. Chế độ nào tham tàn thì rồi sẽ bị lật đổ, đó là một quy luật tự nhiên. Ngày ấy, chúng ta sẽ quên hết đau buồn cũ để xây dựng lại một xã hội công bằng nhân đạo, ấm no.

Tôi say đắm nhìn Mẫn, nghĩ đến cái ngày ấy mà anh nói. Với Mẫn, ngày ấy là ngày vui của dân tộc. Tôi chưa đủ sức để hiểu như anh nhưng tôi hoàn toàn tin ở anh và nguyện gắng sức đi theo con đường ai đi. Cái ngày ấy, đối với tôi, đơn giản là ngày tôi được theo anh về miền Trung, đứng bên anh bên dòng sông Trà Khúc và yêu kính gọi mẹ anh bằng mẹ.

 

***

Câu chuyện đến đó thì dừng vì Phượng bận học bài thi. Cho đến bây giờ tôi cũng chưa gặp lại Phượng để nghe chị kể tiếp.

Dẫu sao tôi vẫn tin rằng cái ngày quê hương ta đổi mới, Mẫn đưa Phượng về thăm quê mình bên bờ sông Trà Khúc rồi sẽ đến. Để cho cô thiếu nữ Sài Gòn giàu sang, có trái tim biết yêu thương nòi giống, đồng bào, đến quỳ bên một người mẹ Việt Nam suốt đời nghèo khổ, thủ thỉ kể cho mẹ nghe những ngày cô bắt đầu vắt nước cam cho con mẹ uống. Ngày đó cô vẫn tưởng rằng mình như em gái chăm sóc người anh trai gầy ốm, cho tới hôm ngồi thơ thẩn một mình hàng giờ bên song cửa, nhìn mưa bụi bay lang thang trên những dãy đồi chiều xa, nhớ thương ai mà nước mắt tự nhiên dâng trào.

THANH KHÊ

Bruxelles mùa tựu trường 1972

Để tặng những người nữ sinh viên Việt Nam trên xứ Bỉ.

(tập san Về Nguồn, Bruxelles, 1972)

 

➖ ➖ ➖

 

2020-05-09

Chiếc lá cuối cùng (The last leaf) - O. Henry

2020-05-09

Chiếc lá cuối cùng

(The last leaf)

O. Henry


Trong một khu nhỏ ở phía Tây quảng trường Washington, đường phố chạy ngoằn ngoèo và tự cắt thành những mảnh nhỏ gọi là "biệt khu". Những "biệt khu" này tạo thành những góc và đường lượn kỳ lạ. Mỗi con phố tự cắt một hoặc hai lần.

Một dạo, có nghệ sĩ đã khám phá ra khả năng hữu ích của con phố này. Thử hình dung, một người khi thu hoá đơn tiền sơn, tiền giấy và tiền vải vẽ đi qua phố ấy, bỗng nhiên nhận thấy mình quay lại mà chưa thu được lấy một xu nào. Vậy nên chẳng mấy chốc cánh nghệ sĩ đổ xô dến ngôi làng Greenwich cổ kính kì quặc đó, săn tìm những cửa sổ phía Bắc, những đầu hồi thế kỉ thứ mười tám và những căn phòng áp mái kiểu Hà Lan với giá thuê rẻ. Rồi họ nhập khẩu vài cái xô chậu đúc bằng hợp kim chì và thiếc, một hoặc hai cái bếp lẩu từ đại lộ Thứ Sáu rồi hình thành nên "khu hoạ sĩ". Áp mái tòa nhà gạch ba tầng thấp tịt, Sue và Johnsy có một xưởng vẽ. Johnsy là tên gọi thân mật của Joanna. Một người từ Maine đến, còn người kia đến từ California. Họ gặp nhau tại Table d'hôte trong tiệm Delmonico trên phố Thứ Tám và nhận thấy có cùng sở thích về nghệ thuật, về món salad rau diếp, về kiểu ống tay áo ngoài rộng và hợp nhau đến nỗi kết quả là một xưởng vẽ chung ra đời. Dạo ấy là vào tháng Năm. Tháng Mười Một, gã khách lạ chưa hề được thấy mặt, lạnh lẽo, mà bác sĩ gọi là gã Viêm Phổi, rình rập đến khu họa sĩ, thỉnh thoảng vươn những ngón tay lạnh buốt của mình chạm vào ai đó. Khắp mạn Ðông, kẻ hủy diệt ấy hùng dũng bước đi, quật ngã hàng chục nạn nhân; nhưng khi qua những "biệt khu" đầy rêu và những con phố hẹp loằng ngoằng, bàn chân gã bước đi dè dặt. Ngài Viêm Phổi không thuộc hàng chính nhân quân tử. Một phụ nữ mảnh mai, máu kiệt dần bởi những cơn gió Tây miền California khó có thể là đối thủ chính đáng của gã đần có nắm đấm đỏ, thở dốc, già nua kia. Nhưng gã vẫn quật ngã Johnsy; cô nằm, hầu như không động đậy trên chiếc giường sắt sơn của mình, nhìn qua những ô kính cửa sổ nhỏ kiểu Hà Lan lên bức tường trống trơn của ngôi nhà gạch đối diện. Sáng nọ, ông bác sỹ có đôi mày rậm, đốm bạc gọi Sue ra hành lang.

 

- Ta có thể nói cơ hội sống của cô ấy chỉ còn lại một phần mười, - ông nói khi lắc nhiệt kế để thuỷ ngân hạ xuống.

- Nhưng cái phần đó còn phụ thuộc vào việc cô ấy có muốn sống nữa hay không. Cái kiểu con người cứ sắp hàng bên cạnh ông chủ nhà hòm như thế thì thuốc men cũng chẳng có nghĩa lí gì. Cô bạn bé nhỏ của cô đã nghĩ rằng mình sẽ không bình phục nữa. Cô ấy có điều gì vướng mắc trong đầu không?

- Bạn ấy - bạn ấy mong ước có ngày vẽ được vịnh Naples, - Sue đáp.

- Vẽ ư? Hừ! Cô ấy không có điều gì đáng để bận tâm gấp bội lần hơn ư? - một chàng trai, chẳng hạn?

- Một chàng trai à? - Sue nói, cao giọng như thể tiếng đàn chợt buông dây. - Một người đàn ông thì tốt ư? Nhưng, không, thưa bác sỹ, không có chuyện đó đâu.

- À, vậy ra chỉ tại yếu thôi, - bác sỹ nói. - Tôi sẽ cố hết sức chữa chạy bằng tất cả vốn liếng y học của mình. Nhưng một khi bệnh nhận bắt đầu tính có bao nhiêu xe dự tang lễ của mình thì tôi phải trừ đi năm mươi phần trăm công hiệu cứu chữa của thuốc men. Nếu cô có thể làm cho cô ấy hỏi về những mốt mới mùa đông, tay áo chẳng hạn, thì tôi chắc trong mười phần cô ấy đã khá lên hai thay vì một như bây giờ. Sau khi bác sĩ ra về, Sue vào phòng làm việc, khóc ướt đẫm cả chiếc khăn Nhật. Rồi cô bình tĩnh mang bảng vẽ vào phòng Johnsy, miệng huýt sáo một điệu nhạc Jazz. Johnsy nằm, quay mặt về phía cửa sổ, tấm chăn trên người hầu như không gợn vết nhăn nào. Sue ngừng huýt sáo bởi tưởng bạn đã ngủ. Cô dựng bảng vẽ và bắt đầu vẽ bức minh họa cho câu chuyện tạp chí bằng bút sắt. Những họa sĩ trẻ phải lát con đường đến nghệ thuật bằng các bức tranh minh họa cho những truyện trên tạp chí do các cây bút trẻ đã lát xuống để đến với văn học. Khi Sue đang vẽ phác chiếc quần dài cưỡi ngựa trang nhã và chiếc kính một mắt cho nhân vật chính của truyện, anh chàng cao bồi Idaho, thì cô nghe có tiếng thì thầm lặp đi lặp lại nhiều lần. Cô bước vội đến bên giường. Mắt Johnsy mở to. Cô đang nhìn ra cửa sổ và đếm - đếm lùi lại. - Mười hai, - cô đếm, ngừng một lát, - "mười một", rồi "mười", "chín"; rồi gần như cùng một lúc "tám" và "bảy". Sue lo lắng nhìn ra ngoài của sổ. Ðếm cài gì ở ngoài đó? Trong tầm mắt chỉ có một cái sân trơ trụi, ảm đạm và bức tường trống trơn của ngôi nhà gạch cách chừng sáu mét. Một dây trường xuân già, rất già, gốc cong queo và mục nát, leo đến giữa bức tường gạch. Hơi thở lạnh lẽo của mùa thu đã bứt lá của nó ra khỏi thân cho đến lúc chỉ còn trơ đám cành cây gần trụi hết lá bám vào những viên gạch nẻ sứt.

- Cái gì vậy hả bạn? - Sue hỏi.

- Sáu, - Johnsy nói như thể là tiếng thì thào. - Giờ thì chúng rụng nhanh hơn. Ba hôm trước phải gần cả trăm. Nó làm đầu mình phát đau lên khi đếm. Nhưng bây giờ thì dễ rồi. Một chiếc nữa đã đi. Giờ chỉ còn năm.

- Năm cái gì hả bạn? Nói cho Sudie của bạn biết đi.

- Những chiếc lá. Trên cây trường xuân. Khi chiếc cuối cùng rơi, chắc mình cũng ra đi. Mình biết điều đó đã ba ngày nay. Bác sĩ không nói gì với bạn sao?

- Ồ, mình không nghe những chuyện nhảm nhí như vậy đâu, - Sue trách với vẻ ân cần quả quyết. - Mấy chiếc lá trường xuân già đó thì có liên quan gì đến việc bạn bình phục kia chứ? Tại bạn quá yêu các dây leo ấy, thế đấy, bạn hư quá. Ðừng có nói dại nữa! À, sáng nay bác sỹ bảo mình rằng cơ hội bình phục nhanh của bạn là - để mình nhớ chính xác lời ông ấy - ông nói cơ hội chiếm đến chín phần mười! À, đấy là cơ hội gần chắc chắn như khi chúng ta đi ô tô hay đi bộ vượt qua một tòa nhà mới ở New York. Bây giờ hãy cố ăn tí cháo và để Sudie quay lại với bức vẽ, có thế thì bạn ấy mới có thể bán cho người biên tập rồi mua rượu vang port cho cô bé ốm yếu của bạn và lườn lợn cho cái bụng háu ăn của bạn ấy.

- Bạn không cần phải mua rượu vang nữa đâu, - Johnsy nói, mắt vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ. - Một chiếc nữa rơi rồi. Không, mình không muốn ăn cháo tí nào. Chỉ còn bốn chiếc lá. Mình muốn xem chiếc cuối cùng rụng trước khi trời tối. Rồi mình cũng sẽ đi theo. - Bạn Johnsy yêu quý ơi, - Sue cúi người xuống nói,

- bạn có hứa với mình là sẽ nhắm mắt và không nhìn ra ngoài cửa sổ cho đến khi mình làm xong việc không? Mình phải nộp mấy bức này vào ngày mai. Mình cần ánh sáng, nếu không thì mình đã buông rèm xuống.

- Bạn không thể vẽ ở phòng khác sao? - Johnsy hờ hững hỏi.

- Mình thích ở đây, bên bạn, - Sue đáp. - Hơn nữa mình không muốn bạn cứ dán mắt vào những chiếc lá trường xuân ngớ ngẩn ấy. - Khi nào bạn xong thì báo ngay cho mình nhé, - Johnsy nói, nhắm mắt lại và nằm im, tái nhợt như một pho tượng đổ, - bởi vì mình mình muốn xem chiếc lá cuối cùng rụng. Mình mệt mỏi vì chờ đợi. Mình rã rời vì suy nghĩ. Mình muốn tháo tung mọi thứ ràng buộc và dong buồm lướt đi, lướt đi tựa như một trong những chiếc lá mòn mỏi đáng thương kia.

- Hãy cố ngủ đi, - Sue nói. - Mình phải mời ông lão Behrman lên làm mẫu bức người thợ mỏ già khắc khổ. Mình sẽ đi một chốc thôi. Ðừng cố di chuyển cho đến khi mình quay lại. Ông lão Behrman là họa sĩ sống ở tầng trệt bên dưới nhà họ. Lão đã ngoài sáu mươi, có bộ râu xoăn như bức tượng Moses của Michael Angelo, lượn như tóc từ đầu của thần Satyr xuống thân hình một con quỷ nhỏ. Behrman không thành công trong nghệ thuật. Ðã bốn mươi năm múa bút mà lão chưa hề chạm tới được gấu áo Nữ thần của mình. Lão luôn ấp ủ ý định vẽ một kiệt tác, nhưng vẫn chưa bắt đầu. Suốt nhiều năm nay, lão chẳng vẽ được gì ngoại trừ thỉng thoảng làm mấy đường quảng cáo hay chào hàng. Lão kiếm được ít tiền bằng cách ngồi mẫu cho mấy nghệ sĩ trẻ trong khu "hoạ sĩ" ấy, những người không đủ tiền thuê người mẫu chuyên nghiệp. Lão uống gin quá độ, nhưng vẫn nói về kiệt tác sắp vẽ của mình. Còn những lúc khác, lão là một lão già nhỏ thó hung tợn, luôn chế nhạo tính nhu mì của bất kì ai và luôn tự xem mình như loại khuyển đặc biệt, canh phòng bảo vệ hai nghệ sĩ trẻ ở xưởng vẽ bên trên. Sue tìm thấy lão Behrman nồng nặc mùi rượu dâu nặng trong cái hang mờ tối của lão bên dưới. Trong góc phòng, một tấm vải trống, căng sẵn trên giá, vẫn đợi suốt hai mươi lăm năm nay chờ nét vẽ đầu tiên của bức kiệt tác. Cô kể cho lão nghe ý nghĩ lạ lùng của Johnsy và cái cách bạn ấy thực sự đuối đi, sắp lìa tung như một chiếc lá bay xa khi sự níu giữ mỏng manh của bạn ấy với thế giới này ngày một yếu hơn. Lão Behrman, đôi mắt đỏ ngấn lệ, oang oang biểu lộ sự khinh thường và công kích của mình trước chuyện tưởng tượng ngu ngốc như thế.

- Chà! Trên thế gian này còn có người ngốc đến độ muốn chết vì những chiếc lá lìa xa cái dây leo dớ dẩn kia ư? Ta chưa bao giờ nghe chuyện nào như thế cả. Không, ta sẽ không ngồi làm mẫu lão già đần độn khắc khổ ù lì của cô đâu. Sao cô lại để cái chuyện ngu ngốc ấy chui vào óc của cô ta? Ôi, tội nghiệp thay cho Johnsy bé bỏng.

- Bạn ấy ốm yếu lắm, - Sue nói, - và sốt đã làm đầu óc bạn ấy đâm bệnh hoạn, đầy rẫy những ý tưởng hoang đường. Thôi được, bác Behrman à, nếu bác không ngồi mẫu cho cháu thì cũng chẳng sao. Nhưng cháu nghĩ bác là một lão già cục cằn, ba hoa, lọm khọm.

- Cô đúng là đồ đàn bà! - lão Behrman hét lên. - Ai bảo ta không ngồi mẫu? Ði nào. Ta đi cùng cô. Ta đã nói suốt nửa tiếng đồng hồ rằng ta sẽ làm mẫu rồi cơ mà. Lạy Chúa! Ðây không phải là nơi để một người tử tế như cô Johnsy nằm dưỡng bệnh. Hôm nào đó ta sẽ vẽ kiệt tác đó và tất cả chúng ta sẽ giã từ chốn này. Lạy Chúa! Ðúng đấy. Johnsy đang ngủ khi hai người lên gác. Sue kéo rèm xuống che kín cửa sổ rồi ra hiệu cho lão Behrman sang phòng bên. Ở đấy, họ lo lắng nhìn ra cửa sổ, về phía cây trường xuân. Rồi hai người im lặng nhìn nhau một lát. Một cơn mưa lạnh, dai dẳng lẫn với tuyết đang rơi. Vận chiếc sơ mi xanh cũ, Behrman ngồi trên cái ấm lật úp, giả làm hòn đá trong tư thế người thợ mỏ khắc khổ. Sáng hôm sau, Sue thức giấc sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ, cô bắt gặp đôi mắt mở to, vô cảm của Johnsy nhìn trân trân vào tấm rèm xanh nơi cửa sổ. - Kéo hộ nó lên đi; mình muốn nhìn, - cô thì thào giục. Sue miễn cưỡng nghe lời. Nhưng, kìa! Sau một đêm mưa quật, gió mạnh lồng lộng không ngớt, trên bức tường gạch kia chiếc lá trường xuân vẫn đứng nương vào vách. Ðấy là chiếc lá cuối cùng. Vẫn xanh thẫm nơi gần cuống lá, nhung quanh rìa đã ngả màu vàng sẫm và hư hoại; chiếc lá vững chãi bám chắc vào cành cây cách mặt đất chừng sáu mét.

- Ðấy là chiếc lá cuối cùng, - Johnsy nói. - Mình tưởng chắc nó đã rơi đêm qua rồi. Mình nghe tiếng gió. Hôm nay chắc nó sẽ rơi và lúc ấy mình cũng sẽ chết.

- Bạn yêu quý, - Sue nói, mặt hốc hác cúi xuống gối, - nếu bạn không nghĩ về bản thân thì hãy nghĩ đến mình. Mình biết làm gì bây giờ? Nhưng Johnsy không trả lời. Trên cõi đời này, cái cô độc nhất là một linh hồn đang chuẩn bị sẵn sàng để đi xa trên hành trình bí ẩn của nó. Ý nghĩ đó dường như chế ngự cô mạnh hơn khi từng tí, sợi dây ràng buộc cô với tình bạn, với thế gian này đang chùng ra. Ngày trôi qua và ngay đến khi trong ánh hoàng hôn họ vẫn còn thấy chiếc lá trường xuân cô đơn bám chặt lấy thân cây tựa trên bờ vách. Và rồi khi bóng đêm tràn đến, gió bắc lại lồng lên trong lúc mưa vẫn nặng hạt quật vào cửa sổ, rơi xuống từ mái hiên thấp kiểu Hà Lan. Lúc trời vừa hửng sáng, Johnsy tàn nhẫn yêu cầu kéo rèm lên. Chiếc lá trường xuân vẫn còn đó. Johnsy nằm nhìn nó hồi lâu. Lát sau cô gọi nhẹ Sue, đang nấu cháo gà cho cô trên cái bếp ga.

- Mình đúng là đồ tệ thật, Sudie à, - Johnsy nói. - Cái điều đã khiến chiếc lá cuối cùng kia nằm đấy đã cho mình thấy mình là kẻ nhẫn tâm như thế nào. Muốn chết là tội lỗi. Bây giờ bạn cho mình xin một tí cháo, ít sữa có pha tí rượng vang, và... khoan đã, đưa cho mình chiếc gương tay trước rồi sắp mấy cái gối quanh mình, mình sẽ ngồi dậy xem bạn nấu. Một giờ sau cô nói:

- Sudie à, hôm nào đó mình hi vọng sẽ vẽ vịnh Naples. Buổi chiều bác sỹ đến, khi ông về, Sue kiếm cớ để theo ra hành lang.

- Thoát rồi, - bác sỹ nắm bàn tay gầy guộc run run của Sue và nói. - Bằng tài chăm sóc khéo léo, cô đã chiến thắng. Bây giờ tôi phải đi thăm một ca khác ở dưới lầu. Behrman, tên ông ấy... tôi chắc đó là một nghệ sĩ. Cũng bị viêm phổi. Ông ấy đã già yếu mà bệnh tình thì lại nguy kịch. Không còn hi vọng, nhưng hôm nay ông ấy sẽ nhập viện để được chăm sóc kỹ càng hơn. Hôm sau bác sỹ bảo Sue:

- Cô ấy đã qua cơn hiểm nghèo. Cô đã thắng. Bây giờ chỉ cần bồi dưỡng và chăm sóc chu đáo, thế thôi. Chiều hôm ấy Sue đến bên giường, nơi Johnsy đang nằm bình thản đan nhì nhằng chiếc khăn choàng len xanh thẫm và choàng tay ôm lấy người Johnsy với cả đống gối.

- Mình có chuyện kể đây, chuột bạch này, - cô nói. - Hôm nay, bác Behrman mất vì viêm phổi ở bệnh viện. Bác chỉ ốm có hai ngày. Sáng hôm đầu tiên, người gác cổng đã thấy bác quằn quại đau trong phòng của bác nơi tầng trệt. Giày và quần áo bác ướt sũng, lạnh băng. Họ không thể hình dung bác đã ở đâu vào cái đêm khủng khiếp như thế. Rồi khi họ tìm thấy chiếc đèn lồng, hãy còn sáng và cái thang đã bị kéo khỏi chỗ của nó, mấy chiếc bút lông vương vãi và một bảng pha mầu với xanh vàng hòa lẫn, và... nhìn ra cửa sổ kia, bạn, chỗ chiếc lá trường xuân cuối cùng ấy. Bạn không ngạc nhiên là tại sao nó chẳng hề rung rinh hay di chuyển khi gió thổi? Ồ, bạn thân thương ơi, đấy là kiệt tác của bác Behrman... bác vẽ nó ở đó vào cái đêm chiếc lá cuối cùng rơi.

➖➖➖



 

The Last Leaf

IN A LITTLE DISTRICT west of Washington Square the streets have run crazy and broken themselves into small strips called 'places.' These 'places' make strange angles and curves. One street crosses itself a time or two. An artist once discovered a valuable possibility in this street. Suppose a collector with a bill for paints, paper and canvas should, in traversing this route, suddenly meet himself coming back, without a cent having been paid on account!

So, to quaint old Greenwich Village the art people soon came prowling, hunting for north windows and eighteenth-century gables and Dutch attics and low rents. Then they imported some pewter mugs and a chafing dish or two from Sixth Avenue, and became a 'colony.'

At the top of a squatty, three-story brick Sue and Johnsy had their studio. 'Johnsy' was familiar for Joanna. One was from Maine, the other from California. They had met at the table d'hôte of an Eighth Street 'Delmonico's,' and found their tastes in art, chicory salad and bishop sleeves so congenial that the joint studio resulted.

That was in May. In November a cold, unseen stranger, whom the doctors called Pneumonia, stalked about the colony, touching one here and there with his icy finger. Over on the East Side this ravager strode boldly, smiting his victims by scores, but his feet trod slowly through the maze of the narrow and moss-grown 'places.'

Mr. Pneumonia was not what you would call a chivalric old gentleman. A mite of a little woman with blood thinned by Californian zephyrs was hardly fair game for the red-fisted, short-breathed old duffer. But Johnsy he smote; and she lay, scarcely moving, on her painted iron bedstead, looking through the small Dutch window-panes at the blank side of the next brick house.

One morning the busy doctor invited Sue into the hallway with a shaggy, grey eyebrow.

'She has one chance in - let us say, ten,' he said, as he shook down the mercury in his clinical thermometer. 'And that chance is for her to want to live. This way people have of lining-up on the side of the undertaker makes the entire pharmacopoeia look silly. Your little lady has made up her mind that she's not going to get well. Has she anything on her mind?'

'She - she wanted to paint the Bay of Naples some day,' said Sue.

'Paint? - bosh! Has she anything on her mind worth thinking about twice - a man, for instance?'

'A man?' said Sue, with a jews'-harp twang in her voice. 'Is a man worth - but, no, doctor; there is nothing of the kind.'

'Well, it is the weakness, then,' said the doctor. 'I will do all that science, so far as it may filter through my efforts, can accomplish. But whenever my patient begins to count the carriages in her funeral procession I subtract 50 per cent from the curative power of medicines. If you will get her to ask one question about the new winter styles in cloak sleeves I will promise you a one-in-five chance for her, instead of one in ten.'

After the doctor had gone, Sue went into the workroom and cried a Japanese napkin to a pulp. Then she swaggered into Johnsy's room with her drawing-board, whistling ragtime.

Johnsy lay, scarcely making a ripple under the bedclothes, with her face toward the window. Sue stopped whistling, thinking she was asleep.

She arranged her board and began a pen-and-ink drawing to illustrate a magazine story. Young artists must pave their way to Art by drawing pictures for magazine stories that young authors write to pave their way to Literature.

As Sue was sketching a pair of elegant horseshow riding trousers and a monocle on the figure of the hero, an Idaho cowboy, she heard a low sound, several times repeated. She went quickly to the bedside.

Johnsy's eyes were open wide. She was looking out the window and counting - counting backward.

'Twelve,' she said, and a little later, 'eleven'; and then 'ten,' and 'nine'; and then 'eight' and 'seven,' almost together.

Sue looked solicitously out the window. What was there to count? There was only a bare, dreary yard to be seen, and the blank side of the brick house twenty feet away. An old, old ivy vine, gnarled and decayed at the roots, climbed half-way up the brick wall. The cold breath of autumn had stricken its leaves from the vine until its skeleton branches clung, almost bare, to the crumbling bricks.

'What is it, dear?' asked Sue.

'Six,' said Johnsy, in almost a whisper. 'They're falling faster now. Three days ago there were almost a hundred. It made my head ache to count them. But now it's easy. There goes another one. There are only five left now.'

'Five what, dear? Tell your Sudie.'

'Leaves. On the ivy vine. When the last one falls I must go too. I've known that for three days. Didn't the doctor tell you?'

'Oh, I never heard of such nonsense,' complained Sue, with magnificent scorn. 'What have old ivy leaves to do with your getting well? And you used to love that vine so, you naughty girl. Don't be a goosey. Why, the doctor told me this morning that your chances for getting well real soon were - let's see exactly what he said - he said the chances were ten to one! Why, that's almost as good a chance as we have in New York when we ride on the street-cars or walk past a new building. Try to take some broth now, and let Sudie go back to her drawing, so she can sell the editor man with it, and buy port wine for her sick child, and porkchops for her greedy self.'

'You needn't get any more wine,' said Johnsy, keeping her eyes fixed out the window.

'There goes another. No, I don't want any broth. That leaves just four. I want to see the last one fall before it gets dark. Then I'll go too.'

'Johnsy, dear,' said Sue, bending over her, 'will you promise me to keep your eyes closed, and not look out of the window until I am done working? I must hand those drawings in by tomorrow. I need the light or I would draw the shade down.'

'Couldn't you draw in the other room?' asked Johnsy coldly.

'I'd rather be here by you,' said Sue. 'Besides, I don't want you to keep looking at those silly ivy leaves.'

'Tell me as soon as you have finished,' said Johnsy, closing her eyes, and lying white and still as a fallen statue, 'because I want to see the last one fall. I'm tired of waiting. I'm tired of thinking. I want to turn loose my hold on everything, and go sailing down, down, just like one of those poor, tired leaves.'

'Try to sleep,' said Sue. 'I must call Behrman up to be my model for the old hermit miner. I'll not be gone a minute. Don't try to move till I come back.'

Old Behrman was a painter who lived on the ground floor beneath them. He was past sixty and had a Michael Angelo's Moses beard curling down from the head of a satyr along the body of an imp. Behrman was a failure in art. Forty years he had wielded the brush without getting near enough to touch the hem of his Mistress's robe. He had been always about to paint a masterpiece, but had never yet begun it. For several years he had painted nothing except now and then a daub in the line of commerce or advertising. He earned a little by serving as a model to those young artists in the colony who could not pay the price of a professional. He drank gin to excess, and still talked of his coming masterpiece. For the rest he was a fierce little old man, who scoffed terribly at softness in anyone, and who regarded himself as especial mastiff-in-waiting to protect the two young artists in the studio above.

Sue found Behrman smelling strongly of juniper berries in his dimly-lighted den below. In one corner was a blank canvas on an easel that had been waiting there for twenty-five years to receive the first line of the masterpiece. She told him of Johnsy's fancy, and how she feared she would, indeed, light and fragile as a leaf herself, float away when her slight hold upon the world grew weaker.

Old Behrman, with his red eyes plainly streaming, shouted his contempt and derision for such idiotic imaginings.

'Vass!' he cried. 'Is dere people in de world mit der foolishness to die because leafs dey drop off from a confounded vine? I haf not heard of such a thing. No, I vill not bose as a model for your fool hermit-dunderhead. Vy do you allow dot silly pusiness to come in der prain of her? Ach, dot poor little Miss Yohnsy.'

'She is very ill arid weak,' said Sue, 'and the fever has left her mind morbid and full of strange fancies. Very well, Mr. Behrman, if you do not care to pose for me, you needn't. But I think you are a horrid old - old flibberti-gibbet.'

'You are just like a woman!' yelled Behrman. 'Who said I vill not bose? Go on. I come mit you. For half an hour I haf peen trying to say dot I am ready to bose. Gott! dis is not any blace in which one so goot as Miss Yohnsy shall lie sick. Some day I vill baint a masterpiece, and ve shall all go avay. Gott! yes.'

Johnsy was sleeping when they went upstairs. Sue pulled the shade down to the window-sill and motioned Behrman into the other room. In there they peered out the window fearfully at the ivy vine. Then they looked at each other for a moment without speaking. A persistent, cold rain was falling, mingled with snow. Behrman, in his old blue shirt, took his seat as the hermit-miner on an upturned kettle for a rock.

When Sue awoke from an hour's sleep the next morning she found Johnsy with dull, wide-open eyes staring at the drawn green shade.

'Pull it up! I want to see,' she ordered, in a whisper.

Wearily Sue obeyed.

But, lo! after the beating rain and fierce gusts of wind that had endured through the livelong night, there yet stood out against the brick wall one ivy leaf. It was the last on the vine. Still dark green near its stem, but with its serrated edges tinted with the yellow of dissolution and decay, it hung bravely from a branch some twenty feet above the ground.

'It is the last one,' said Johnsy. 'I thought it would surely fall during the night. I heard the wind. It will fall to-day, and I shall die at the same time.'

'Dear, dear!' said Sue, leaning her worn face down to the pillow; 'think of me, if you won't think of yourself. What would I do?'

But Johnsy did not answer. The lonesomest thing in all the world is a soul when it is making ready to go on its mysterious, far journey. The fancy seemed to possess her more strongly as one by one the ties that bound her to friendship and to earth were loosed.

The day wore away, and even through the twilight they could see the lone ivy leaf clinging to its stem against the wall. And then, with the coming of the night the north wind was again loosed, while the rain still beat against the windows and pattered down from the low Dutch eaves.

When it was light enough Johnsy, the merciless, commanded that the shade be raised.

The ivy leaf was still there.

Johnsy lay for a long time looking at it. And then she called to Sue, who was stirring her chicken broth over the gas stove.

'I've been a bad girl, Sudie,' said Johnsy. 'Something has made that last leaf stay there to show me how wicked I was. It is a sin to want to die. You may bring me a little broth now, and some milk with a little port in it, and - no; bring me a hand-mirror first; and then pack some pillows about me, and I will sit up and watch you cook.'

An hour later she said –

'Sudie, some day I hope to paint the Bay of Naples.'

The doctor came in the afternoon, and Sue had an excuse to go into the hallway as he left.

'Even chances,' said the doctor, talking Sue's thin, shaking hand in his. 'With good nursing you'll win. And now I must see another case I have downstairs. Behrman, his name is -- some kind of an artist, I believe. Pneumonia, too. He is an old, weak man, and the attack is acute. There is no hope for him; but he goes to the hospital to-day to be made more comfortable.'

The next day the doctor said to Sue: 'She's out of danger. You've won. Nutrition and care now - that's all.'

And that afternoon Sue came to the bed where Johnsy lay, contentedly knitting a very blue and very useless woollen shoulder scarf, and put one arm around her, pillows and all.

'I have something to tell you, white mouse,' she said. 'Mr. Behrman died of pneumonia today in hospital. He was ill only two days. The janitor found him on the morning of the first day in his room downstairs helpless with pain. His shoes and clothing were wet through and icy cold. They couldn't imagine where he had been on such a dreadful night. And then they found a lantern, still lighted, and a ladder that had been dragged from its place, and some scattered brushes, and a palette with green and yellow colours mixed on it, and - look out the window, dear, at the last ivy leaf on the wall. Didn't you wonder why it never fluttered or moved when the wind blew? Ah, darling, it's Behrman's masterpiece - he painted it there the night that the last leaf fell.'

 

➖ ➖ ➖

 

Việt Điện U Linh Tập - Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) - Lý Tế Xuyên

 2026-10-10 Việt Điện U Linh Tập Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) ...