2023-07-15
Lĩnh
Nam chích quái (9, 10, 11, 12)
Minh
họa của Tạ Huy Long
---
Trần
Thế Pháp (sáng tác ~ 1370-1400)
Vũ
Quỳnh hiệu đính (1492)
Bản
dịch của GS. Lê Hữu Mục (1960)
► IX. Truyện dưa hấu
► X. Truyện bạch trĩ
► XI. Truyện Lý Ông Trọng
► XII. Truyện Việt Tỉnh
IX
Truyện dưa hấu
Ngày
xưa, đời Hùng Vương có một người tên là Mai An Tiêm, người ngoại quốc, mới được
bảy tuổi, do thuyền buôn chở đến. Vương mua về làm đầy tớ, kịp lúc lớn lên thì
diện mạo đoan chính, nhớ biết nhiều việc.
Vương
đặt tên là Yển, tên chữ là An Tiêm và cho một người thiếp, sinh được một trai,
Vương yêu dùng để sai bảo, dần dần Yển thành phú quý, ai cũng úy phục, và chen
nhau đến dâng lễ vật không thức gì là không có; Yển sinh ra kiêu mạn, thường tự
bảo rằng:
–
Của cải này là vật tiền thân của ta, ta không từng trông nhờ vào ơn chúa.
Hùng
Vương nghe được, cả giận nói rằng.
–
Làm thần tử mà nó không biết ơn chúa, sinh ra kiêu mạn, nói rằng của cải đều là
vật tiền thân của nó. Bây giờ ta đem bỏ nó ra ngoài biển, ra cái chỗ không người
ấy coi thử nó có còn cái vật tiền thân của nó nữa hay không?
Bèn
đày Mai Yển ra ngoài bãi cát cửa biển Nga Sơn, tứ phía không có dấu chân người
đi đến, chỉ để cho lương thực đủ dùng trong bốn năm tháng mà thôi, ăn hết là chết
đói. Chị vợ khóc ầm lên, bảo rằng ta chắc chết ở đây không lý gì sống được.
Tiêm
nói:
–
Trời đã sinh thì trời phải dưỡng, có lo gì?
Ở
chưa bao lâu, đương lúc tháng Tư, bỗng thấy một con bạch hạc từ phương tây bay
lại, đậu lên một mỏm núi cao, kêu lên ba bốn tiếng thì sáu bảy hạt dưa rơi trên
mặt cát, đâm chồi nẩy lộc, lan trên cát, xanh tốt rườm rà, rồi kết thành trái
dưa, nhiều không kể xiết.
An
Tiêm mừng rỡ nói:
–
Đây đâu phải là quái vật, đó là trời cho để nuôi ta đó.
Bổ
dưa ra ăn thì mùi vị thơm tho ngọt ngào, ăn vào thì tinh thần khỏe khoắn; rồi cứ
mỗi năm trỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi lấy lúa gạo nuôi vợ con. Nhưng
không biết dưa ấy tên là gì, mới nhân chim tha từ phương tây đem đến nên đặt
tên là Tây qua.
Nhưng
khách chài lưới, buôn bán, ưa mùi vị của nó đều đem phẩm vật của mình để đổi lấy
dưa. Nhân dân xa gần, trên rừng dưới bến tranh nhau mua hạt, bắt chước trong tỉa
khắp bốn phương; dân gian suy tôn An Tiêm làm “Tây qua phụ mẫu”.
Lâu
ngày, Vương nhớ đến An Tiêm, sai người đến chỗ An Tiêm ở hỏi thăm có còn sống
hay không.
Người
ấy về tâu lại với Vương. Vương than thở hồi lâu mới nói rằng:
–
Nó bảo là vật tiền thân của nó, thực là không nói dối vậy.
Vương
bèn triệu An Tiêm về, trả quan chức lại và cho tỳ thiếp, đặt tên chỗ An Tiêm ở
là “An Tiêm Sa Châu”; thôn ấy gọi là Mai An, đến nay còn lấy tây qua tôn phụng
tổ khảo mà tế tự, là khởi đầu từ An Tiêm vậy.
➖➖➖
X
Truyện bạch trĩ
Thời
Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai sứ thần đem qua dâng cho nhà Chu giống chim
bạch trĩ, nhưng ngôn ngữ bất thông, Chu Công sai người dịch lại mới hiểu.
Chu
Công hỏi rằng:
–
Người Giao Chỉ cắt tóc, vẽ hình, để đầu trần, ngón chân cong, là tại làm sao?
Sứ
giả thưa rằng:
–
Cắt tóc để tiện vào rừng; vẽ mình để làm hình rồng, khi lặn lội dưới nước thì
giao long không dám phạm đến; chân cong để tiện trèo cây, cày dao, đốt lửa,
gieo lúa; đầu trần để khử nóng bức, ăn cau trầu để trừ ô uế và làm cho răng
đen.
Chu
Công hỏi:
–
Vì sao mà đến đây?
Sứ
giả thưa:
–
Trời không gió lớn mưa dầm, biển không nổi sóng nay đã ba năm, ngỡ là Trung Quốc
có thánh nhân nên mới sang đây.
Chu
Công than rằng:
–
Chính lệnh không đến, quân tử không bắt người xa làm tôi, đức trạch không thêm,
quân tử không hưởng của cống.
Kịp
nhớ đến Hoàng Đế có lời thề rằng: “Giao Chỉ ở ngoài phương xa không được xâm phạm”,
mới thưởng cho trọng vật, khuyên dạy rồi bảo về. Sứ giả quên mất đường về, Chu
Công cho một cỗ xe hai ngựa, khiến cứ chỉ hướng Nam mà về.
Đức
Khổng Tử làm sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là đất yêu hoang, văn vật chưa
hoàn bị nên bỏ mà không chép vậy.
➖➖➖
QUYỂN THỨ NHÌ (11 truyện)
XI
Truyện Lý Ông Trọng
Cuối
đời Hùng Vương, ở huyện Từ Liêm, quận Giao Chỉ, có một người họ Lý tên là Thân,
sinh ra to lớn, cao hai trượng ba thước; hung tợn, Thân giết người, tội đáng tử
hình, nhưng Hùng Vương tiếc không nỡ giết.
Đến
đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn đem binh sang đánh nước ta, An Dương
Vương bèn đem Lý Thân cống hiến; Thủy Hoàng được Lý Thân rất mừng, dùng làm
quan Ty Lệ hiệu úy, Kịp lúc Thủy Hoàng nhất thống thiên hạ, Thân được sai đem
binh ra giữ Lâm Thao, Hung nô không dám gần biên tái nên Thân được phong tước Vạn
Tín Hầu, và được cho trở về nước. Sau Hung nô xâm phạm bờ cõi, Thủy Hoàng nhớ đến
Lý Thân sai sứ sang vời; Thân không chịu đi mới trốn vào rừng khe; vua Tần
trách hỏi; An Dương Vương tìm lâu không được, nói dối là Thân đã chết rồi, Vua
Tần hỏi chết vì cớ gì. An Dương trả lời là đau bệnh tả. Thủy Hoàng sai Sứ sang
nghiệm xem có phải không thì An Dương cho nấu cháo đổ xuống ao để làm thực
tích. Thủy Hoàng bảo lấy thây đưa qua; Lý Thân bất đắc dĩ phải tự tận mà chết;
người ta lấy thủy ngân ướp vào thây Lý Thân đưa sang nạp. Thủy Hoàng than tiếc,
bảo đúc đồng làm tượng ông, ban hiệu là Lý Ông Trọng; tượng đặt ở cửa Tư Mã đất
Hàm Dương, ruột tượng có thể chứa được vài mươi người; mỗi khi có Sứ bốn phương
đến, vua sai người lén vào làm cho tượng dao động; Hung nô tưởng là Hiệu úy còn
sống, không dám đến gần. Đến đời nhà Đường, Triệu Xương sang làm Đô Hộ Giao
Châu, đêm mộng thấy cùng với Lý Thân giảng sách Xuân Thu của họ Tả, nhân đó hỏi
nhà cũ ở đâu rồi lập đền thờ phụng.
Kịp
lúc Cao Biền bình Nam Chiếu, Lý Thân thường hiển linh ứng; Cao Biền trùng tu miếu
vũ, khắc gỗ làm tượng, gọi là đền thờ Lý hiệu úy, bây giờ ở tại huyện Từ Liêm,
xã Thị Hiện (nay là xã Thụy Hương) cách phía tây Kinh thành năm mươi dặm, mỗi
năm đến tế vậy.
➖➖➖
XII
Truyện Việt Tỉnh
Việt
Tỉnh ở núi Trâu Sơn, quận Vũ Ninh; đời Hùng Vương thứ ba, Ân Vương cử binh Nam
xâm, đóng quân ở núi Trâu Sơn; Hùng Vương cầu Long quân giúp, Long quân bao tìm
khắp thiên hạ, nếu được người kỳ tài thì dẹp được giặc; đến kỳ cầu được Đổng
Thiên Vương cỡi ngựa sắt đi đánh, tướng sĩ nhà Ân đều tan vỡ. Ân Vương chết ở
dưới núi, làm Địa Phủ Quân; dân lập đền thờ, bốn mùa cúng tế nhưng lâu năm suy
dần bỏ thành chùa hoang.
Người
bản quốc tên là Thôi Lạng làm quan nhà Tần đến chức Ngự Sử Đại Phu thường đi
ngang qua đấy, thương cảnh điêu tàn mới trùng tu miếu cũ lại, nhân đó có đề một
bài thơ:
Cổ
nhân truyền tụng chuyện Ân Vương.
Tuần
thú năm kia đến địa phương.
Núi
rậm, nước trôi không thấy miếu;
Hồn
thăng, dấu để vẫn nghe hương,
Một
mai thắng bại không Ân đức,
Muôn
thuở uy linh trấn Việt Thường.
Trăm
họ từ đây đều phụng tự.
Âm
phù vận nước vững vô cương.
Sau
đến đời Nhâm Ngao, Triệu Đà Nam xâm lại đóng quân ở núi này, lại trùng tu miếu
mạo, cúng tế hậu hĩnh; Ân vương cảm đức, muốn đền công cho Thôi Lạng mới sai Ma
Cô Tiên đi tìm khắp nơi. Lúc bấy giờ Thôi Lạng đã chết, chỉ còn con là Thôi Vỹ.
Tiết
Thượng nguyên tháng Giêng, phương dân đi lễ đền, có người cúng một cặp bình pha
lê. Ma Cô cầm lên tay ngắm nghía, bỗng bình rơi xuống đất, vỡ sứt một mảnh; người
ta bắt Ma Cô lại đòi bồi thường; Ma Cô mặc áo rách, không ai biết là người
tiên; họ mới lấy roi đánh. Thôi Vỹ thấy thế thương hại, cổi áo đền hộ nàng; Ma
Cô được khỏi đánh, nhân đó hỏi đến chỗ ở của Thôi Vỹ; Thôi Vỹ nói đến tên cha
thì nàng mới hay là con Thôi Lạng. Nàng mừng bảo rằng:
–
Ta bây giờ không có lấy gì để đền ơn, sau này chàng sẽ được hậu báo.
Bèn
đưa cho Thôi Vỹ một tấm lá ngải và dặn rằng:
–
Hãy giữ lấy vật này cho cẩn thận, lúc nào cũng để trong mình, gặp bệnh nhục ảnh
[1] mà đem cứu tất khỏi, rồi thế nào cũng được giàu sang phú quý.
Thôi
Vỹ cầm lấy lá ngải nhưng cũng chẳng biết đó là thuốc tiên.
Một
hôm đi đến nhà Đạo sĩ Ứng Huyền, thấy Huyền có một cái nhọt trên đầu, Vỹ nói:
–
Tôi có lá ngải trị được bệnh này, để tôi trừ cho.
Thôi
Vỹ lấy ngải cứu cho Ứng Huyền, cái nhọt của Ứng Huyền liền tiêu tan. Ứng Huyền
nói:
–
Ấy là thứ thuốc tiên vậy, tôi không có gì đền đáp cho anh, tôi có một người
thân thích cũng đau bệnh này, thường nói rằng ai chữa cho bệnh lành được thì dầu
hết gia tài cũng chẳng hề tiếc, tôi đem anh qua đó để chữa cho họ và để đền ơn
anh.
Ứng
Huyền đem Thôi Vỹ sang nhà Nhâm Ngao; Thôi Vỹ lấy ngải ra cứu, cái nhọt lập tức
lành ngay. Nhâm Ngao rất mừng, nuôi Vỹ làm con, mở trường để dạy Vỹ; tính Vỹ
thông minh, ưa thích đàn cầm, thấy con gái Nhâm Ngao là Phương Dung mới đem
lòng yêu dấu, nhân cùng nàng tư thông, tình ý quyến luyến; con Ngao là Nhâm Phu
biết được, muốn làm cho Vỹ chết.
Đến
cuối năm, có lễ tế thần Xương Cuồng, người ta chưa tìm được người tế nên Nhâm
Phu bảo Vỹ:
–
Ngày nay không nên đi ra ngoài, hãy vào Công sảnh mà tránh đi thì sau này khỏi
hối.
Thôi
Vỹ chưa hiểu ý là làm sao, Nhâm Phu đã khóa chặt cửa lại, bảo không được ra.
Phương Dung biết ý, lén lấy con dao đưa cho Vỹ, bảo đục vách mà ra.
Đêm
khuya, Thôi Vỹ trốn đi, muốn đến nhà Ứng Huyền, lật đật đi trên núi, rủi rơi
vào trong một cái hang, tứ phía đều là vách đá không có chỗ nào trèo lên được, ở
trên có một khối đá rỏ sữa đá chảy xuống một chiếc mâm đá, có một con rắn trắng
dài trăm thước, mỏ vàng miệng đỏ, vây bạc, dưới cầm có một cái bướu thịt, trên
trán có ba chữ vàng: “Vương tử xà”, bò ra ăn thạch nhũ; thấy trên thạch bàn hết
cả, rắn cất đầu lên thấy Vỹ toan muốn nuốt đi; Thôi Vỹ sợ quá, quỳ xuống lạy rằng:
–
Thần tỵ nạn, lầm rơi xuống đây, đói bụng nên có ăn trộm vương vật, thực là có tội,
dưới cầm vương có một cái nhọt, thần xin lấy ngải cứu lành, xin tha tội để thần
trổ nghề mọn này.
Bạch
xà lập tức ngang đầu lên cho Vỹ cứu, bỗng thấy đồng nội bị cháy, một tia lửa
bay vào trong hang, Vỹ lấy lửa cứu cho rắn, cái nhọt liền tiêu ngay. Rắn mới
khom mình đến trước Vỹ, ý muốn bảo Vỹ cỡi lên, Vỹ cỡi lên lưng rắn, rắn bò ra
hang, ước một canh thì đến trên bờ, bờ vắng vẻ không có người nào đi lại; rắn
quấn đuôi lại trở về hang.
Vỹ
đi một mình, lạc đường, bỗng thấy trên cửa thành có một cái lầu cao, ngói đỏ
lóng lánh, đèn sáng rực rỡ, trước cửa có treo một tấm biển đỏ chữ vàng đề là
“Ân Vương Thành”. Vỹ ngồi bên cửa thành, hồi lâu không thấy có người nào qua lại
mới bước vào cửa sân, thấy bên sân có một cái ao, trong ao có hoa sen năm sắc,
trên bờ có nhiều rặng hòe liễu; đường lát bằng phẳng, ngọc điện châu cung, tòa
ngang dãy dọc; trên điện đặt hai cái giường vàng trải chiếu hoa bạc, trên tường
có treo một cây đàn cầm đàn sắt. Vỹ thong thả bước đến lấy cây đàn gảy một hồi
lâu.
Kim
đồng, ngọc nữ vài trăm người hầu bà Ân Vương Hậu mở cửa đi ra. Vỹ sợ quá, chạy
xuống sân điện sụp lạy. Bà An Hậu cười bảo rằng:
–
Thôi quan nhân ở đâu lại?
Sai
người mời lên trên điện, bảo rằng:
–
Đền thờ của Ân Vương ta lâu đời bỏ hoang phế, nhờ sức của Tiền thần Ngự sử
trùng tu lại, người đời mới bắt chước thờ cúng luôn luôn. Vương đã sai Ma Cô đi
tìm để báo đức nhưng không gặp được Ngự sử, chỉ gặp Công tử nên chưa có dịp đền
đáp, nay thân được thấy mặt thì Thượng đế đòi Vương lên chầu trời rồi, thôi
Công tử ở lại đây đợi vậy.
Rồi
lưu Thôi Vỹ ở lại ăn uống no say.
Bỗng
thấy một người râu dài bụng lớn, cầm một lờ biểu quỳ mà tâu rằng:
–
Tháng Giêng ngày mồng ba, Nhâm Ngao bị thần Xương Cuồng đánh chết.
Nghe
tâu xong, Hậu bảo rằng:
–
Dương Quan Hậu đưa Thôi Vỹ về trần.
Vỹ
cáo tạ mà về. Dương Quan bảo Vỹ nhắm mắt ngồi lên trên một chiếc quạt, hơn một
khắc đã đến trên núi; Dương Quan Nhân hóa làm dê đá, đứng ở trên núi, ngày nay
hãy còn sau đền thờ Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn.
Sau
Vỹ về đến nhà Ứng Huyền thuật chuyện cho Ứng Huyền nghe. Đến ngày mồng một
tháng Tám, Vỹ cùng với Huyền đi chơi thì gặp Ma Cô Tiên dắt một người con gái
đem cho Vỹ, bảo đem về làm vợ chồng, lại cho hòn ngọc Long Toại, nói đó là ngọc
châu, từ thuở trời đất mới khai tịch đã có một cặp trống mái từ đời Hoàng Đế trải
đến đời Ân truyền làm thế bảo; trong trận đánh Trâu Sơn, Ân vương đeo nó mà chết,
ngọc châu giấu trong đất mà tia sáng chiếu thẳng lên trời. Thời nhà Tần, binh hỏa
liên miên, những vật trân bảo đều bị đốt cháy; các nhà vọng khí đều biết hòn ngọc
Long Toại còn ở phương Nam. Người Tàu đem vàng bạc gấm vóc trị giá trăm vạn để
tìm mua; Vỹ nhân đấy đại phú.
Sau
Ma Cô Tiên rước vợ chồng Thôi Vỹ đi không biết là đi đâu. Nay giếng bỏ hoang
thành bẩn thỉu, hang thì còn ở núi Trâu Sơn. Người đời gọi là Việt Tỉnh Cương vậy.
[1] Thịt thừa.
➖➖➖