2026-09-12
Việt
Điện U Linh Tập
Xung
Thiên Dũng Liệt Chiêu Ứng Uy Tín Đại Vương
(Chuyện
Thần Phù Đổng)
ChatGPT
minh họa
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Xét
truyện Báo Cực chép rằng: Đời truyền Vương vốn là thần Thổ Địa chùa Kiến Sơ
giáng sinh.
Xưa
kia Thuyền sư Chí Thành ở chùa Kiến Sơ tại làng Phù Đổng có lập đền thờ Thổ Địa
ở bên hữu chùa để làm nơi tụng niệm cho thanh tĩnh. Năm tháng chầy lâu, mất cả
sự tích, bọn thầy tang môn không rõ chứng cứ. Thổ dân bản xứ ưa việc ma quỷ thì
đốt hương khấn vái, lạm xưng là Dâm Từ. Kịp đến lúc Thuyền sư Đa Bảo sửa lại
chùa, cho đền thờ ấy là Dâm Từ muốn đập phá đi. Ngày kia ở gốc cây cổ thụ nơi
Thần từ có đề bài kệ rằng:
Phép
Phật ai gìn giữ?
Đợi
nghe lời Kỳ viên.
Nếu
không ta vun quén,
Sớm
theo chỗ khác thiên.
Chớ
chở Kim Cương bộ,
Dầu
mật chớ lan truyền.
Đầy
không, trần vài đứa.
Tu
Phật thành oan khiên.
Cách
đó ít lâu, Thần lại ứng hiện tám câu kệ rằng:
Phép
Phật từ bi lớn.
Uy
quang trùm mọi miền.
Muôn
thần đều thụ hóa,
Ba
giới thảy lan tràn.
Sư
ta hành hiệu lệnh.
Tà
quỷ ai dám trên?
Nguyện
thường theo thụ giới,
Lớn
nhỏ hộ Kỳ viên.
Sự
lấy làm lạ, mới lại thiết đàn làm chay, cúng dùng toàn đồ chay cả.
Vua
Thái Tổ đang lúc tiềm long, biết sư Đa Bảo là người có hạnh cao mới kết làm đàn
việt. Sau khi đã chịu truyền ngôi, thân ngự đến chùa, nhà sư đón giá đi ngang
qua bên chùa; Sư lớn tiếng hỏi rằng:
-
Phật tử, ngươi hãy thung dung mừng Tân Thiên Tử chứ?
Nghe
có tiếng: "Vâng!" Tức thì thấy da cây có đề bốn câu thơ rằng:
Để
đức càn khôn lớn,
Oai
thanh lặng tám miền.
Cõi
âm nhờ ân huệ,
Nhuần
thấm đền Xung Thiên.
Thái
Tổ xem thấy liền đọc biết được ý tứ, bèn ban hiệu là Xung Thiên Thần Vương; bài
thơ tự nhiên biến mất.
Vua
lấy làm lạ, mới bảo thợ tạc tượng thần, nghi dung hùng vĩ, và tám người đứng hầu.
Sơn thếp xong rồi thì làm lễ cáo thành, lại thấy ở dưới cây Đại thụ có đề bốn
câu thơ:
Một
bát nước công đức,
Theo
duyên hóa thế gian.
Sáng
choang còn chiếu đuốc,
Bóng
tắt, nhật lên non.
Nhà
Sư đem bài kệ ấy tâu lên vua, nhưng vua Thái Tổ không hiểu là nói gì. Sau triều
Lý được tám đời, truyền ngôi cho nhà Trần. Chứ bát cùng chữ bát đồng âm, nhất
bát như bát. Vua Huệ Tông tên là Sản trên chữ nhật, dưới chữ sơn, nên gọi là nhật
đăng sơn, thì ra thần diệu như thế.
Niên
hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Dũng Liệt Đại Vương. Năm thứ tư, gia phong
hai chữ Chiêu Ứng. Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Uy Tín.
~
Tiếm
bình
Chùa
Kiến Sơ nay ở tại làng Phù Đổng, bên đền thờ Thiên Vương, thời Xung Thiên Thần
Vương tức là huy hiệu Thiên Vương. Việt Sử chép vua Lý Thái Tổ truy phong Xung
Thiên Thần Vương, dựng miếu bến chùa Kiến Sơ, thì rõ ràng là việc của Thiên
Vương, mà sao đây lại chép là việc thần Thổ Địa, thì chẳng biết ra làm sao vậy.
Mấy
bài kệ ở trong bản chép này, nếu chẳng là của người lão luyện bút nghiên thì
cũng là của kẻ thâm thuý thuyền học, chứ không phải là của kẻ thắp nhang tầm
thường mà có thể xê xích muôn một vậy. Hoặc là khí tốt Đức Giang, tinh anh đúc
lại làm Thiên Vương mà thần là phụ thuộc vậy chăng? Ví bằng lấy Thổ Địa làm
Thiên Vương, tớ này chẳng dám tin chắc vậy.
Hoặc
giá lại bảo: Chí Thành Thuyền Sư, sau khi chết, anh khí không tan, thường giả
hình ở thần Thổ Địa những thi đề đều do Chí Thành Thuyền Sư làm ra cả. Xem như
Dâm Từ muốn phá rồi lại không phá, lại sửa sang mà cúng lễ nữa. Ngẫm nghĩ lời
thơ thì là của Thuyền Sư làm ra cũng chưa biết chừng.
Tục
truyền rằng: vua Lý Thái Tổ lúc còn bé nhỏ, ở với nhà sư Vạn Hạnh tại chùa ấy,
mỗi khi đến rằm hoặc mồng một, nhà chùa cúng lễ, vua lấy oản xôi ăn trước. Một
hôm thần cho Sư mộng rằng mỗi khi có lễ cúng, Hoàng Đế cứ nếm trước mãi. Vạn Hạnh
cho triệu tăng chúng đến trách mắng. Vua giận lấy bút viết sau lưng tượng Hộ
Pháp ba chữ: "Lưu viễn Châu" (đầy châu xa). Sư đêm ấy lại mộng thấy
thần đến tạ rằng:
-
Nay vâng mệnh Hoàng đế đày đi, xin đến từ biệt.
Sư
tỉnh dậy, đi xem khắp cả các tượng, thấy sau lưng tượng thần Hộ Pháp có ba chữ
rõ ràng. Sư cũng biết nét chữ là do tay vua viết ra mới khiến lấy nước rửa đi.
Rửa xong, pho tượng bỗng dưng ngã xuống, về sau chùa cũng chẳng làm lại tượng Hộ
Pháp nữa.
Thuyết
này tuy hoang đường nhưng Đế Vương làm chủ cảm trăm thần, hình hài đất gỗ đâu
dám cùng mặt trời mặt trăng giành sáng, cũng có lẽ như thế.
Các
bài kệ ở gốc cây, giông giống như phép bói đời xưa, bài văn trong cây nứt ra,
cùng chiếu ứng với nhau.
Khoảng
năm Bính ngọ niên hiệu Cảnh Hưng, làng An Hưng huyện An Quảng, lửa sét cháy
núi, sáng ngày ông Tiều thấy gốc cây cháy tàn có viết một hàng: Cây sinh họ Lý,
trời đất sắp đặt một người, trời, đất, người.
Ông
Tiều đem chuyện trình với quan Trần cho người nghiệm xem thế nào, đến thì chữ vẫn
y nguyên, duy có ba chữ Mộc sinh lý, đổi ra làm Mùi niên quý (cuối năm Mùi)
quan Trần muốn đem việc ấy tâu lên vua nhưng gặp lúc nước đang loạn nên đình lại.
Đó
là không biết chỉ vào việc gì, xin chép lại đây để lưu nghiệm về sau.
~
Wikipedia
Thánh Gióng
Thánh
Gióng (chữ
Nôm:
聖揀), hiệu là Phù Đổng
Thiên Vương (chữ
Hán:
扶董天王) hay Sóc Thiên
vương (朔天王),
là một nhân vật trong truyền thuyết Việt Nam,
một trong bốn vị thánh mà
người Việt gọi là Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Ông được xem là tượng trưng cho tinh thần chống ngoại
xâm và
sức mạnh tuổi trẻ.
Triều
đại nhà
Lý, Lý Công Uẩn đã truy tôn ông
là Xung Thiên Thần Vương (冲天神王).
Có ý kiến cho rằng, Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng là một biến thể của Tỳ Sa Môn từ Ấn
Độ.[1][2]
Truyền
thuyết
Việt
điện u linh tập
Câu
chuyện của Phù Đổng Thiên Vương được ghi lại khá sớm trong hai tác phẩm chuyên
sưu tầm chuyện ma quái ở Việt
Nam trước
thời Lê
sơ là Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái.
Trong đó, Việt điện u linh tập lại phiên dịch ra thành Sóc Thiên vương hay Vệ
Linh Sơn thần, khác với Phù Đổng Thiên vương.
Xét
sách Thiền uyển tập anh,
đời Lê Đại Hành Hoàng đế, Đại
sư Khuông Việt họ Ngô thường đi
chơi núi Vệ Linh ở
quận Bình Lỗ, ngắm xem phong thủy, thấy
cảnh trí rất đẹp nên muốn dựng từ am ở đó. Đêm mộng thấy một vị thần mình mặc
áo giáp vàng, tay bên tả cầm giáp vàng, tay bên hữu xách cái bảo tháp, theo sau
hơn mười người, trạng mạo cổ quái đáng sợ, đến trước bảo rằng: "Ta
là Tỳ Sa Môn Đại Vương, kẻ tùy tùng đều là quỷ Dạ
Xoa cả, Thiên đế có sắc bảo qua ở nước này để phù hộ
cho hạ dân, với người có duyên nên mới đến đây nói chuyện".
Sư
giật mình tỉnh dậy kinh hãi, nghe trong núi có tiếng hò hét, lòng rất lấy làm
ghét. Sáng ngày, Sư vào núi thấy một cây rất to, cành lá rườm rà, lại có mây sắc
trùm trên ngọn cây, mới bảo thợ rừng đốn xuống, quả y như trong mộng, liền khắc tượng lập đền.
Năm Thiên Phúc nguyên niên [tức
năm 980],
quân Tống vào cướp, vua nghe đền nay linh ứng, bảo Sư đến đền cầu đảo.
Trong Việt điện u linh tập ghi
nhận, truyền thuyết về Sóc Thiên vương vốn là câu chuyện dân gian có nhiều dị bản
và đặc biệt không rõ thời gian nào, cũng không đề cập thời Hùng Vương như chúng ta thường
biết. Theo đó chuyện kể rằng, Sóc Thiên vương sinh ở một làng kia, lúc còn nằm
nôi, trong nước có giặc, vua sai sứ giả đi mộ khắp dân gian xem có ai phá được
giặc thì ban cho tước lộc. Thiên vương dậy hỏi mẹ, mẹ mới bảo rõ ràng như vậy,
Thánh Gióng nói: "Thế thì mẹ đem nhiều cơm đến đây cho con
ăn".
Chốc
lát ăn hết vài chén cơm. Mấy tháng sau, cao lớn hơn trượng,
tự ra ứng mộ, Sứ giả đưa đến Kinh sư, vua trông
thấy cả mừng hỏi rằng: "Bây giờ ngươi muốn xin gì?" Tâu: "Xin
cho tôi một thanh gươm dài, và một con ngựa sắt".
Vua
ban cho, rồi Vương cầm
gươm nhảy lên ngựa, hét lên một tiếng, xông vào trong trận, chém quân giặc chết
ngổn ngang. Giặc tan rồi, bờ cõi được yên lặng. Thiên vương phi ngựa về núi
Vệ Linh, trèo lên cây
đa mà
bay lên trời, để áo và dấu tích lại, đến nay (thời
Trần)
vẫn còn, người trong thôn gọi cây ấy là cây Dịch Phục. Người trong
nước lấy làm lạ, lập đền thờ tế, dùng trà bánh đồ chay mà cúng, nếu có cầu khấn
việc gì đều được linh ứng.
Triều nhà
Lý cũng
đến cầu đảo, dựng đền thờ ở làng Cảo Hương bên hồ
Tây mà
thờ tự. Bây giờ làm vị Phúc thần chép tại Tự Điển.
Câu
chuyện này khiến các người[cần dẫn nguồn] ghi
chú đời sau của sách[cần dẫn nguồn] (khoảng
thời Lê trung hưng)
dấy lên nghi vấn, vì nơi Sóc Thiên vương hóa vốn là nơi hóa của Đổng
Thiên vương, nhưng chuyện này lại khác. Lời bình cụ thể là:
Núi
Vệ Linh là nơi Đổng Thiên vương lên trời.
Hà Học sĩ vịnh thơ tức là ở đấy. Truyện này chép lại khác xa với Việt Sử. Sử
chép rõ đời Hùng Vương thứ sáu mà
sao đây lại nói không nhớ là đời nào? Sử chép rõ là làng Phù Đổng mà
sao đây lại nói không biết người thôn nào? Nhà chép việc thường nhiều sơ suất
như thế. Lĩnh Nam chích quái chép
việc này so với đây còn rõ hơn. Tay tả cầm giáo, tay hữu xách tháp, tự hiệu
là Tỳ Sa, thì khác với bản sắc Xung Thiên. Duy giáng thế
mà đuổi được giặc Ân,
hiển thánh mà lui được binh Tống,
có công đức với dân, không gì lớn hơn nữa; sở dĩ được hưởng nghìn trăm năm trai
nghi cúng vái, hơn cả các vị thần khác mà được liệt vào hàng bất tử, có phải
tình cờ mà được vậy đâu?
Lĩnh
Nam chích quái
Câu
chuyện về Phù Đổng Thiên vương trong Lĩnh Nam chích quái được
hợp nhất với Sóc Thiên vương của Việt điện u linh tập.
Hùng Vương cậy nước mình giàu
mạnh, mà chểnh mảng việc triều cận Bắc phương. Vua nhà Ân (1766 TCN - 1122
TCN) mượn cớ tuần thú sang xâm lược. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần hỏi
kế công thủ. Có người phương sĩ tâu rằng: "Sao không cầu Long
Vương đưa quân âm lên giúp!" Vua
nghe lời, bèn lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, ăn chay, thắp hương, cầu đảo
ba ngày. Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước,
mặt vàng bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa.
Những người trông thấy biết là kẻ phi thường, mới vào tâu vua. Vua thân
hành ra vái chào, rước vào trong đàn. Cụ già không ăn uống cũng không nói năng.
Vua nhân hỏi: "Nghe tin quân Bắc sang xâm lược, ta thua được thế
nào, ngài có kiến văn xin bảo giúp". Cụ già ngồi im một lúc, rút thẻ
ra bồi, bảo vua rằng: "Ba năm nữa giặc Bắc sẽ sang, phải nghiêm chỉnh
khí giới, tinh luyện sĩ binh mà giữ nước, lại phải đi tìm bậc kỳ tài trong
thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phân phong tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu
được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy".
Dứt
lời, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân. Ba năm sau, người biên giới
cấp báo có giặc Ân tới. Vua làm theo lời cụ già dặn, sai sứ đi khắp các nơi cầu
hiền tài. Tới làng Phù Đổng, có một phú ông tuổi hơn sáu mươi, sinh được một
người con trai vào giữa ngày mồng 7 tháng
giêng, ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy
được. Người mẹ nghe tin sứ giả tới mới nói dỡn rằng: "Sinh được thằng
con trai này chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều đình,
báo đáp công bú mớm". Người con nghe thấy mẹ nói, đột nhiên bảo: "Mẹ
gọi sứ giả tới đây". Người mẹ rất lấy làm kinh ngạc, kể lại với hàng
xóm. Hàng xóm cả mừng, tức tốc gọi sứ giả tới. Sứ giả hỏi: "Mày là
đứa trẻ mới biết nói, mời ta đến làm gì?".
Đứa
trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng: "Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt
cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt.
Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh bại, vua phải lo gì nữa?"
Sứ
giả mừng rỡ vội về tâu vua. Vua vừa kinh vừa mừng nói rằng: "Ta
không lo nữa".
Quần
thần tâu: "Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?" Vua
nổi giận nói: "Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là
ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa! Mau đi tìm năm mươi cân sắt luyện thành ngựa,
kiếm, roi và nón".
Sứ
giả tới gặp, người mẹ sợ hãi cho rằng tai họa đã đến, bèn bảo người con. Con cả
cười bảo rằng: "Mẹ hãy đưa nhiều cơm rượu cho tôi ăn, việc đánh giặc
mẹ chớ có lo". Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn rất nhiều, người
mẹ cung đốn không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu rượu bánh
quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải lụa gấm
vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho
kín người. Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu Sơn ở Vũ
Ninh,
người con duỗi chân đứng dậy cao hơn 10 thước (có
chỗ nói là trượng),
ngửa mũi hắt hơi liền hơn mười tiếng, rút kiếm thét lớn: "Ta là
thiên tướng đây!" rồi đội nón cưỡi ngựa. Ngựa chồm lên, hí dài một
tiếng mà phi như bay, nháy mắt đã tới trước quân vua, vỗ kiếm đi trước, quan
quân đều theo sau, tiến sát đồn giặc. Quân giặc bỏ chạy, còn lại tên nào đều la
bái kêu lạy Thiên tướng rồi cùng đến hàng phục. Ân vương bị chết ở trong trận.
Đi
đến đất Sóc Sơn huyện Kim Hoa, Thiên tướng cởi
áo cưỡi ngựa mà lên trời, hôm đó là ngày mồng 9
tháng 4, còn để vết tích ở hòn đá trên núi. Hùng Vương nhớ
công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên vương, lập miếu thờ ở nhà cũ
trong làng, lại ban cho một ngàn mẫu ruộng, sớm hôm hương lửa. Nhà Ân đời đời,
644 năm không dám ra quân.
Sau Lý Thái Tổ phong làm Xung
Thiên Thần vương, lập miếu ở làng Phù Đổng cạnh chùa Kiến Sơ, lại tạc tượng ở
núi Vệ Linh, xuân thu hai mùa tế lễ.
Đại
Việt sử ký toàn thư
Đại Việt sử ký toàn thư phần
Ngoại kỷ toàn thư, kỷ Hồng Bàng Thị ghi chép lại về Thánh Gióng như sau:
Đời Hùng Vương thứ 6,
ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có người nhà giàu,
sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không biết nói cười.
Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm người có thể đánh lui
được giặc (Toàn thư không ghi đây là giặc Ân như Lĩnh Nam chích quái).
Ngày
hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời sứ giả vào, nói: "Xin
cho một thanh gươm, một áo giáp sắt và một con ngựa, vua không phải lo gì".
Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước, quan
quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Trâu Sơn. Bọn giặc giẫm đạp lên
nhau mà chạy. Gióng đuổi theo, tới chân núi
Sóc Sơn thì dừng. Đứa trẻ cởi áo giáp, phi ngựa lên trời
mà đi. Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng
tế.
Về
sau, Lý Thái Tổ phong là Xung
Thiên Thần vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng).
Ghi
chép của Nguyễn Đổng Chi
Kho
truyện cổ tích của nhà sưu tầm lớn Nguyễn Đổng Chi cũng
ghi lại truyền thuyết này, song lại thêm một số yếu tố hoàn toàn khác.
Vào
thời Hùng Vương (không ghi rõ thời
nào), có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một thân một mình. Một hôm
sáng dậy bà đi thăm nương,
bỗng nhìn thấy một vết chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà kinh ngạc kêu
lên: "Ôi! Bàn chân ai mà to thế này!". Bỗng bà cảm thấy
rùng mình khi đưa bàn
chân ướm
thử vào dấu chân lạ. Từ đó bà mang
thai.
Đủ ngày tháng, bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm đặt tên là Gióng.
Nhưng thằng bé lên ba tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi biết lẫy,
cũng không biết nói biết cười gì cả.
Ngày
ấy có giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung hăng tàn
ác, cầm đầu là một viên tướng tên gọi Ân vương, hình dung cổ quái dữ tợn. Chúng
nó đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy. Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất trận,
nhưng đánh không nổi. Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi
trong nước tìm bậc tướng tài để giúp vua cứu nước. Một hôm sứ giả đi đến làng
chú bé Gióng. Nghe tiếng loa rao nói đến việc nhà vua cầu người tài, bà mẹ
Gióng đang ru con, liền bảo đùa con rằng: "Con ơi! Con của mẹ chậm
đi chậm nói làm vậy, thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giúp vua được đây!"
Không
ngờ Gióng nhìn mẹ mở miệng bật lên thành tiếng: "Mẹ cho gọi sứ giả
vào đây cho con!" Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng vừa sợ, vội
đi kể chuyện với xóm giềng. Mọi người đổ tới, ai nấy cho là một sự lạ. Sau cùng
một người nói: "Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái
gì".
Khi
sứ giả của nhà vua bước vào nhà nhìn thấy chú bé Gióng liền hỏi rằng: "Mày
là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến để làm gì?" Gióng
trả lời rất chững chạc: "Về bảo với vua rèn cho ta một con ngựa sắt,
một thanh gươm sắt, một giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc dữ
cho!"
Ai
nấy đứng nghe khôn xiết lạ lùng. Cho là thần nhân xuất hiện, sứ giả lập tức phi
ngựa về tâu vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra lệnh
cho thợ rèn góp tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của
chú bé. Mọi thứ rèn xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào
thanh gươm mà không nhúc nhích. Vua Hùng phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi
cách chở đến cho chú bé Gióng. Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến
làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo con: "Con ơi! Việc nhà vua đâu
phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi, biết làm thế
nào bây giờ?"
Nghe
nói thế, Gióng vụt ngồi dậy, nói: "Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo.
Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!"
Mẹ
vội thổi cơm cho con ăn, nhưng nấu lên được nồi nào Gióng ngốn hết ngay nồi ấy.
Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng
cho con ăn thì con lại càng lớn như thổi, bỗng chốc đã thành một chàng thanh
niên khỏe mạnh. Hết gạo, bà mẹ đi kêu gọi xóm làng. Mọi người nô nức đem gạo
khoai, trâu rượu, hoa quả, bánh trái đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu,
Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ. Sau đó, Gióng lại bảo tiếp: "Mẹ
kiếm vải cho con mặc".
Người
ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể
Gióng lớn vượt một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại
phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm nóc
nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa,
gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng
cao to sừng sững, chân dài hơn trượng,
hét lên một tiếng như tiếng sấm: "Ta là tướng nhà Trời!"
Thế
rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ
biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra
đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước
dài hàng chục con sào,
rung chuyển cả trời đất. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc bấy
giờ đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng
như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa
thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng. Khói bụi mịt mù,
tiếng la hét kêu khóc như ri. Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn cố gào thét hô quân
xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang đầy rừng. Bỗng chốc
gươm gãy. Không bối rối, Gióng thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới
tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc
quân giặc đã tẩu tán khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc
lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các
làng chỉ còn việc xông ra trói nghiến chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã
trừ xong nạn nước. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi
Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người
lẫn ngựa bay thẳng lên trời. Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua
Hùng sai lập đền thờ Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng Thiên vương.
Ngày
nay chúng ta còn thấy dấu vết những dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa
Phúc cho
đến Sóc Sơn, người ta bảo đó
là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa
thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy.
Những cây tre mà Gióng nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng
và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre
là ngà (hay đằng ngà).
Khảo
dị
Câu
chuyện về Phù Đổng Thiên vương, qua thời gian trở thành Thánh Gióng là
kết quả của cả một quá trình thêm thắt kéo dài của dân gian. Truyện trên
do Nguyễn Đổng Chi sưu
tầm là một ví dụ điển hình, nó đã được thêm thắt và gần như tách biệt hẳn so với
những ghi chép từ Lĩnh Nam chích quái hay
cả Toàn thư. Về sau, truyện về Thánh Gióng còn được
nhân dân một số địa phương vùng Bắc
Ninh, Bắc Giang phát
triển, thêm thắt, ghép vào một số tình tiết hoặc thần kỳ hoặc không, làm cho
câu chuyện phong phú hơn. Ví dụ:
- Sau
khi thắng trận, Thánh Gióng đến một nơi, buộc ngựa sát vào hai cọc đá lớn
ngồi nghỉ. Ngày nay một cột đá còn thấy ở làng Cựu-tự cao khoảng ba thước
vòng rộng sáu tấc, xâu thẳng xuống một bệ đá tự nhiên hình bầu dục. Ngựa sắt
mệt quá sủi bọt mép thành một bãi cát trắng xóa lấp lánh dưới ánh mặt trời.
Bãi này nay thuộc xã Ngọc Xá, thị xã Quế Võ, đặc biệt ở cách xa bờ sông,
người ta gọi là Bạch-nhạn-sa.
- Thánh
Gióng đi qua một làng nọ ven sông
Cầu, ở đây có một bà lão bán nước vối. Thánh Gióng dừng
lại xin nước uống. Bà lão dâng bầu rượu. Uống xong, Thánh Gióng khen bà
lão có lòng tốt, đặt tên là làng Bầu và dặn lúc nào hạn, cho phép cầu mưa
sẽ linh nghiệm. Từ đấy, mỗi khi đại hạn, ở đây (nay gồm bảy làng gọi là tổng
Bầu) có hội cầu mưa, người ta thường rước Thành hoàng làng lên Sóc-sơn để
xin nước.
Cao Huy Đỉnh đã sưu tập rất nhiều
những mẩu chuyện này trong quyển "Người anh hùng làng Dóng".
Sau đây là một số dị bản truyện Thánh Gióng, những dị bản này đều mang hình thức
thần tích:
1. Thạch tướng quân:
Đời Hùng Vương, ở làng Yên Việt có hai
vợ chồng hiếm con. Một hôm chồng lên núi, được thần Núi (Sơn thần nhạc phủ) báo
mộng cho đá đất làm con (do mẹ đá thụ thai đã ba năm). Một hôm bỗng có tiếng
sét nổ vang, phiến đá trong ao nhà họ tự nhiên nứt ra, xuất hiện một em bé. Hai
vợ chồng đưa về nuôi. Bảy tuổi chưa biết nói. Bấy giờ có 50 vạn người Man cầm đầu
là Lục Đinh thần tướng sang chiếm nước ta, thế rất dữ dội. Vua Hùng được thần
mách, sai "xá nhân" đến Yên Việt cầu tài. Lúc đó em bé đang nằm trên
giường. Người bố vỗ vào em nói: "Nước nhà có giặc vua sai xá nhân
đi tìm, sao không dậy giúp nước còn ngủ mãi ư?" Thạch tướng (đứa
bé) nghe nói, bèn đứng dậy mời xá nhân vào, rồi bảo về nói với vua làm cho một
voi đá cao mười trượng cùng
lá cờ thiên đế, sẽ dẹp xong giặc. Vua cũng sai thợ đá tạc như lời yêu cầu. Được
voi và cờ, em bé vươn cao mười trượng, mặt đỏ như mặt
trời mọc,
nhảy lên voi cầm cờ có quân sĩ theo sau. Quân Man hồn kinh phách tán, xô nhau
chạy trốn, tướng của chúng bị chém làm ba đoạn. Thắng trận, Thạch tướng quân trở
về làng rồi cưỡi voi lên trời.
2. Lân
Hồ đô thống đại vương: Một người đàn bà không chồng ở làng Đồng-bảng
một hôm vào rừng kiếm củi bỗng nghe một tiếng hổ gầm, tâm thần chuyển động, có
mang mười bốn tháng sinh một trai, đặt tên là Lân Hổ, cao một trượng, có sức khỏe
hơn người. Bỗng có giặc từ phương Bắc tràn xuống tàn phá đến vùng Bạch-hạc.
Vua nhà Trần xuống chiếu cầu bậc
có tài dẹp giặc. Lân Hổ ứng mệnh bảo sứ tâu vua rèn cho mình một ngựa sắt, một
roi sắt để ra trận. Được mọi thứ, Lân Hổ nhảy lên mình ngựa đánh cho giặc tan
tành. Vua Trần ban cho tám chữ: "Nam phương chính khí, Bắc khấu
hàn tâm" (Chính khí phương Nam làm cho giặc Bắc lạnh vía). Ông
không nhận quan tước, chỉ trở về quê nuôi mẹ. Mẹ chết rồi, Lân Hổ cưỡi ngựa đi
đến xã Toàn Mỹ mà hóa.
3. Linh
Lang đại vương: Đời Lý Thái Tông có cung phi tên là
Thị Sung. Một hôm đi tắm ở hồ Dâm Đàm bị một con thuồng luồng quấn vào người. Từ
đấy có mang, sinh được một người con trai trên mình có hai mươi tám vết như vẩy
rồng, trên ngực có bảy hàng châm óng ánh như ngọc. Vua đặt tên là Linh
Lang,
xây nhà cho mẹ con ở tại làng Thị Lệ trên hồ, gọi là hồ Linh Lang. Chợt có giặc
Trinh Vĩnh sang xâm lăng, các tướng chống cự không nổi. Vua nghe lời thần, sai
sứ đi tìm bậc thần nhân làm tướng. Đến làng Thị-lệ, Linh Lang đang nằm ngửa
trên giường, bỗng nói được, bảo mẹ gọi sứ giả tới, rồi nói xin vua cha một lá cờ
đỏ lớn, cán dài, và một con voi đực, sẽ dẹp yên giặc. Được mọi thứ Linh Lang cầm
cờ thét lớn: "Ta là tướng nhà trời!" rồi cưỡi voi ra
trận. Voi chạy như hay, cờ phất một cái thì giặc tan. Tướng giặc ngã lăn ra chết.
Lúc trở về bị bệnh đậu. Sắp chết, xin vua cho đem lá cờ đỏ tung lên trời hễ cờ
rơi xuống đâu thì cho lập đền thờ ở đấy. Sau đó, biến thành một con rắn bò đến
hồ Dâm Đàm rồi mất.
Di
sản
Anh
hùng văn hóa
|
Cổng
tam quan đền Thánh
Gióng ở làng Phù Đổng, Gia
Lâm.
|
Trong
tín ngưỡng và văn hóa của người Việt
Nam hiện
đại, Thánh Gióng thể hiện tinh thần và sức mạnh của người Việt trong đấu tranh chống
ngoại xâm, giữ nước. Theo truyền thuyết, ông sinh ra tại làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm và hóa thánh
trên đỉnh núi Sóc ở huyện Sóc Sơn, Hà
Nội.
Đại Nam Quốc sử Diễn ca (lịch
sử Việt Nam dưới dạng văn vần) có đoạn:
Sáu
đời Hùng vận
vừa suy,
Vũ Ninh có
giặc mới đi cầu tài.
Làng
Phù Đổng có một người,
Sinh
ra chẳng nói, chẳng cười trơ
trơ.
Những
ngờ oan trái bao giờ,
Nào
hay thần tướng đợi chờ phong vân.
Nghe vua cầu
tướng ra quân,
Thoắt
ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang.
Lời
thưa mẹ,
dạ cần vương,
Lấy
trung làm hiếu một
đường phân minh.
Sứ
về tâu trước thiên đình,
Gươm vàng,
ngựa sắt đề binh tiến vào.
Trận
mây theo ngọn cờ đào,
Ra
uy sấm sét, nửa chiều giặc tan.
Áo
bào cởi lại Linh San,
Thoắt
đà thoát nợ trần hoàn lên tiên.
Đền
thiêng còn dấu cố viên,
Sử
xưa còn đó lời nguyền còn đây.
Tôn
vinh
Thời
xưa
Câu
chuyện thờ tự Đổng Thiên vương được ghi chép trong Việt điện u linh tập.
Xét
truyện Báo Cực chép
rằng: Đời truyền Vương vốn là thần Thổ Địa chùa Kiến Sơ giáng sinh. Xưa kia
Thiền sư Chí Thành ở
chùa Kiến Sơ tại làng Phù Đổng có lập đền thờ Thổ Địa ở bên hữu chùa để làm nơi
tụng niệm cho thanh tĩnh. Năm tháng chầy lâu, mất cả sự tích, bọn thầy tang môn
không rõ chứng cứ. Thổ dân bản xứ ưa việc ma quỷ thì đốt hương khấn vái, lạm
xưng là Dâm Từ. Kịp đến lúc Thiền sư Đa
Bảo sửa
lại chùa, cho đền thờ ấy là Dâm Từ muốn đập phá đi.
Ngày
kia ở gốc cây cổ thụ nơi Thần từ có đề bài kệ rằng:
Phép
Phật ai gìn giữ?
Đợi
nghe lời Kỳ viên.
Nếu
không ta vun quén,
Sớm
theo chỗ khác thiên.
Chớ
chở Kim Cương bộ,
Dầu
mật chớ lan truyền.
Đầy
không, trần vài đứa.
Tu
Phật thành oan khiên.
Cách
đó ít lâu, Thần lại ứng hiện tám câu kệ rằng:
Phép
Phật từ bi lớn,
Uy
quang trùm mọi miền.
Muôn
thần đều thụ hóa,
Ba
giới thảy lan tràn.
Sư
ta hành hiệu lệnh.
Tà
quỷ ai dám trên?
Nguyện
thường theo thụ giới,
Lớn
nhỏ hộ Kỳ viên.
Sư
lấy làm lạ, mới lại thiết đàn làm chay, cúng dùng toàn đồ chay cả. Lý Thái Tổ đang lúc tiềm long,
biết sư Đa Bảo là người có hạnh cao mới kết làm đàn việt. Sau khi đã chịu truyền
ngôi, thân ngự đến chùa, nhà sư đón giá đi ngang qua bên chùa; Sư lớn tiếng hỏi
rằng:"Phật tử, ngươi hãy thung dung mừng Tân Thiên Tử chứ?"
Nghe
có tiếng: "Vâng!", tức thì thấy da cây có đề bốn câu thơ
rằng:
Để
đức càn khôn lớn,
Oai
thanh lặng tám miền.
Cõi
âm nhờ ân huệ,
Nhuần
thấm đền Xung Thiên.
Thái
Tổ xem thấy liền đọc biết được ý tứ, bèn ban hiệu là Xung Thiên Thần
vương; bài thơ tự nhiên biến mất. Vua lấy làm lạ, mới bảo thợ tạc tượng thần,
nghi dung hùng vĩ, và tám người đứng hầu. Sơn thếp xong rồi thì làm lễ cáo
thành, lại thấy ở dưới cây Đại thụ có đề bốn câu thơ:
Một
bát nước công đức,
Theo
duyên hóa thế gian.
Sáng
choang còn chiếu đuốc,
Bóng
tắt, nhật lên non.
Nhà
sư đem bài kệ ấy tâu lên vua, nhưng Lý Thái Tổ không hiểu là nói
gì. Sau triều Lý được tám đời, truyền ngôi cho nhà
Trần.
Chữ bát cùng chữ bát đồng âm, nhất bát như bát. Lý Huệ Tông tên là Sảm (旵), trên [là] chữ nhật, dưới [là] chữ sơn, nên gọi là
nhật đăng sơn, thì ra thần diệu như thế. Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu
[năm 1285 đời Trần Nhân Tông],
sắc phong Dũng Liệt Đại vương. Năm thứ 4, gia phong hai chữ Chiêu
Ứng. Năm Hưng Long thứ 21 [năm 1313]
đời Trần Anh Tông,
gia phong hai chữ Uy Tín.
Người
bình của sách khi ghi đến đây, bàn rằng:
Chùa
Kiến Sơ nay ở tại làng Phù Đổng, bên đền thờ Thiên Vương, thời Xung Thiên Thần
vương tức là huy hiệu Thiên vương. Việt Sử chép vua Lý Thái Tổ truy phong Xung
Thiên Thần Vương, dựng miếu bên chùa Kiến Sơ, thì rõ ràng là việc của Thiên
vương, mà sao đây lại chép là việc thần Thổ Địa, thì chẳng biết ra làm sao vậy.
Mấy
bài kệ ở trong bản chép này, nếu chẳng là của người lão luyện bút nghiên thì
cũng là của kẻ thâm thúy truyền học, chứ không phải là của kẻ thắp nhang tầm
thường mà có thể xê xích muôn một vậy. Hoặc là khí tốt Đức Giang, tinh anh đúc
lại làm Thiên vương mà thần là phụ thuộc vậy chăng? Ví bằng lấy Thổ Địa làm
Thiên vương, tớ này chẳng dám tin chắc vậy.
Hoặc
giá lại bảo: Chí Thành Thiền Sư, sau khi chết, anh khí không tan, thường giả
hình ở thần Thổ Địa những thi đề đều do Chí Thành Thiền Sư làm ra cả. Xem như
Dâm Từ muốn phá rồi lại không phá, lại sửa sang mà cúng lễ nữa. Ngẫm nghĩ lời
thơ thì là của Thiền Sư làm ra cũng chưa biết chừng.
Đền
miếu Phù Đổng đứng vào bậc nhất, bốn tổng lớn như Thắng, Đồng, Minh, Viên tuế
tiết phụng tự rất là thành kính, mỗi năm đến ngày mồng 9
tháng 4 có hội, làm hội lớn của Bắc Giang.
Các tổng miền thượng du ở sát núi Vệ Linh là chín tổng, mỗi khi đến lệ đại hội
thì lấy đồ lỗ bộ bằng đồng thực mà nhóm lại đánh nhau để diễn lại vũ công của
Thiên vương.
Đền
thờ ở làng Cảo Hương làm cảnh đẹp cho Kinh đô, đến đầu năm làm lễ tế đầu Xuân
thì thực là nơi đô hội của cả một phương. Am linh chói lọi, chín tầng trời hâm
mộ đoái hoài, làm lặng bụi dơ mà phục hồi bờ cõi, suối trong nước lặng, nước Việt
ta yên ổn vững vàng như bàn thạch Thái Sơn, thực là nhờ sức hiển tướng của
Thiên vương vậy.
Ngày
nay
Hội đền Gióng được tổ chức long
trọng tại nhiều nơi trong đó có hai nơi: là hội Gióng ở đền
Sóc,
huyện Sóc Sơn vào ngày mồng 6
tháng 1 âm lịch và hội đền Phù Đổng, xã Phù Đổng huyện Gia Lâm vào ngày mồng 9
tháng 4 âm lịch đã được UNESCO công
nhận là di sản văn hóa phi
vật thể của nhân loại.
Phong
dao Kinh Bắc xưa có câu: "Mồng
bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, Mồng chín đâu đâu cũng kéo về xem hội
Gióng".
Tượng đài Thánh Gióng được
khánh thành ngày 5
tháng 10 năm 2010,
trên đỉnh núi Sóc, thuộc khu du lịch tâm
linh đền
Sóc -
Chùa Non, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Tượng được đặt tại
nơi tương truyền rằng sau khi dẹp xong giặc Ân, cậu bé làng Phù Đổng đã cởi áo
giáp, vẫy chào quê hương bay về trời.[3]
Tên Phù Đổng Thiên Vương dưới
tên Thánh Gióng còn được đặt cho những con đường trên cả nước.
Tên Phù Đổng Thiên Vương được
đặt theo tên ca khúc của Đức
Phúc trong
Cuộc thi Âm nhạc Quốc tế Intervision 2025 và giành chiến thắng với tổng số điểm
là 422 điểm.
➖➖➖