2021-07-10

Les marchands ambulants et les cris de la Rue à Hanoi (Gánh hàng rong và tiếng rao trên đường Phố Hà Nội) - École Française d'Extrême-Orient (Viện Viễn Đông Bác cổ)

2021-07-10 

Les marchands ambulants et les cris de la Rue à Hanoi

-

Gánh hàng rong và tiếng rao trên đường Phố Hà Nội

École Française d'Extrême-Orient

-

Tư liệu của Viện Viễn Đông Bác cổ (École Française d'Extrême-Orient).

Bộ tranh phác họa về “Gánh hàng rong và tiếng rao trên phố Hà Nội” vào thời gian đầu thế kỷ 20. Bộ tranh này được xuất bản năm 1929.

Lời tựa:

“Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” tuần này xin giới thiệu một tư liệu tàng thư của Viện Viễn Đông Bác cổ (École Française d'Extrême-Orient - EFEO). Tư liệu này gồm 37 phác họa (croquis). Các phác họa này do sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương (École des beaux-arts de l'Indochine) vẽ, giáo sư Ferdinand de Fénis viết lời và các nốt nhạc mô phỏng lại tiếng rao trên đường phố Hà Nội cách đây khoảng 100 năm. Tư liệu có tiêu đề tiếng Pháp là “Les marchands ambulants et les cris de la Rue à Hanoi” – tạm dịch sang tiếng Việt: “Gánh hàng rong và tiếng rao trên Phố Hà Nội”. Chú ý từ Rue viết hoa, trong nguyên bản.

Để anh/chị xem được bản gốc, tôi trình bày lần lượt 37 phác họa theo đúng thứ tự của tài liệu xuất bản năm 1929. Dưới mỗi tranh phác họa, tôi đã cố gắng đọc bản viết tay của giáo sư Fénis và chép lại. Xin nhờ các anh/chị quen với chữ viết tay của người Pháp góp ý, sửa đổi cho chính xác. Tôi để nguyên bản tiếng Pháp, không dịch, trừ phần “lời tựa”. Anh/chị lưu ý rằng phần dịch “lời tựa” chỉ là để anh/chị tham khảo, nếu cần.

Xin có một vài nhận xét mang tính chất cá nhân. Đối với anh/chị nào không muốn bị ảnh hưởng bởi các nhận xét, bình luận có thể mang tính chủ quan hoặc phiến diện thì anh/chị vui lòng bỏ qua đoạn sau và xem trực tiếp bộ tranh phác họa.

~

Xem các bản vẽ phác họa của tư liệu này làm chúng ta liên tưởng đến phố Hà Nội xưa. Hẳn sẽ gây cho chúng ta không ít tò mò về hình ảnh Hà Nội cách đây 100 năm. Tranh vẽ về đời sống thực. Thiếu nữ xinh đẹp rao bán dâu ở phố Tây lúc 10 giờ sáng (bức họa số 05)/ mâm bày bán bánh giò, bánh dầy và cảnh chờ mua ở bức họa 06/ hai cháu nhỏ đang chờ mua “se cấu” (kem va-ni) – ngôn ngữ Việt hóa của người Tàu xưa (bức họa 07)/ cảnh một chị với đôi quang gánh bán bánh cốm, bánh chưng (viết là “trưng” trong bản vẽ) - bức họa số 08/ gánh phở (được anh Trần Hữu Nam đặt tên là phở Hà Nội version 1.0) gồm một đầu là nồi nước lèo sôi sùng sục kèm thịt bò thái + phổi bò, một đầu là bát, đũa, thìa, … (bức họa số 09). Bức họa cũng phân biệt phở người Tàu bán không dùng  bánh phở mà dùng miến (bức họa số 10)/ Cảnh một người đàn ông đang rao “Chum chậu bát sứ vỡ hàn không?” – bức họa 11/Lời rao tương tự ở bức họa 12 là “Ai giẻ rách sắt vụn bán không nà-o”/ Hay cảnh gọi thay thùng vệ sinh vào lúc 2-3 giờ sáng ở bức họa số 13/ Cảnh một cậu bé rao bán bánh mỳ “Ai bánh tây --- ra mu-a” ở bức họa số 14/ Rồi rao bán nước vối, hút thuốc điếu ở bức họa số 15… Nhiều nữa. Anh/chị phải xem, đọc lời văn và nếu biết đọc nốt nhạc nữa thì tuyệt! Được như vậy, lúc đó anh/chị sẽ cảm nhận, sẽ sống lại thời cách đây 100 năm! Anh/chị có cơ hội để viễn du về quá khứ. 😊

Một loại hình sinh hoạt trên đường phố được lưu lại bằng tranh, bằng lời, bằng nốt nhạc. Hà Nội xưa gắn liền với hàng rong, rất thích hợp với kiến trúc nhà thấp tầng, phố nhỏ – “Ngõ nhỏ phố nhỏ, nhà tôi ở đó” (nhạc sỹ Lê Vinh). À, mà quên. Ngày 16/12/2020, UNESCO công bố quyết định ghi Văn hóa bán hàng rong của Singapore vào danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại, sau hai năm quốc gia này trình đề cử! Nhưng thôi. Hà Nội cũng chả cần phải nhọc công đến như thế. Cuộc sống vốn nó phải tự nhiên, chứ cứ ép vào danh nọ, hiệu kia làm gì.

Lại có đôi lời bình về cách ghi chép “lịch sử văn hóa” của người Pháp. Cách đây 100 năm chưa có Internet, chưa có mạng xã hội. Máy ảnh rất hiếm, chưa thể có thứ xa xỉ như quay phim. Cách ghi lại cảnh “bán hàng rong” của giáo sư Fénis và tập thể sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương quả là quá độc đáo. Chúng ta ai cũng biết rằng thế hệ sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương về sau đều trở thành các họa sỹ tài hoa. Họ đã cùng tạo ra bức tranh “bán hàng rong” ở Hà Nội kèm theo nhạc! Cứ cho là như bây giờ chúng ta có đủ smartphone, máy quay phim loại hiện đại đi, liệu chúng ta có làm được một tư liệu cô đọng như họ đã làm cách đây 100 năm không? Cũng phải nói rằng tranh phác họa có tính ước lệ rất cao, truyền tải nhiều thông tin mà không có bất cứ phương tiện nào khác có thể làm được. Giả thiết thiết rằng nếu chúng ta có chụp ảnh, quay phim đời sống thật thì chúng ta cũng chỉ mới ghi lại được một “nhát cắt” của thời gian. Đành rằng có được một tư liệu như vậy cũng rất quý nhưng khó lòng tích hợp được cảnh mưu sinh, nét văn hóa của một quãng thời gian hàng chục năm. Bộ tranh phác họa này hình như làm được việc đó. 😊

~

(01)

Inv. EFEO, Paris No 23577 – F3021 – BIBLIOTEQUE | ÉCOLE FRANÇAISE D’EXTRÊME – ORIENT | Inv. no 386

Les marchands ambulants et les cris de la Rue à Hanoi

Texte, musiques, croquis et commentaires culinaires par

Les Elèves de l'École des Beaux Arts de L'Indochine et F. de Fénis (Ferdinand de Fénis – professeur de l’Ecole des Beaux Arts de L’Indochine)

 

REVUE INDOCHINOISE

 

Georges Tajasques

(02)

Avant-propos

Bien que je ne sois pas un grand amateur de boissons fortes, j’ai toujours beaucoup prisé la manière d’Alphonse Allais (1) qui a su agrémenter l’histoire de son célèbre Captain Cap (2) de nombreuses recettes de cocktails.

En effet, la littérature par elle-même est insipide; il semble donc que, lorsque, poussé par un démon incongru, un auteur se laisse aller à écrire, il devrait du moins chercher à se faire pardonner cette impertinence par une abondante illustration.

Ce n'est pas même assez, j'imagine, que de récréer le lecteur par quelques agréables dessins qui charment sa vue.

Et son oreille, pendant ce temps, restera-t-elle inoccupée?

Mieux encore: que sera-ce que tout cela si l’eau ne lui vient à la bouche en lisant, et si son goût et son odorat ne sont en même temps sollicités?

Tels sont les grands principes que les auteurs de cet album ont eus présents à l’esprit en le composant.

-

Dịch

Lời tựa

Mặc dù tôi không phải là người đam mê đồ uống bia rượu, nhưng tôi luôn ngưỡng mộ phong cách của Alphonse Allais, người biết cách tô điểm câu chuyện về Thuyền trưởng Cap (Captain Cap) nổi tiếng của mình bằng nhiều công thức pha chế cocktail.

Thật vậy, bản chất của chữ nghĩa, tự nó là vô vị; vì vậy, dường như, khi bị thúc đẩy bởi một ma lực phi thường nào đó, tác giả bài viết, khi lời văn dạt dào tuôn ra, ít nhất tự cho phép mình bổ sung vào sự vô vị và thiếu hoàn hảo đó bằng những minh họa theo nhiều cách khác nhau.

Không thể gọi là đầy đủ được, tôi hình dung ra như thế, nếu chỉ tái tạo một vài phác họa nhằm làm hài lòng thị giác của độc giả.

Thế còn thính giác thì sao? Chả nhẽ đôi tai của độc giả lại chịu sự cô đơn khi đôi mắt của độc giả miệt mài với văn tự và phác họa!

Thật tuyệt vời biết nhường nào nếu tác phẩm làm cho độc giả chảy nước miếng cùng với hương vị và mùi thơm lan tỏa khi lần theo từng trang sách?

Đó là những nguyên lý cơ bản mà các tác giả đã áp dụng trong sáng tạo ra cuốn album nghệ thuật này.


 

(03)

 

Voilà pourquoi nous avons écrit cet album.

On n'y trouvera notes en musique que les cris qui se développent en une véritable mélodie. Pour les autres, trop brefs ou trop peu rythmés, la notation musicale n’eût rien ajouté au dessin et à sa legende.

Les auteurs.

Dịch

Đó là lý do tại sao chúng tôi tạo ra cuốn album này.

Khi cần thiết, cuốn album thể hiện tiếng rao hàng bằng những nốt nhạc để biến tiếng rao thành một giai điệu thực thụ. Đối với những bức họa khác, do tiếng rao ngắn hoặc ít nhịp điệu, chúng tôi chủ động không thêm ký hiệu âm nhạc vào phác họa, giữ nguyên bản vẽ và thuyết minh.

Các tác giả.

 


(04)

 

Puisse le lecteur qui le feillettera se sentir agréablement chatouillé dans ses diverses papilles, cônes, bâtonnets et autres stratagèmes sensoriels. Sa joie de vivre, en sera augmentée d'autant.

La pâtisserie annamite mérite par sa variété qu’on s’y arrête plus qu’on ne le fait d’ordinaire.

Je sais bien qu'elle a contre elle sa réputation de saleté. Mais il faut vraiment avoir un esprit bien futile et bien tatillon pour s’arrêter à une objection pareille alors qu’on voit en France même les pâtissiers vaselines leurs gateaux pour en retarder la putréfaction jusqu’aux extrêmes limites du possible, et nos bons domestiques se venger à leur façon, sur la crème Chantilly, - c’est-à-dire d’une façon répugnante – d’une observation de leur maître qui leur a déplu.

Les cris à la rue, à Hanoi, sont en majeure partie, comme on pourra s’en convaincre, consacrés à la pâtisserie.

Nous n’avons pas négligé les autres.

Le souvenir qu’on conserve d’une ville dans laquelle on a séjourné lontemps est fait un peu de ses monuments, beaucoup du timbre de ses cloches et ses bruits de la rue, ainsi que des bonnes choses du terroir qu’on y a mangées.

-

(05)

La petite marchande de mûres sauvages passe vers 10h du matin et offre sa marchandise aux boys et aux coolies du quartier européen.

Goûtent-ils comme il convient le charme mélancolique du chant qui sort de la petite bouche rieuse?

-

Ai giâu chín – của nhà ra mu-a

Ai giâu chín – của nhà ra mu-a

(06)

Bánh giò: gâteau au pâté de viande

Bánh dầy: gâteau au riz gluant


 

(07)

Se cấu: Crême à la vanille

 

Le marchand chinois qui vend ces sorbets porte avec lui une petite sorbetière à main ou traîne une petite voiture blanche à filets bleus.

(08)

Le bánh cốm est un gâteau de forme carrée qui se vend enveloppé d’une feuille de bananier ficelée d’un brin de bambou.

Il est fait de riz vert grillé et sucré fourré d’une pâte de haricot également sucrée.

 

Ai bánh trưng bánh cốm ra mua

Qui gâteau de riz gluant - gâteau de riz vert - sort acheter

 

(09)

 

L’annamite qui vend cette soupe aux poumons ou aux bols morceaux de boeuf dans les rues porte accrochés à un fléau: derrière, un fourneau où mijote la soupe en question; devant, une étagère renfermant les accessoires du service.

Le Chinois, avec un appareil analogue vend une soupe au bouillon au vermicelle et au boeuf qu’il annonce d’un cri analogue.


 

(10)

Le marchand ambulant chinois qui colporte cette nourriture tient en équilibre aux deux bouts son fléau fourneau et marmite d’un côté, objets de service et d’assaisonnement de l’autre.


 

(11)

Chum chậu bát sứ vỡ hàn không

Jarres cuvettes tasses en porcelaine cassées à réparer?

-

C'est – ici comme là bas – le “raccommodeur de faïence et de porcelaine”.


 

(12)

Voici donc l’equivalent de notre marchand de chiffons ferraille à vendre et ce n’est vraiment pas la peine de faire la moitié du tour de la terre pour le retrouver, lui et son collègue, le raccommodeur de faïence et de porcelaine!

-

Ai giẻ rách sắt vụn bán không nà-o

Qui étoffes déchivés morceaux de fer vendre?


 

(13)

Cri qu'on entend entre 2 et 3 heures du matin à la porte des maisons qui n’ont pas le tout à l’égout.

Le bonhomme sordide qui pousse ce cri porte aux deux bouts de son fléau deux tinettes et une voiture le suit, cahotante et malodorante, dans la nuit.

-

Mở cửa thay thùng nhé!

Ouvre la porte que je change les tinettes Hé!


 

(14)

Gamin portant des petits pains dans un panier rond de bambou recouvert d’un linge.

Le petit pain est considéré par les Annamites comme une friandise et mangé seul à l’égal d’un gâteau.

Ai bánh tây --- ra mu-a

Qui du pain d'occident sort acheter?

(15)

Nước vối nóng ăn thuốc không

Eau thé chaud fumer tabac?

-

Très jeunes garçons portant un pot de thé, une soucoupe et une pipe primitive en bambou.

Pour 2 sapèques, (3) pendant les chaleurs, on peut boire, une soucoupe pleine de thé et tirer une bouffée de la pipe.

Pour 1 sapèque, on n'a droit qu'à une demi-soucoupe.


 

(16)

Ai mí a ngô rang hạt dẻ mua

Qui canne à sucre, maïs grillé, châtaignes achète?


 

(17)

Cette marchande, outre ses bâtons de canne de sucre et de minuscules châtaignes, vend encore des épis de maïs non murs et passés au feu.


 

(18)


 

(19)

Ai bánh cuốn ra mua?

Qui gâteau à la graisse sort acheter?


 

(20)

Ai cháo đậu xanh ra mua

Qui soupe aux haricots verts sort acheter

-

Ai cháo đậu xanh chè đậu đen ra mu-a


 

(21)

Le bánh quốn est une feuille de pâte de riz roulée renfermant un peu de viande de porc à la graisse et à l’oignon.


 

(22)

Le petit marchand de bonbons à la graine de sésame en forme de rondelles larges comme des pièces de vingt cents.

Il porte sa marchandise dans une simple boite de biscuits en fer blanc.

-

Ai mua bánh ---------- vừng không | Ai mua bánh

vừng ---------- không | Ai mua bánh vừng ---------- không


(23)

Lô bay phan (tiếng Tàu?)

Riz gluant et saucisse de chien (Cơm nếp và dồi chó?)


 

(24)

(Bánh) giò – bánh dầy

(Pain et) Pâté – pain au riz gluant


 

(25)

Voici un cri bien simple bien caractéristique et très fréquemment entendu qui fait pour ainsi dire, partie du paysagé avec celui du marchand de petits pains et celui du marchand de canne à sucre.

La denrée qu’il annonce est exquise. Elle consiste en un sirop parfumé à la fleur de pamplemoussier dans lequel nagent des graines de lotus cuites ayant le goût de châtaignes.

-

Tre hạt sen

Sirop aux graines de lotus


 

(26)

 

Ai mí-a ra mu-a

Qui canne à sucre sort acheter?


 

(27)

Ai bánh tây ra mua | Ai bánh tây ra mua


 

(28)

Des gamins portent dans l’eternel panier sur leur tête, des tiges de canne à sucre d’une coudée environ de longeur qu’une fois écorcées les coolies de la rue et les enfants mâchent à qui mieux mieux.

La moelle sucée et machée, recrachée par l’amateur forrme autour de lui un semis de detritées blanc sur lequel s'actionnent les mouches.


 

(29)

La marchande ou plutôt l'acheteuse de verre cassé porte sur son épaule un fléau aux deux bouts duquel sont suspendus deux paniers de bambou ronds recouverts de deux paniers plats en guise de couvercles.

Dans ces différents récipients elle met la verre cassé, les plumes de canard, les veilles boites à thé, les vieux souliers et les cheveux emmêlés qui sont les objets courants de son commerce, ainsi qu’en font foi les variantes suivantes de la chanson chantée par elle ou ses cogénères:

Ai có chai cốc vỡ bán không

Qui a bouteilles verres cassés à vendre?


 

(30)

Ai kẹo vừng, kẹo lạc, kẹo bột, trám, ô mai ra mua


 



(31)

Ai lạc rang ra mua

Qui cacahuètes sort acheter?


 

(32)

Ai nem sốt mua

Qui nem chauds achète?

-

Ai nem mua

Qui achète des nem?


 

(33)

Ces friandises, ces sucreries sont exposées dans un eventaire qu’un gamin porte sur le ventre et qui est en outre muni de pieds pliants permettant de le poser dans les carrefours au moment de la sortie dé écoles.

Le kẹo vừng est une petite rondelle de pâté sucrée recouverte de graines de sésame.

Le kẹo lạc est un nougat aux cacahuètes.

Le kẹo bột est un petit gâteau à la farine de riz et au sucre avec de la guimauve.

Le Trám est un fruit en forme de grosse olive violacée que l’one mange cuit ou confit.

Le ô mai est tantôt un fruit tout entier d’abricot salé et seché, tantôt un bonbon à la réglisse et au gingembre ayant la forme d’une rondelle contenant en son centre un noyau d’abricot cassé dont l’amande mêle sa saveur amère et parfumée à celle des deux autres ingrédients.

On vend aussi parfois sous ce nom un petit cornet de papier.


 

(34)

Le petit crieur de journaux.

-

Trung bắc thực nghiệp khai hỏa


 

(35)

Marchand des serviettes.

-

Ach ter den-telles Madame?


 

(36)

Et pour finir, le marchand de pétrole. Il ne dit rien. Sa sonnette parle pour lui.


 

(37)

Georges Tajasques

-

Les marchands ambulants et les cris de la Rue à Hanoi


 

--------

Chú thích:

(1)       Nguồn: https://fr.wikipedia.org/wiki/Alphonse_Allais

Alphonse Allais, né le 20 octobre 1854 à Honfleur et mort le 28 octobre 1905 à Paris est un journaliste, écrivain et humoriste français.

Célèbre à la Belle Époque, reconnu pour sa plume acerbe et son humour absurde, il est notamment renommé pour ses calembours et ses vers holorimes. Il est parfois considéré comme l'un des plus grands conteurs de langue française.

(2)       Le Captain Cap: ses aventures, ses idées, ses breuvages (55 chroniques dont 32 inédites. Rééditions: La Renaissance du Livre, 1920. Les éditions du Mouflon, 1943. Le Livre-Club du Libraire, 1961. Pauvert, 1963. UGE/10-18, 1963. Centro Editor de América Latina, Buenos Aires, 1972, Garnier Frères, 1978. UGE/10-18, 1985, 1993. La Table Ronde, 1997. Barbès, 2009. Editorial Berenice, 2011. Black Cat Books, 4 vol., 2013, 2014), Paris, Félix Juven, coll. « Collection dorée », 1902, 283 p.

(3)       Sapèque:

Tiền Đông Dương được chia thành các đơn vị piastre, cent/centime và sapèque. Một piastre bằng 100 cent. Một cent lại bằng 2-6 sapèque tùy theo triều đại. Theo tỷ lệ đó thì một đồng bạc Đông Dương có giá trị từ 200 đến 600 đồng tiền cổ truyền của người Việt.[2] Mặt trước của các tờ tiền giấy hoặc tiền kim loại ghi bằng tiếng Pháp. Mặt sau ghi bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Lào và chữ Khmer, song cũng có lúc chỉ ghi chữ Pháp.

Piastre phiên dịch sang chữ Hán thành 元 (nguyên); thông dụng gọi là đồng, hoặc đồng bạc hay thậm chí ngắn gọn là bạc (khi tiền Đông Dương còn theo chế độ bản vị bạc cho đến tháng 5 năm 1930), hoặc đồng vàng (khi tiền Đông Dương theo chế độ bản vị vàng từ tháng 5 năm 1930 về sau). Cent tức sou khi phiên âm sang chữ quốc ngữ thành xu. Người Việt Nam còn có thói quen gọi các tiền mệnh giá hàng chục xu trở lên là cắc (gọi chệch từ âm giác của chữ Hán 角). Về sau, người Pháp viết chính thức bằng chữ quốc ngữ là hào và bằng chữ Hán là 毛 (mao). Sapèque tục gọi là đồng kẽm hay đồng điếu là đơn vị có giá trị nhỏ nhất.

➖➖➖

 

2021-07-03

Sau hai mươi năm - O. Henry

2021-07-03 

Sau hai mươi năm


O. Henry

-

Bản dịch của Thân Trọng Sơn.

Sau phần dịch tiếng Việt là nguyên tác “After Twenty Years”.

Người cảnh sát đi tuần ngược lên đại lộ một cách oai nghiêm. Vẻ oai nghiêm cố hữu chứ không phải để phô trương vì chẳng mấy ai chứng kiến. Lúc này mới chỉ gần mười giờ đêm, nhưng những cơn gió lạnh kèm hơi mưa làm cho đường phố vắng hẳn người.

Thử đẩy mấy cánh cửa, tay xoay chiếc dùi cui bằng những động tác phức tạp và điệu nghệ, thỉnh thoảng quay người đưa mắt cảnh giác nhìn xuống khu phố yên tĩnh, viên cảnh sát là hình ảnh đẹp đẽ của người bảo vệ an ninh.

Khu vực này người ta thường đi ngủ sớm. Thỉnh thoảng thấy có ánh đèn từ một tiệm bán thuốc xì gà hoặc từ một quầy bán thức ăn phục vụ suốt đêm, còn phần lớn những nơi buôn bán đã đóng cửa từ lâu.

Khi đi được nửa đường một dãy nhà, viên cảnh sát bỗng đi chậm lại. Ở ô cửa một cửa hàng bán đồ sắt tối thui có một người đàn ông đứng dựa vào đấy, miệng ngậm điếu xì gà chưa đốt.

Khi viên cảnh sát đến sát bên, người đàn ông vội vàng lên tiếng:

- " Không có gì đâu ông cảnh sát", y nói, giọng chắc nịch, " chỉ là tôi đang chờ một người bạn. Cuộc hẹn từ hai mươi năm trước. Ông nghe có vẻ buồn cười phải không? Vậy để tôi giải thích để ông thấy không có gì khuất tất. Cách đây cũng gần khoảng hai mươi năm, ngay chỗ này có một tiệm ăn tên là Big Joe Brady.

- " Người ta đã phá tiệm đó cách đây năm năm rồi", viên cảnh sát nói.

Người đàn ông đứng ở ô cửa bật que diêm châm điếu xì gà. Ngọn lửa soi rõ một khuôn mặt tái lợt, quai hàm vuông, cặp mắt sắc sảo, có cái sẹo trắng nhỏ gần chân mày phải. Cái kẹp cà vạt nạm một viên kim cương to tướng thật kỳ quặc.

"Tối nay là hai mươi năm rồi", người đàn ông nói, " tôi ăn tối ở tiệm Big Joe Brady này với Jimmy Wells, thằng bạn thân nhất của tôi, một tay tuyệt nhất trần đời. Hắn và tôi cùng lớn lên ở New York, như hai anh em ruột. Lúc đó tôi 18 tuổi, và hắn hai mươi. Sáng hôm sau tôi phải đi miền Tây để kiếm sống. Không thể nào  kéo Jimmy ra khỏi đất New York, bởi hắn nghĩ không đâu hơn được nơi này. Rồi đêm đó chúng tôi đã giao ước với nhau là sẽ gặp lại tại nơi này đúng hai mươi năm sau,  đúng ngày này, giờ này, dù cho hoàn cảnh sinh sống như thế nào, dù cho đường sá xa xôi cách trở ra sao. Chúng tôi tin rằng trong vòng hai mươi năm, số phận mỗi đứa đã an bài, cơ đồ cũng đã ổn định, dù là gì chăng nữa."

- " Nghe thú vị đấy nhỉ ", viên cảnh sát nói. " Tuy nhiên, tôi thấy thời gian giữa hai cuộc gặp có hơi lâu. Anh không có tin tức gì của bạn từ lúc ra đi sao?"

- " Có chớ. Chúng tôi có liên lạc một thời gian", người kia nói, " nhưng một hai năm sau thì bặt tin nhau. Ông cũng thấy đó, miền Tây là nơi có quá nhiều hứa hẹn, còn tôi phải bươn chãi kiếm sống. Nhưng tôi biết Jimmy sẽ gặp tôi ở đây nếu hắn còn sống, vì hắn là thằng bạn chân thật và trung thành nhất trên đời. Hắn sẽ không bao giờ quên. Tôi vượt cả ngàn cây số để tới đây đêm nay và cũng bõ công nếu bạn tôi cũng tới."

Người đứng chờ rút trong túi ra chiếc đồng hồ rất sang, vỏ nạm hột xoàn.

- " Mười giờ kém ba phút rồi! ", hắn nói to. " Hồi ấy, lúc chúng tôi chia tay ở quán này, chính xác là mười giờ."

- " Anh làm ăn khấm khá ở miền Tây chứ? " viên cảnh sát hỏi.

- " Còn phải nói! Tôi hy vọng Jimmy được một nửa như thế. Hắn vẫn thuộc loại chậm chạp, tuy vậy vẫn là bạn tốt của tôi. Tôi đã phải đánh vật với nhiều tay sừng sỏ nhất mới kiếm được chút đỉnh bây giờ đây chứ! Ở New York con người thường ù lì. Có đến miền Tây mới sắc sảo được."

Viên cảnh sát xoay xoay cái dùi cui và bước tới vài bước.

      - " Tôi đi đây. Mong là bạn anh sẽ đến. Nếu anh ta không đến vào đúng mười già anh có bỏ đi không?"

- "Ồ không, người kia nói. Ít nhất tôi cũng đợi hắn nửa giờ. Nếu Jimmy còn sống, hắn sẽ đến đây trong khoảng thời gian đó. Xin chào ông cảnh sát."

- " Chào anh! ", viên cảnh sát nói và tiếp tục cuộc tuần tra, đẩy thử cửa mỗi nhà khi đi ngang qua.

Lúc này trời đổ cơn mưa bụi lạnh lẽo và những làn gió ngập ngừng đã nổi lên thành từng cơn. Một vài khách bộ hành còn quanh quẩn trong khu phố vội rảo bước, âm thầm lặng lẽ, cổ áo kéo cao, tay đút vào túi. Và ở cửa tiệm bán đồ sắt, người đàn ông đã vượt qua cả ngàn cây số để giữ đúng một lời hẹn vu vơ đến mức vô lý với người bạn thời trẻ, vẫn đứng hút xì gà chờ đợi.

Được chừng hai mươi phút thì một người cao lớn mặc áo khoác dài, cổ áo dựng đứng tận mang tai, từ phía bên kia đường vội vã băng qua. Anh ta chạy thẳng đến chỗ người đàn ông đứng chờ.

- " Cậu đấy hả, Bob?" Anh ta hỏi, nghi hoặc.

- "Ôi, cậu đấy phải không, Jimmy Wells? ", người đàn ông đứng ở cửa kêu lên.

- " Trời đất ơi! ", người mới tới reo lên và nắm chặt cả hai bàn tay người kia. "Đúng là Bob đây rồi. Tớ chắc chắn sẽ gặp cậu ở đây nếu cậu còn sống. Hưm hưm.. , hai mươi năm quả là dài. Bob này, cái tiệm cũ mất rồi, tớ ước chi nó vẫn còn đó để tớ với cậu còn ăn tối một bữa nữa với nhau. Đất miền Tây đãi cậu ra sao hả bạn hiền? "

- " Tuyệt! Miền Tây đã cho tớ những gì tớ mong muốn. Cậu thay đổi nhiều đấy, Jimmy. Tớ không nghĩ cậu lại cao thêm lên đến năm sáu phân.

- "Ừ, sau năm hai mươi tuổi tớ có cao thêm một chút.

- "Ở New York cậu làm ăn khá chứ, Jimmy?"

- " Tàm tạm thôi. Tớ làm ở một công sở của thành phố. Đi thôi, Bob, tụi mình sẽ tới một chỗ tớ quen, rồi cùng hàn huyên chuyện ngày xưa."

Hai người khoác tay nhau đi ngược đường phố. Người từ miền Tây tới, do thành công nên tỏ ra tự cao, bắt đầu kể qua quá trình làm ăn của mình. Còn người kia, thân hình chìm trong chiếc áo khoác, chăm chú lắng nghe.

Ở góc đường có một nhà thuốc, đèn điện sáng trưng. Khi họ bước tới chỗ ánh sáng chói loà ấy, cả hai người cùng lúc quay lại nhìn chằm chằm vào mặt nhau. Người từ miền Tây đến bỗng dừng lại và rút tay ra.

- " Anh đâu phải là Jimmy Wells! ", hắn cáu kỉnh nói. " Hai mươi năm dài thật nhưng cũng chưa đủ để thay đổi mũi của một con người, từ mũi cao đến mũi tẹt như thế kia được.

- "Đôi khi thời gian ấy cũng đủ để biến một người chân thực thành kẻ bất lương! " người cao lớn nói. " Anh đã trong tình trạng bị bắt từ 10 phút rồi, Bob "lành"ạ. Chicago nghĩ là có thể anh sẽ qua chỗ chúng tôi nên đã điện báo cho chúng  tôi là họ muốn tán gẫu với anh một chút. Yên mà đi thôi chứ? Vậy là biết điều đó. Bây giờ, trước khi về đồn, đây là mấy chữ mà người ta nhờ tôi trao tận tay anh. Anh có thể đọc ngay ở đây, chỗ cửa sổ này. Cảnh sát tuần tra Wells gởi cho anh đó."

Người từ miền Tây đến mở miếng giấy nhỏ người kia đưa. Khi bắt đầu đọc, tay hắn vẫn vững như thường, nhưng khi đọc xong thì hơi run run. Mảnh giấy ghi ngắn gọn thế này:

"Bob. Tớ đã đến chỗ hẹn đúng giờ. Khi cậu bật diêm hút thuốc, tớ đã nhận ra khuôn mặt người đang bị truy nã ở Chicago. Làm sao tớ lại có thể tự mình làm việc này nên đành phải nhờ một nhân viên mặc thường phục thực hiện đó Bob à. Jimmy."

--------

➖➖➖


 

A f t e r T w e n t y Y e a r s

THE COP MOVED ALONG THE STREET, LOOKING strong and important. This was the way he always moved. He was not thinking of how he looked. There were few people on the street to see him. It was only about ten at night, but it was cold. And there was a wind with a little rain in it.

He stopped at doors as he walked along, trying each door to be sure that it was closed for the night. Now and then he turned and looked up and down the street. He was a fine-looking cop, watchful, guarding the peace.

People in this part of the city went home early. Now and then you might see the lights of a shop or of a small restaurant. But most of the doors belonged to business places that had been closed hours ago.

Then the cop suddenly slowed his walk. Near the door of a darkened shop a man was standing. As the cop walked toward him, the man spoke quickly.

“It’s all right, officer,” he said. “I’m waiting for a friend. Twenty years ago we agreed to meet here tonight. It sounds strange to you, doesn’t it? I’ll explain if you want to be sure that everything’s all right. About twenty years ago there was a restaurant where this shop stands. ‘Big Joe’ Brady’s restaurant.”

“It was here until five years ago,” said the cop.

The man near the door had a colorless square face with bright eyes, and a little white mark near his right eye. He had a large jewel in his necktie.

“Twenty years ago tonight,” said the man, “I had dinner here with Jimmy Wells. He was my best friend and the best fellow in the world. He and I grew up together here in New York, like two brothers. I was eighteen and Jimmy was twenty. The next morning I was to start for the West. I was going to find a job and make a great success. You couldn’t have pulled Jimmy out of New York. He thought it was the only place on earth.

“We agreed that night that we would meet here again in twenty years. We thought that in twenty years we would know what kind of men we were, and what future waited for us.”

“It sounds interesting,” said the cop. “A long time between meetings, it seems to me. Have you heard from your friend since you went West?”

“Yes, for a time we did write to each other,” said the man. “But after a year or two, we stopped. The West is big. I moved around everywhere, and I moved quickly. But I know that Jimmy will meet me here if he can. He was as true as any man in the world. He’ll never forget. I came a thousand miles to stand here tonight. But I’ll be glad about that, if my old friend comes too.”

The waiting man took out a fine watch, covered with small jewels.

“Three minutes before ten,” he said. “It was ten that night when we said goodbye here at the restaurant door.”

“You were successful in the West, weren’t you?” asked the cop.

“I surely was! I hope Jimmy has done half as well. He was a slow mover. I’ve had to fight for my success. In New York a man doesn’t change much. In the West you learn how to fight for what you get.”

The cop took a step or two.

“I’ll go on my way,” he said. “I hope your friend comes all right. If he isn’t here at ten, are you going to leave?”

“I am not!” said the other. “I’ll wait half an hour, at least. If Jimmy is alive on earth, he’ll be here by that time. Good night, officer.”

“Good night,” said the cop, and walked away, trying doors as he went.

There was now a cold rain falling and the wind was stronger. The few people walking along that street were hurrying, trying to keep warm. And at the door of the shop stood the man who had come a thousand miles to meet a friend. Such a meeting could not be certain. But he waited.

About twenty minutes he waited, and then a tall man in a long coat came hurrying across the street. He went directly to the waiting man.

“Is that you, Bob?” he asked, doubtfully.

“Is that you, Jimmy Wells?” cried the man at the door.

The new man took the other man’s hands in his. “It’s Bob! It surely is. I was certain I would find you here if you were still alive. Twenty years is a long time. The old restaurant is gone, Bob. I wish it were here, so that we could have another dinner in it. Has the West been good to you?”

“It gave me everything I asked for. You’ve changed, Jimmy. I never thought you were so tall.”

“Oh, I grew a little after I was twenty.”

“Are you doing well in New York, Jimmy?”

“Well enough. I work for the city. Come on, Bob, We’ll go to a place I know, and have a good long talk about old times.”

The two men started along the street, arm in arm. The man from the West was beginning to tell the story of his life. The other, with his coat up to his ears, listened with interest.

At the corner stood a shop bright with electric lights. When they came near, each turned to look at the other’s face.

The man from the West stopped suddenly and pulled his arm away.

“You’re not Jimmy Wells,” he said. “Twenty years is a long time, but not long enough to change the shape of a man’s nose.”

“It sometimes changes a good man into a bad one,” said the tall man. “You’ve been under arrest for ten minutes, Bob. Chicago cops thought you might be coming to New York. They told us to watch for you. Are you coming with me quietly? That’s wise. But first here is something I was asked to give you. You may read it here at the window. It’s from a cop named Wells.”

The man from the West opened the little piece of paper. His hand began to shake a little as he read.

 

“Bob: I was at the place on time. I saw the face of the man wanted by Chicago cops. I didn’t want to arrest you myself. So I went and got another cop and sent him to do the job.

JIMMY.”

➖➖➖

Việt Điện U Linh Tập - Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) - Lý Tế Xuyên

 2026-10-10 Việt Điện U Linh Tập Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) ...